Luật Nghinh Phong

Directions Website

Luật Nghinh Phong Điện thoại liên hệ: 0901.28.28.86 Nhị Đồng 2, P. Dĩ An, Tp. Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
🏬 VP giao dịch: Tầng 01 số 24/23 đường số 9, Kp.1, P. Hiệp Bình Chánh, Tp.

📣 Công ty luật Nghinh Phong hoạt động chuyên sâu về các lĩnh vực: Dân sự; Đất đai, nhà ở, xây dựng; Di chúc, thừa kế; Hôn nhân & gia đình; Lao động; Kinh doanh - Thương mại; Sở hữu trí tuệ; Tài chính, bảo hiểm, ngân hàng; Kế toán, thuế; Hành chính; Hình sự; Thi hành án.
💪 Nhận tư vấn dịch vụ pháp lý thường xuyên; Nhận đại diện theo uỷ quyền; Nhận bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự trong các vụ án tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh - thương mại, lao động, hành chính; Nhận bào chữa cho các bị can, bị cáo trong vụ án hình sự.
🎁 Giải quyết nhanh chóng, kịp thời; Chi phí hợp lý, tiết kiệm; Quy trình làm việc rõ ràng; Báo cáo tiến độ đầy đủ.
🏆TẬN TÂM - UY TÍN- CHUYÊN NGHIỆP LÀM NÊN THƯƠNG HIỆU KHÁC BIỆT VÀ ĐÁNG TIN CẬY CỦA NGHINH PHONG.
-------------------------
☎️ 0901.28.28.86
🏆 https://luatnghinhphong.vn/
✉️ [email protected]
🏬 Trụ sở chính: Tầng 01 Toà nhà VietPhone Building-1, số 64 Nguyễn Đình Chiểu, P. Đa Kao, Q.1, Tp.HCM.
🏬 Chi nhánh: 32 đường E, Kp. Thủ Đức, Tp.HCM.

30/10/2026

👉 NỘI DUNG, HIỆU LỰC PHÁP LUẬT VÀ THỦ TỤC GỬI QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH ĐƯỢC QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO?

📍 Lưu ý quan trọng: Video được tạo dựng bởi AI theo chủ đề admin muốn chia sẻ, nội dung và hình thức của video này tuy chưa phải là hoàn thiện nhất và chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót không đáng có, nhưng với tinh thần cầu thị, ham học hỏi, Admin xin tiếp thu và lĩnh hội mọi ý kiến đóng góp phản hồi từ quý vị để sớm khắc phục nhằm hoàn thiện thêm cho video, góp phần phục vụ chất lượng tốt nhất cho những lần sau.
Xin trân trọng cảm ơn!

ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ TRƯỜNG HỢP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÔ HIỆU TOÀN BỘ👉 Tình huống pháp lý:Theo quy định t...
30/10/2026

ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ TRƯỜNG HỢP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÔ HIỆU TOÀN BỘ

👉 Tình huống pháp lý:

Theo quy định tại Điều 402 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương ứng với Điều 398 Bộ luật Dân sự năm 2015) thì hợp đồng dân sự có thể có các nội dung sau đây: (1) Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm; (2) Số lượng, chất lượng; (3) Giá, phương thức thanh toán; (4) Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; (5) Quyền, nghĩa vụ của các bên; (6) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; (7) Phạt vi phạm hợp đồng; (8) Các nội dung khác. Thực tế có trường hợp các bên giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có đầy đủ các nội dung của hợp đồng như quy định tại Điều 402 Bộ luật Dân sự năm 2005 như trên (bao gồm thỏa thuận về giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất). Tuy nhiên, khi xảy ra tranh chấp, các bên đều thừa nhận giá ghi trên hợp đồng là giá thấp hơn giá chuyển nhượng thực tế nhưng không thống nhất về giá chuyển nhượng thật là bao nhiêu, không xuất trình được chứng cứ chứng minh giá trị thật của hợp đồng chuyển nhượng. Có quan điểm cho rằng trường hợp này hợp đồng đã phát sinh hiệu lực pháp luật, Tòa án phải giải quyết buộc bên nhận chuyển nhượng tiếp tục thanh toán giá trị còn lại (nếu chưa thanh toán đủ tiền); nếu bên chuyển nhượng có yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng thì chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng do bên nhận chuyển nhượng vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Quan điểm khác cho rằng trong trường hợp này, hợp đồng ghi giá thấp hơn là hợp đồng giả tạo nhằm che giấu hợp đồng chuyển nhượng có giá trị cao hơn nên hợp đồng giả tạo bị vô hiệu; hợp đồng chuyển nhượng bị che giấu không làm rõ được điều khoản về giá, trong khi giá của hợp đồng là điều khoản bắt buộc đối với hợp đồng chuyển nhượng, do vậy hợp đồng bị che giấu cũng vô hiệu.

