Ls. Khoẻ - Luật sư Vĩnh Long

Call Directions Website Contact the business

Ls. Khoẻ - Luật sư Vĩnh Long Ls.Ths Phạm Ngọc Khoẻ

Tư vấn pháp luật
Đại diện tham gia tố tụng
Bào chữa

TUỔI ĐỜI, TUỔI NGHỀ VÀ CÁI TÂM CỦA NGƯỜI LUẬT SƯ(Tâm sự một chút nhân sắp đến ngày Truyền Thống Luật sư Việt Nam 10/10)M...
09/10/2026

TUỔI ĐỜI, TUỔI NGHỀ VÀ CÁI TÂM CỦA NGƯỜI LUẬT SƯ
(Tâm sự một chút nhân sắp đến ngày Truyền Thống Luật sư Việt Nam 10/10)

Mấy bữa trước có khách hàng nhắn tin hỏi tư vấn, trao đổi một chút thì hỏi mình là: “Luật sư có bao nhiêu năm kinh nghiệm rồi?” mình trả lời mình được cấp chứng chỉ hành nghề từ năm 2017. Sau đó thì không thấy khách nhắn lại luôn 🥲.

Không rõ họ có tìm được người phù hợp hơn chưa, hay thấy mình còn trẻ nên chưa yên tâm. Chuyện như vậy gặp cũng nhiều, thành ra không có lấn cấn gì. Người ta có việc mới tìm đến luật sư, muốn chọn một người già dặn, nhiều kinh nghiệm để gửi gắm cũng là điều bình thường.

Nhưng từ câu hỏi ấy, mình lại nghĩ về tuổi đời và tuổi nghề.

Mình sinh năm 1993, được cấp chứng chỉ hành nghề năm 2017. Trước đó, từ khoảng năm 2013–2014, mình đã bắt đầu làm việc ở Công ty Luật và sống bằng công việc ấy (cho đến hiện tại). Những năm tháng trước khi trở thành luật sư đương nhiên không thể tính thành thời gian hành nghề luật sư, nhưng đó là một phần trong quá trình học và gắn bó với nghề.

Đến nay, tuổi đời có thể vẫn còn trẻ, còn tuổi nghề thì cũng đã có một quãng đường. Dù vậy, mình nghĩ số năm chỉ nói được một phần. Phần còn lại là trong những năm ấy, mình đã làm nghề như thế nào.

Cùng chín năm hành nghề, mỗi người sẽ có những trải nghiệm và sự trưởng thành khác nhau. Làm nhiều giúp mình quen việc, nhưng muốn hiểu việc thì phải chịu khó quan sát, suy nghĩ và nhìn lại cả những điều mình làm chưa tốt. Nếu cứ làm theo thói quen, kinh nghiệm đôi khi cũng trở thành thứ khiến mình ngại thay đổi.

Mình đi làm nhưng vẫn tiếp tục học. Học từ đồng nghiệp, từ người tiến hành tố tụng, từ luật sư phía bên kia và từ chính đương sự. Có những điều khách hàng kể rất bình thường, nhưng nghe kỹ lại giúp mình hiểu ra một vấn đề mà đọc giấy tờ quài chưa thấy.

Nghề này, đôi khi chỉ cần nghĩ rằng “mình biết rồi” là đã có thể bỏ qua một điều đáng lẽ phải hỏi thêm. Qua những vụ việc đã làm, điều khiến mình suy nghĩ nhiều nhất vẫn là cách mình nhìn câu chuyện của khách hàng. Về công việc, luật sư nhận làm đến đâu thì có trách nhiệm đến đó. Có người chỉ nhờ soạn một lá đơn, có người nhờ tư vấn, có người ký hợp đồng tham gia cả quá trình giải quyết. Hoàn thành phần việc đã thỏa thuận thì thanh lý hợp đồng.

Nhưng với khách hàng thì vụ án của họ đâu có những điểm bắt đầu và kết thúc rõ ràng như vậy.

Vụ án của họ đã bắt đầu từ những rạn nứt, mâu thuẫn đầu tiên, có khi nhiều năm trước lúc tìm đến luật sư. Và khi công việc của chúng ta kết thúc, họ vẫn phải sống với những gì vụ án để lại, làm nhiều đi rồi các bạn sẽ thấy, đôi khi 5 7 năm gặp lại khách cũ thì mới thấm thía được những gì họ đã phải trải qua sau vụ án đó.

Vì vậy, một vụ án trong quá trình hành nghề của luật sư có thể là cả một bước ngoặt trong cuộc đời khách hàng. Mình nghĩ hiểu được điều đó thì mình sẽ biết thận trọng hơn.

Thận trọng khi khuyên họ kiện hay dừng lại, khi đưa ra một yêu cầu, khi đánh giá một chứng cứ, và cả khi nói về khả năng thắng, thua. Khách hàng cần một người hết lòng với công việc của họ, đồng thời đủ tỉnh táo để nói những điều cần nói, kể cả điều họ không muốn nghe. Cái tâm với nghề, theo mình, nằm trong những việc như vậy. Muốn làm cho đúng thì phải học, muốn giúp được người khác thì phải biết cả giới hạn của mình.

Mình thích xem Naruto, trong đó mỗi ninja có một “nhẫn đạo” để theo đuổi. Nghĩ đơn giản, người làm nghề cũng cần có một điều mình tin và giữ lấy - đó là "đạo" của chính mình. Với mình, đó là ý thức rằng phía sau hồ sơ mình đang cầm là cuộc sống của một người khác.

Có nhiều con đường để trở thành luật sư. Có người theo nghề từ trẻ, có người chuyển sang từ cơ quan tiến hành tố tụng, có người sau nhiều năm làm kinh tế mới bắt đầu học luật. Mỗi người có vốn sống, kinh nghiệm và thế mạnh riêng, đều đáng để học hỏi. Bởi vậy, nhìn tuổi tác để đánh giá năng lực cũng khó đầy đủ.

Khi nhận lại một số hồ sơ ở giai đoạn sau, mình từng tiếc vì có những vấn đề trước đó chưa được quan tâm đúng mức, khiến khách hàng gặp bất lợi. Nhưng người làm sau cũng có lợi thế được nhìn thấy những gì đã xảy ra. Điều cần làm là xem còn giúp được gì, rồi cố gắng; đồng thời tự nhắc mình cẩn thận để tránh những thiếu sót tương tự.

Gần đây thì mình hay thấy nhiều đồng nghiệp có những băn khoăn về vị thế luật sư trong xã hội hiện tại hay chí ít là trong "góc điều chỉnh" của những chính sách mới. Nhưng mình thì không suy nghĩ nhiều, vị thế của luật sư nằm ở việc đóng góp và được xã hội công nhận, mình đóng góp tới đâu thì xã hội sẽ nhìn nhận tới đó, điều này hết sức khách quan.

Người dân sẽ khó tin vào giá trị của luật sư nếu điều họ nhận được chỉ là những lời hứa, sự nhập nhằng hay câu chuyện về quan hệ, chạy chọt. Niềm tin cần được tạo nên từ công việc thực tế, từ cách mình đối xử với khách hàng và chịu trách nhiệm về điều đã nhận làm.

Trước khi mong nghề được tôn trọng hơn, mình nghĩ mình cũng nên thường xuyên tự hỏi: hôm nay, mình đã làm nghề cho đàng hoàng chưa?

Rồi ai cũng sẽ lớn tuổi hơn, số năm hành nghề cũng sẽ dài thêm. mình chỉ mong khi ấy mình vẫn còn chịu khó học, chịu khó nghe và không xem nhẹ những lo lắng của người tìm đến.

Bởi một chuyện mình đã gặp nhiều lần trong nghề, với khách hàng, có thể là biến cố lớn nhất mà họ từng trải qua.

Nhân ngày Truyền thống Luật sư Việt Nam, mình xin kính chúc các đồng nghiệp luôn mạnh giỏi, thành công!