👉 Nội dung đề xuất án lệ:

“[3] Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này... đồng thời khoản 1 Điều 410 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 127 đến Điều 138 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu”. Từ những tình tiết tại đoạn [1] và [2] nói trên, có cơ sở xác định giá ghi trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng ngày 16/12/2014 là giả tạo nhằm che giấu Hợp đồng giá cao hơn (để “chịu thuế thấp”). Mặt khác, theo quy định tại khoản 3 Điều 402, khoản 5 Điều 698 Bộ luật dân sự năm 2005, giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là một trong những nội dung bắt buộc của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; quá trình tranh tụng, các bên không thống nhất về giá chuyển nhượng thật là bao nhiêu, không xuất trình tài liệu chứng cứ xác định giá thật của hợp đồng chuyển nhượng, nên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên vô hiệu toàn bộ.”

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây: https://luatnghinhphong.vn/articles/e-xuat-an-le-ve-truong-hop-hop-ong-chuyen-nhuong-quyen-su-dung-at

-------------------------

30/10/2026

👉 THỜI HẠN, NỘI DUNG QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI LẦN ĐẦU VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI LẦN HAI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ ĐƯỢC QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO?

📍 Lưu ý quan trọng: Video được tạo dựng bởi AI theo chủ đề admin muốn chia sẻ, nội dung và hình thức của video này tuy chưa phải là hoàn thiện nhất và chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót không đáng có, nhưng với tinh thần cầu thị, ham học hỏi, Admin xin tiếp thu và lĩnh hội mọi ý kiến đóng góp phản hồi từ quý vị để sớm khắc phục nhằm hoàn thiện thêm cho video, góp phần phục vụ chất lượng tốt nhất cho những lần sau.
Xin trân trọng cảm ơn!

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 13/TB-VC2-HC NGÀY 31/01/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ VỤ ÁN HÀNH C...
30/10/2026

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 13/TB-VC2-HC NGÀY 31/01/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH “KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI”

👉 Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

1. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quyết định khởi kiện không đúng dẫn đến Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện

Ngày 09/10/2020, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố M có Văn bản số 164/CV-TTPTQĐ có nội dung:“Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố M ghi nhận ý kiến gia đình và báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của UBND thành phố xem xét giải quyết đối với trường hợp của bà Nguyễn Thị H”.

Ngày 16/5/2022, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố M có Văn bản số 99/CV-TTPTQĐ, có nội dung: “Qua nội dung đơn, Nhà nước thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tài sản trên đất cho hộ bà Lữ Thị G cùng những người thừa kế của ông Nguyên Văn T, nên UBND thành phố ban hành Quyết định giao “Thửa đất số 151 (thửa cũ A-34); tờ bản đồ số 24 với diện tích 77,6m’ đất ở lâu dài tại Khu tái định cư 47 Lý Tự Trọng, phường 1, thành phố M” cho hộ bà Lữ Thị G cùng những người thừa kế của ông Nguyễn Văn T là đúng quy định.

Qua xác minh trong số những người thừa kế của ông Nguyễn Văn T thì có hộ bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn D là những người thừa kế của ông Nguyễn Văn T thực tế sinh sống tại vị trí đất bị thu hồi, nên có quyền lợi chung đối với thửa đất trên theo quy định của Pháp luật”.