08/10/2026

Tháng 9,
5 vụ xử thì thua hết 4 vụ phải kháng cáo 😩😩😩
1 vụ thắng thì hôm nay nhận được thông báo VKS kháng nghị 🥶🥶🥶
Có lẽ tới lúc phải dùng tới bí kíp (ở cuối Video) này rồi 😎

07/10/2026
07/10/2026

NHÀ NƯỚC LÀM SẠCH DỮ LIỆU, MỖI NGƯỜI CŨNG NÊN NHÌN LẠI NHỮNG QUAN HỆ PHÁP LÝ CỦA MÌNH

Thời gian qua, chúng ta nghe nhiều đến việc chuẩn hóa thông tin thuế theo số định danh cá nhân, làm giàu, làm sạch dữ liệu đất đai và kết nối các cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý. Những công việc này hướng đến việc thông tin được ghi nhận chính xác, thống nhất và có thể sử dụng hiệu quả khi giải quyết thủ tục cho người dân.

Từ câu chuyện ấy, nhìn lại những tình huống tiếp nhận tại văn phòng luật sư, mình nghĩ đến một việc cũng rất cần thiết: mỗi người nên chủ động rà soát và giải quyết những quan hệ pháp lý còn dang dở của chính mình.

Một trong những trường hợp thường gặp nhất là vợ chồng đã không còn chung sống, mỗi người có cuộc sống riêng, nhưng chưa làm thủ tục ly hôn.

Có người ngại đến Tòa án. Có người nghĩ không còn liên quan đến nhau thì giấy tờ cũng không quan trọng. Có người để đó vì chưa có nhu cầu kết hôn lần nữa. Cũng có những người muốn giải quyết nhưng vướng hoàn cảnh, thiếu thông tin hoặc không biết bắt đầu từ đâu.

Sự trì hoãn ấy đôi khi kéo dài nhiều năm, cho đến khi một đứa trẻ ra đời hoặc một căn nhà cần được mua bán.

Lúc đó, điều tưởng chừng chỉ là “chưa làm giấy tờ” mới bộc lộ những hệ quả mà người trong cuộc chưa từng hình dung.

Trong đời sống, hai người có thể đã chia tay. Nhưng về pháp lý, ly thân không tự chấm dứt hôn nhân. Việc ly hôn phải được xác lập bằng bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án.

Chẳng hạn, một người phụ nữ đã sống riêng với chồng nhiều năm, sau đó có con với người khác. Người mẹ biết cha ruột của con là ai; người cha ruột cũng sẵn sàng nhận con. Họ nghĩ chỉ cần cùng nhau đến đăng ký khai sinh, có thêm kết quả xét nghiệm ADN thì mọi việc sẽ được giải quyết.

Nhưng Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình đặt ra nguyên tắc xác định con chung đối với con sinh ra hoặc người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân; quy định này còn liên quan đến trẻ sinh trong 300 ngày kể từ khi hôn nhân chấm dứt.

Vì vậy, khi người chồng không phải cha ruột, việc ghi nhận đúng quan hệ cha con có thể phải qua thủ tục tại Tòa án. Với trường hợp thuộc khoản 4 Điều 16 Thông tư 04/2020/TT-BTP, sự đồng thuận của những người liên quan hay kết quả ADN không tự thay thế việc xác định của Tòa án.

Sự hợp tác của các bên giúp quá trình giải quyết thuận lợi hơn. Nhưng thử hình dung người chồng không hợp tác, đã chuyển đi nơi khác, không liên lạc được; hoặc người cha ruột thay đổi thái độ, không còn muốn nhận con. Khi ấy, việc xác minh, thu thập chứng cứ và thực hiện thủ tục có thể trở thành một hành trình rất mệt mỏi.

Đứa trẻ vẫn có quyền được đăng ký khai sinh. Điều cần tháo gỡ ở đây là căn cứ pháp lý để ghi nhận đúng quan hệ cha, mẹ, con, chứ không thể hiểu rằng hoàn cảnh hôn nhân của người lớn làm mất quyền ấy của trẻ.

Cũng cần nhìn nhận đúng rằng những ràng buộc này đã tồn tại từ trước khi dữ liệu dân cư được kết nối. Công nghệ giúp việc đối chiếu thông tin thuận lợi hơn, còn một quan hệ hôn nhân chưa chấm dứt thì không thể được giải quyết chỉ bằng thao tác cập nhật trên hệ thống.

Vướng mắc tương tự cũng xuất hiện với tài sản.

“Tôi mua bằng tiền tôi làm ra, lúc đó chúng tôi đã không còn sống chung” là lời giải thích rất thường gặp.

Nhưng theo chế độ tài sản luật định, thu nhập do lao động, kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân về nguyên tắc thuộc tài sản chung. Ly thân không tự biến những khoản thu nhập ấy thành tài sản riêng. Dù vẫn có các căn cứ xác định tài sản riêng, như được tặng cho riêng, thừa kế riêng hoặc mua bằng tài sản riêng, người có yêu cầu phải có cơ sở chứng minh.

Ngay cả việc giấy chứng nhận chỉ đứng tên một người cũng không đủ để kết luận tài sản thuộc riêng người đó. Với bất động sản là tài sản chung, việc định đoạt phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng.

Đến khi cần bán nhà, chuyển nhượng đất hoặc giải quyết tranh chấp, người trong cuộc mới phải quay lại tìm người đã không còn chung sống nhiều năm để làm rõ quyền lợi và hoàn thiện hồ sơ. Những gì từng có thể trao đổi khi hai bên còn liên lạc được, lúc này có thể đã trở nên khó khăn hơn rất nhiều.

Thời gian cũng làm mất đi chứng từ, khiến nguồn tiền khó xác minh và lời trình bày của các bên ngày càng khác nhau.

Bởi vậy, chi phí của việc trì hoãn không chỉ là tiền làm thủ tục. Đó còn là thời gian đi lại, cơ hội giao dịch bị bỏ lỡ, những lần phải gặp lại trong căng thẳng và sự bất an kéo dài sang cả cuộc sống mới.

Mỗi cuộc hôn nhân đều có hoàn cảnh riêng. Người ngoài khó có thể chỉ bằng vài câu mà đánh giá hết lý do vì sao một người chưa ly hôn. Tuy nhiên, khi đã xác định không còn khả năng hàn gắn và mong muốn chấm dứt, việc chủ động tìm hiểu, thực hiện thủ tục và làm rõ các vấn đề về con, tài sản là điều nên được cân nhắc sớm.

Nếu chưa biết bắt đầu từ đâu, hãy tìm sự hướng dẫn trước khi những quan hệ mới làm tình huống phức tạp thêm.

“Làm sạch” tình trạng pháp lý của mình, theo nghĩa đó, là thu xếp những việc còn bỏ ngỏ; xác định rõ những quyền, nghĩa vụ vẫn đang tồn tại; và tạo một nền tảng rõ ràng hơn cho cuộc sống tiếp theo.

Các cơ quan nhà nước có thể chuẩn hóa dữ liệu. Còn những lựa chọn và thủ tục cần thiết để giải quyết một quan hệ hôn nhân, mỗi người phải chủ động thực hiện với sự hỗ trợ phù hợp.

Một việc chưa giải quyết hôm nay có thể trở thành nhiều việc phải giải quyết ngày mai. Và đôi khi, người phải chờ đợi cùng chúng ta lại là chính những đứa trẻ.

Hôm nay vô tình đọc được bản án phúc thẩm vụ cựu Hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình, bên cạnh những tranh luận về căn cứ xá...
29/09/2026

Hôm nay vô tình đọc được bản án phúc thẩm vụ cựu Hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình, bên cạnh những tranh luận về căn cứ xác định hành vi phạm tội, tôi chú ý đến một kiến nghị của Hội đồng xét xử: "làm rõ trách nhiệm của những người khai báo, cung cấp thông tin không đúng sự thật gây cản trở việc giải quyết vụ án; đồng thời xem xét những trường hợp đăng tải, tuyên truyền thông tin sai về vụ án, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc gây hoang mang trong dư luận."

Theo tôi, kiến nghị này đặt ra một vấn đề đáng để chúng ta suy nghĩ

Trước hết, cần nhìn nhận đầy đủ kết quả xét xử. Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra lại. Những quan điểm tranh luận về quy định mức trần thu tiền học thêm, những mâu thuẫn trong tài liệu, lời khai và việc xác định thiệt hại là các vấn đề thực chất cần được làm rõ. Lưu ý với các bạn rằng, việc hủy bản án Sơ thẩm chưa phải là phán quyết tuyên bị cáo không phạm tội mà vụ án sẽ quay lại một giai đoạn tố tụng mới (thường sẽ làm rõ lại các vấn đề này từ giai đoạn điều tra).