Các văn bản trên đều của Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố M trả lời cho bà Nguyễn Thị H về vấn đề cấp đất tái định cư. Tuy nhiên, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố M không có thẩm quyền cấp đất tái định cư mà chỉ có chức năng tham mưu cho UBND thành phố M xem xét, quyết định. Do đó những văn bản này không làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị H nên không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính theo quy định tại Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết là không đúng quy định pháp luật nên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về yêu cầu hủy Công văn số 164/CV-TTPTQĐ ngày 09/10/2020 và Công văn số 99/CV-TTPTQĐ ngày 16/6/2022 của Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố M.

2. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng pháp luật không chính xác

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H cho rằng bả có đủ điều kiện để được giao đất tái định cư nhưng UBND thành phố M lại giao thửa đất tái định cư tại địa chỉ số 47 đường Lý Tự Trọng, phường T, thành phố M cho bà Lữ Thị G cùng những người thừa kế của ông Nguyễn Văn T là không đúng, thì thấy:

Vợ chồng cụ Lữ Thị G và cụ Nguyễn Văn T tạo lập được khối tài sản chung là thửa đất có diện tích 50,8m2 thuộc thửa số 50, tờ bản đồ số 15 tọa lạc tại số 29 đường Hùng Vương, phường T, thành phố M. Cụ T chết năm 2013 không có di chúc nên nhà đất tại số 29 Hùng Vương là tài sản chung của bà G và các con, tài sản này chưa được chia theo pháp luật.

Ngày 12/5/2022, UBND thành phố M ban hành Quyết định số 2850/QĐ- UBND “giao cho hộ Lữ Thị G cùng những người thừa kế của ông Nguyễn Văn T, địa chỉ thường trú: Phường T, thành phố M, 01 thửa đất tại Khu tải định cư 47 Lý Tự Trọng, phường T, thành phố M để sử dụng vào mục đích đất ở, cụ thể như sau: Thửa đất số 151 (thửa cũ A-34), tờ bản đồ 24, diện tích 77,6m. Hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất".

Tại khoản 1 Điều 212 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định sở hữu chung của các thành viên gia đình quy định: “Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan".

Tại Điều 15 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất quy định như sau:

“1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất chung có đồng quyền sử dụng đất, khi Nhà nước thu hồi đất được bồi thường theo diện tích đất thuộc quyền sử dụng; nếu không có giấy tờ xác định diện tích đất thuộc quyền sử dụng riêng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thì bồi thường chung cho các đối tượng có đồng quyền sử dụng đất".

Đối chiếu với những quy định trên, thì sau khi Nhà nước thu hồi toàn bộ nhà đất số 29 đường Hùng Vương, phường T, xét thấy hộ gia đình bà G có nhiều thành viên nên UBND thành phố M đã giao 02 lô đất là thừa số 48, tờ bản đồ số 21 và thửa đất số 151, tờ bản đồ 24 với hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất. Do thửa đất được cấp tái định cư xuất phát từ việc thu hồi tài sản chung nên 02 thửa đất nêu trên cũng là tài sản chung của bà G và các con. Do đó, UBND thành phố M đã “giao cho hộ Lữ Thị G cùng những người thừa kế của ông Nguyễn Văn T” là đúng quy định pháp luật. Trong trường hợp bà Nguyễn Thị H với cụ G và những người thừa kế của cụ T không thể thỏa thuận khi phân chia 02 thửa đất tái định cư, thì bà H có quyền khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp đất tại Tòa án, do đó Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của bà Nguyễn Thị H.

Trong vụ án này, Tòa án nhân dân tỉnh N áp dụng căn cứ pháp luật không chính xác, đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H là không đúng nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N đã kháng nghị phúc thẩm và Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện, trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N, chấp nhận kháng cáo của UBND thành phố M và kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, sửa toàn bộ Bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.

Trên đây là vi phạm của Tòa án nhân dân tỉnh N trong việc giải quyết vụ án hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N qua công tác kiểm sát xét xử đã ban hành kháng nghị có căn cứ pháp luật nên cần phát huy trong thời gian tiếp theo. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trong khu vực cùng tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính tương tự./.