Chính trong trạng thái pháp lý này, sự thận trọng của chúng ta, những người bình luận càng là điều cần thiết.

Một vụ án được dư luận quan tâm luôn cần sự giám sát xã hội. Những câu hỏi có căn cứ, những phản biện về chứng cứ hay cách áp dụng pháp luật có thể góp phần phát hiện sai sót và bảo vệ người bị buộc tội. Không nên xem mọi ý kiến trái chiều là sự công kích, cũng không thể đòi hỏi người dân chỉ được bày tỏ quan điểm sau khi mọi thủ tục tố tụng đã kết thúc.

Tuy nhiên, [1] việc chỉ ra một căn cứ buộc tội chưa thuyết phục và [2] luận điểm khẳng định người tiến hành tố tụng cố tình làm oan là một khoảng cách rất lớn. Nhận định thứ nhất có thể được xây dựng bằng phân tích pháp lý. Nhận định thứ hai là sự quy kết về động cơ và hành vi của những con người cụ thể, đòi hỏi chứng cứ tương ứng.

Khoảng cách ấy đôi khi sẽ bị xóa đi chỉ bằng một dòng tiêu đề, một đoạn video hoặc một câu khẳng định được lặp lại nhiều lần (dù là cố ý hay "vô ý" trong một sự tính toán nào đó).

Hình ảnh một người tiều tụy, bật khóc trước phiên tòa có thể khiến chúng ta xúc động. Sự cảm thông đó rất tự nhiên và đáng được tôn trọng. Nhưng cảm xúc đó không thay được câu trả lời cho những câu hỏi về chứng cứ, thiệt hại, lỗi hay trách nhiệm pháp lý. Khi sự thương cảm dành cho một người trở thành lý do để mặc nhiên tin rằng người khác đang làm hại họ, việc bình luận đã có nguy cơ rời xa sự công bằng mà mình muốn bảo vệ.

Điều đáng lo hơn là khi những người không đứng trước bục khai báo lại bị đưa ra “xét xử” trên mạng xã hội.

Người tố cáo có thể bị gán động cơ trả thù. Người làm chứng có thể bị quy kết gian dối. Người thân của họ có thể bị đào xới đời tư, dù những thông tin ấy không giúp giải đáp bất kỳ vấn đề nào của vụ án. Trong hoàn cảnh đó, lời kêu gọi bảo vệ một người có thể trở thành áp lực làm tổn thương nhiều người khác.

Nội dung tố cáo đúng hay sai phải được xác minh. Lời khai đáng tin đến đâu phải được kiểm tra, đối chiếu. Một người có quan hệ không tốt với bị cáo không làm cho mọi điều họ nói đương nhiên sai; cũng như việc bị cáo được nhiều người yêu quý không tự chứng minh rằng mọi cáo buộc đều vô căn cứ. Công kích nhân thân không thể thay thế việc đánh giá chứng cứ.

Ở chiều ngược lại, kiến nghị của Hội đồng xét xử cũng cần được hiểu đúng giới hạn. Đây là yêu cầu làm rõ trách nhiệm, chưa phải kết luận rằng một cá nhân, một trang thông tin hay một nhóm người cụ thể đã vi phạm pháp luật. Không thể dùng kiến nghị ấy để quy chụp tất cả những người lên tiếng ủng hộ bị cáo hoặc phản biện hoạt động tố tụng.

Việc xem xét trách nhiệm phải gắn với từng hành vi: thông tin nào sai, sai ở đâu, người cung cấp hoặc đăng tải có lỗi như thế nào, quyền lợi nào bị xâm phạm và có đủ căn cứ xử lý hay không. Cùng một yêu cầu về sự khách quan cần được áp dụng cho cả người đang bị buộc tội lẫn người bị cho là đã đưa tin sai.

Tôi cho rằng giá trị của kiến nghị này nằm ở việc nhắc lại trách nhiệm đối với sự thật. Trách nhiệm ấy thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cả những người đưa câu chuyện đến với công chúng.

Bảo vệ quyền kêu oan không đòi hỏi phải kết tội người tố cáo. Tôn trọng cơ quan tư pháp không đòi hỏi phải im lặng trước những thiếu sót trong quá trình giải quyết vụ án.