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây: https://luatnghinhphong.vn/articles/thong-bao-rut-kinh-nghiem-so-13tb-vc2-hc-ngay-31012024-cua-vien-kiem-sat-nhan-dan-cap-cao-tai-a-nang-ve-vu-an-hanh-chinh-khieu-kien-quyet-inh-hanh-chinh-trong-linh-vuc-quan-ly-at-ai

-------------------------

30/10/2026

👉 TÌM HIỂU ÁN LỆ SỐ 13/2017/AL VỀ HIỆU LỰC THANH TOÁN CỦA THƯ TÍN DỤNG (L/C) TRONG TRƯỜNG HỢP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ LÀ CƠ SỞ CỦA L/C BỊ HỦY BỎ

📍 Lưu ý quan trọng: Video được tạo dựng bởi AI theo chủ đề admin muốn chia sẻ, nội dung và hình thức của video này tuy chưa phải là hoàn thiện nhất và chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót không đáng có, nhưng với tinh thần cầu thị, ham học hỏi, Admin xin tiếp thu và lĩnh hội mọi ý kiến đóng góp phản hồi từ quý vị để sớm khắc phục nhằm hoàn thiện thêm cho video, góp phần phục vụ chất lượng tốt nhất cho những lần sau.
Xin trân trọng cảm ơn!

29/10/2026

👉 CĂN CỨ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THEO THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM ĐƯỢC QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO?

📍 Lưu ý quan trọng: Video được tạo dựng bởi AI theo chủ đề admin muốn chia sẻ, nội dung và hình thức của video này tuy chưa phải là hoàn thiện nhất và chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót không đáng có, nhưng với tinh thần cầu thị, ham học hỏi, Admin xin tiếp thu và lĩnh hội mọi ý kiến đóng góp phản hồi từ quý vị để sớm khắc phục nhằm hoàn thiện thêm cho video, góp phần phục vụ chất lượng tốt nhất cho những lần sau.
Xin trân trọng cảm ơn!

ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ VIỆC CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀ CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN KHÔNG CHUYÊN TRÁCH👉 Tình huố...
29/10/2026

ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ VIỆC CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀ CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN KHÔNG CHUYÊN TRÁCH

👉 Tình huống pháp lý:

Theo quy định tại khoản 6 Điều 192 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với tổ chức công đoàn thì: “Khi người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách đang trong nhiệm kỳ công đoàn mà hết hạn hợp đồng lao động thì được gia hạn hợp đồng lao động đã giao kết đến hết nhiệm kỳ.” Điều 25 Luật Công đoàn năm 2012 quy định về bảo đảm cho cán bộ công đoàn: “1. Trường hợp hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hết hạn mà người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách đang trong nhiệm kỳ thì được gia hạn hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc đến hết nhiệm kỳ…”. Tuy nhiên, thực tế có trường hợp người sử dụng lao động đã gia hạn hợp đồng lao động đã giao kết đến hết nhiệm kỳ với người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách, nhưng trong thời gian gia hạn, người lao động lại ứng cử và trúng cử Chủ tịch Ban chấp hành công đoàn cơ sở, mà việc ứng cử và trúng cử là không hợp lệ. Vậy trường hợp này khi hết hạn hợp đồng, người sử dụng lao động ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng với người lao động có đúng không?

👉 Nội dung đề xuất án lệ:

“[3] Tại thời điểm ngày 24/10/2016, khi Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời tiến hành Đại hội thì hợp đồng lao động của ông A chỉ còn thời hạn 01 tháng, nhưng ông A và Công đoàn Khu công nghiệp vẫn đưa ông A vào danh sách bầu cử Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở để bầu là không phù hợp với Hướng dẫn số 398/HD-TLĐ ngày 28/3/2012 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là: “Người tham gia Ban Chấp hành ngoài đảm bảo theo tiêu chuẩn, còn phải đáp ứng các điều kiện sau: về tái cử ban chấp hành: Có đủ tuổi công tác để đảm nhiệm ít nhất 1/2 nhiệm kỳ”. Do đó, việc ông A trúng cử Chủ tịch Ban chấp hành Công đoàn cơ sở Công ty K nhiệm kỳ 2016-2021 và được Công đoàn Khu công nghiệp ban hành Quyết định số 138/QĐCN-CĐKCN ngày 27/10/2016 công nhận là không hợp lệ về tiêu chuẩn người ứng cử, người trúng cử.