Tôi cho rằng, điều cần giữ là khả năng đặt câu hỏi, kiểm tra chứng cứ và chấp nhận rằng những gì mình đang biết có thể chưa đầy đủ. Bởi công lý mà chúng ta mong muốn cho một người chỉ có ý nghĩa trọn vẹn khi quyền được đối xử công bằng của những người khác cũng được tôn trọng.

VIẾT ĐƠN THUÊViết đơn thuê,Đơn giản đó là công việc bạn viết đơn theo yêu cầu và nhận thù lao từ khách hàng.Việc này nói...
21/09/2026

VIẾT ĐƠN THUÊ

Viết đơn thuê,
Đơn giản đó là công việc bạn viết đơn theo yêu cầu và nhận thù lao từ khách hàng.

Việc này nói dễ cũng được, vì bạn chỉ cần có hiểu biết một chút về pháp luật, biểu mẫu, thêm chút văn chương là có thể làm được; Mà, muốn nói khó cũng được, khi đó "lá đơn” là kết tinh của kiến thức, trải nghiệm và quá trình nghiên cứu nghiêm túc.
“Đơn thư” trên phương diện pháp luật, là cách mà bạn đưa yêu cầu của mình đến với một cá nhân, tổ chức mà họ là bên "có quyền" chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu đó. “Đơn thư” ở một khía cạnh khác, là cách để người ta nói ra những khúc mắc, ấm ức hay nỗi niềm của họ đến những người mà họ tin rằng, sẽ đọc, sẽ hiểu và sẽ bảo vệ họ khi họ không thể tự bảo vệ được mình.

Hiểu được ý nghĩa của “đơn thư” bạn sẽ thấy rằng, “viết đơn thuê” thật ra chưa bao giờ là “việc nhỏ”.

Nếu bạn quan tâm đến việc viết đơn thuê này, chúng ta cùng thảo luận nhé.

Mà trước khi bạn đọc tiếp tôi phải nhắc lại điều này, những bài này tôi hướng đến các bạn mới vào nghề nên tôi chọn cách viết mà ở đó tôi như một người đi trước, chia sẻ với bạn mình về những điều tôi đã học được. Nên những anh chị đã có kinh nghiệm nếu thấy có gì sai sót thì góp ý giúp tôi với nhé .

Khi viết đơn thuê bạn thường sẽ tập trung vào hai yếu tố: Thứ nhất là “Đúng” và thứ hai là “Được việc”. (1) Đúng về hình thức, đúng về nội dung và đúng theo yêu cầu của khách hàng; (2) Được việc - là yêu cầu đó được chấp nhận.

Hai yếu tố này hoàn toàn chuẩn xác, nhưng bạn cũng nên nhớ, viết thuê - dù là đơn từ pháp lý thì đó cũng là dịch vụ mà đã là dịch vụ thì bạn phải nhớ đến yếu tố thứ ba (3), đó là "làm khách hàng của bạn hài lòng”.

Và, bạn còn quên gì không?

Còn nhé, bạn phải quan tâm đến người đọc - đây là yếu tố thứ tư (4). Dù bạn gửi đơn đến đâu thì vẫn do con người tiếp nhận, mà đã là con người thì họ có cảm xúc - đó là thứ đôi khi có thể giúp bạn cũng có khi là trở ngại của bạn.

Vậy tạm tổng hợp lại bốn điều bạn cần lưu tâm khi viết đơn thuê: (1) Đúng; (2) - Được việc; (3) - Làm khách hàng hài lòng và (4) - Làm người đọc dễ chịu.

Ở những phần sau, tôi sẽ nói thêm với bạn chi tiết về những điều này nhưng trước đó tôi nói với bạn một số điểm này trước nhé.
Viết đơn thuê, là bạn làm dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng. Khi đó họ sẽ kể cho bạn nghe sự vụ của họ và yêu cầu của họ muốn bạn thực hiện là gì?

Vì vậy,
Đầu tiên, bạn phải học cách nghe - nghe kiểu dân luật, nghe biết khơi gợi câu chuyện, nghe nhưng đừng vội tin, bạn phải nhớ “trong câu chuyện của mình thì ai cũng là người thiệt thòi và đau khổ”. Bạn quá tin họ, làm theo yêu cầu của họ mà không tư duy - chưa hẳn đã tốt cho họ, thứ tốt nhất là “sự thật khách quan”.