[4] Sau khi hết thời hạn gia hạn hợp đồng lao động, Công ty K ban hành Quyết định số 05/2016-QĐNV-KD ngày 25/11/2016 chấm dứt hợp đồng lao động với ông A là đúng quy định tại khoản 1 Điều 36 của Bộ luật Lao động. Do đó, việc ông A khởi kiện cho rằng việc Công ty K ban hành Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông trái pháp luật là không có cơ sở chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A là có căn cứ. Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A là không đúng quy định của pháp luật.”

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây: https://luatnghinhphong.vn/articles/e-xuat-an-le-ve-viec-cham-dut-hop-ong-lao-ong-oi-voi-nguoi-lao-ong-la-can-bo-cong-oan-khong-chuyen-trach

-------------------------

29/10/2026

👉 THỜI HIỆU, HÌNH THỨC VÀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ ĐƯỢC QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO?

📍 Lưu ý quan trọng: Video được tạo dựng bởi AI theo chủ đề admin muốn chia sẻ, nội dung và hình thức của video này tuy chưa phải là hoàn thiện nhất và chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót không đáng có, nhưng với tinh thần cầu thị, ham học hỏi, Admin xin tiếp thu và lĩnh hội mọi ý kiến đóng góp phản hồi từ quý vị để sớm khắc phục nhằm hoàn thiện thêm cho video, góp phần phục vụ chất lượng tốt nhất cho những lần sau.
Xin trân trọng cảm ơn!

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 82/TB-VKSTC NGÀY 27/4/2023 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRONG VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG...
29/10/2026

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 82/TB-VKSTC NGÀY 27/4/2023 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRONG VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI “TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG”

👉 Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Vấn đề cần rút kinh nghiệm trong vụ án này là việc xác định phạm vi nghĩa vụ bảo đảm của tài sản thế chấp là nhà đất 288/7 Lê Văn Q của bên thứ ba.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 16/2021/DS-GĐT ngày 13/9/2021 của Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao nhận định:

Tại khoản 2 Điều 1 của HĐTC số 77 giữa bên nhận bảo đảm là Ngân hàng E (bên A), bên bảo đảm là ông D, bà B (bên B), bên được bảo lãnh là Công ty QM (bên C) có nội dung: Nghĩa vụ được bảo đảm của bên C và (hoặc) bên B đối với các khoản nợ gốc, số dư bảo lãnh (chưa bao gồm lãi, tiền phạt và các chi phí liên quan khác) tại mọi thời điểm là 16.296.000.000 đồng.

Và tại đoạn 2 của khoản 2 này thể hiện: “tài sản trên được dùng để đảm bảo cho 2 nghĩa vụ thanh toán tại Ngân hàng E với tổng số tiền là 16.296.000.000 đồng”.

Để từ đó cho rằng, trách nhiệm bảo lãnh theo HĐTC số 77 của ông D, bà B chỉ giới hạn trách nhiệm bảo lãnh của ông D, bà B bằng 16.296.000.000 đồng và cho rằng Bản án phúc thẩm đã không giới hạn trách nhiệm bảo lãnh khi tuyên ông D, bà B chịu trách nhiệm số tiền 31.888.935.399 đồng, nên đã sửa một phần bản án phúc thẩm, là không đúng. Bởi vì, xét toàn bộ HDTC số 77 xác định nghĩa vụ bên B và bên C:

Khoản 1 Điều 1 HĐTC số 77 thể hiện: Nghĩa vụ được bảo đảm là các nghĩa vụ của bên C và (hoặc) bên B (nếu có) tại bên A bao gồm nhưng không giới hạn nợ gốc, nợ lãi, lãi quả hạn... theo hợp đồng này và các hợp đồng tín dụng, hợp đồng cấp bảo lãnh... sau:

- Một phần Hợp đồng tín dụng số 1403-LAV-201200351 ngày 14/6/2012.

-Hợp đồng tín dụng số 1403–LAV–200900736 ngày 14/12/2009 và các biên bản sửa đổi bổ sung.

Nội dung này xác định trách nhiệm của bên C và (hoặc) bên B đối với bên A bao gồm nhưng không giới hạn nợ gốc, nợ lãi, lãi quá hạn... đối với 02

HĐTD nêu trên.

Tiếp đó, tại Điều 3 HĐTC số 77 thể hiện về giá trị tài sản bảo đảm được tạm tính là 16.296.000.000d. “Việc thỏa thuận giá trị trên chỉ để làm cơ sở xác định mức cấp tín dụng, trong trường hợp phải xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ thì toàn bộ số tiền thu được sẽ dùng để thanh toán toàn bộ nghĩa vụ trả nợ còn lại của bên C, bên B tại bên A”.

Như vậy, tổng nghĩa vụ bảo đảm, bao gồm gốc và nợ lãi phát sinh đến ngày 27/11/2019 theo một phần HĐTD số 1403-LAV-201200351 và HĐTD số 1403-LAV-200900736 nêu trên là 31.888.935.399 đồng và được bảo đảm thực hiện bằng tài sản thế chấp là nhà đất tại 288/7 Lê Văn Q.

Bản án phúc thẩm số 746/2020/KDTM-PT ngày 05/8/2020, TAND thành phố H tuyên nghĩa vụ bảo đảm theo HĐTC số 77 cho số nợ vay bao gồm nợ vay và nợ lãi phát sinh (lãi trong hạn, lãi quá hạn) của 02 HĐTD với số tiền là 31.888.935.399 đồng là phù hợp với thỏa thuận của các bên, theo quy định của pháp luật, nên có căn cứ, cần giữ nguyên Bản án phúc thẩm này.

Trong công tác kiểm sát việc giải quyết vụ việc KDTM, VKSND cấp sơ thẩm đã kịp thời phát hiện vi phạm về phạm vi trách nhiệm bảo đảm nên đã ban hành kháng nghị phúc thẩm được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận, nhưng lại bị TAND cấp cao sửa bản án phúc thẩm. Vụ án phải tiếp tục giai đoạn tố tụng nữa lên đến TAND tối cao, do vi phạm của TAND cấp cao cần được rút kinh nghiệm.

Trên đây là một số vấn đề cần rút kinh nghiệm trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết vụ án KDTM, VKSND tối cao thấy cần thông báo đến VKSND các cấp để rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng kháng nghị và chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án KDTM về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”./.

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây: https://luatnghinhphong.vn/articles/thong-bao-rut-kinh-nghiem-so-82tb-vkstc-ngay-2742023-cua-vien-kiem-sat-nhan-dan-toi-cao-trong-vu-an-kinh-doanh-thuong-mai-tranh-chap-hop-ong-tin-dung

-------------------------

TAND tối cao hướng dẫn về việc xử lý người có hành vi dùng dao giết người và việc áp dụng quy định pháp luật có lợi để x...
29/10/2026

TAND tối cao hướng dẫn về việc xử lý người có hành vi dùng dao giết người và việc áp dụng quy định pháp luật có lợi để xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho người bị kết án

Address

Tầng 01 Tòa Nhà VietPhone Building-1, Số 64 Nguyễn Đình Chiểu, P. ĐaKao, Q. 1, Tp. HCM
Ho Chi Minh City

Opening Hours

Monday 08:00 - 12:00
13:30 - 17:30
Tuesday 08:00 - 12:00
13:30 - 17:30
Wednesday 08:00 - 12:00
13:30 - 17:30
Thursday 08:00 - 12:00
13:30 - 17:30
Friday 08:00 - 12:00
13:30 - 17:30

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật Nghinh Phong posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share