Bạn phải học cách đặt câu hỏi, câu hỏi cho khách hàng và câu hỏi cho chính bản thân bạn. Họ hỏi bạn, yêu cầu bạn trả lời và bạn tìm câu trả lời bằng cách đặt câu hỏi, đó là suy nghĩ kiểu “dân luật”. Cái này bạn nhất quyết phải học.

Bạn phải học cách hệ thống được các dữ kiện mà họ cung cấp, thông tin từ họ thường là những thông tin rời rạc cần được hệ thống để sự vụ được sáng tỏ, họ biết câu chuyện của mình, nhưng nói cho bạn hiểu thì lại là một vấn đề khác, đó đa phần là vấn đề của khách hàng. Mà thật ra, nếu họ tự trình bày được thì họ cũng chưa hẳn cần tìm đến bạn. Bạn phải giúp họ làm việc đó.

Bạn phải học cách ghi chép, làm nghề này bạn không thể lười ghi chép được, chữ đẹp thì tốt, chữ xấu cũng được miễn sao 1 2 tuần sau mở ra bạn vẫn đọc được và hiểu được là được .

Thử ngẫm và tập những phần này trước nhé

Tôi gửi các bạn xem một đoạn email mà khách hàng phản hồi về đơn mà tôi đã soạn cho họ, bạn xem qua, hi vọng bạn cũng như tôi - từ những phản hồi này sẽ thấy được giá trị thật sự công việc của mình đang làm:

“Luật sư mến,
Luật sư đã viết một Đơn trình báo rất hay, chú không thể nào viết được như vậy. Và ý kiến của luật sư cũng chính xác.
Chú hoàn toàn đồng ý, luật sư nói cho H... biết, hỏi H... có cần đóng góp gì không, vì sau này chính quyền có chất vấn, H... sẽ trả lời với họ (về những gì mình trình báo là đúng sự thật). Chú thấy không cần thay đổi gì cả. Quá hay!

Sáng nay, buổi sáng ngày Giáng sinh ở xứ người, mưa gió đầy trời, đọc Đơn trình báo của luật sư, chú thấy ấm lòng, vì có người cảm thông được những khó khăn mà H... và chú chịu đựng mấy năm nay. Chốn thiền môn là nơi để người ta sửa mình, tự cải hóa mình để thành Phật, đáng buồn là gần Phật mà chẳng bỏ được si mê, chấp ngã. Ở dưới ngôi mộ đá đó, là nơi yên nghĩ của 3 phụ nữ con dân xứ Vĩnh Long, đã xuất gia vào cửa Phật trăm năm trước: bà cố nội của chú (tu và chết, chôn tại chùa ...), bà cố ngoại của chú (tu, chết và chôn tại chùa ..., Vĩnh Long, năm 2000, gia đình chú cải táng bà về ngôi mộ đá này), bà nội chú (là sư bà ở chùa ....).
Có dịp qua chùa, luật sư ghé thăm mộ đá, sẽ thấy tên bà sơ của chú là bà Lê thị Đ..., bà là phu nhân của quan Tuần vũ tỉnh Bình Thuận - Khánh Hòa (được cải táng về từ khu mộ gia đình ở đầu cù lao ...) . …”

BẢN GHI ÂM LÀ CHỨNG CỨ, NHƯNG VÌ SAO NGƯỜI CÓ BẢN GHI ÂM VẪN THUA KIỆN?Mới đây, một bài báo có tiêu đề khá gây chú ý: Dì...
07/09/2026

BẢN GHI ÂM LÀ CHỨNG CỨ, NHƯNG VÌ SAO NGƯỜI CÓ BẢN GHI ÂM VẪN THUA KIỆN?

Mới đây, một bài báo có tiêu đề khá gây chú ý: Dì kiện cháu mượn 240 triệu đồng không trả, Tòa bác vì "bản ghi âm kém chất lượng" (link bài báo tôi đặt ở phần bình luận cho mọi người tiện theo dõi)

Đọc tiêu đề, nhiều người có thể hiểu rằng bản ghi âm bị rè, nghe không rõ nên không được Tòa án chấp nhận. Tuy nhiên, khi xem toàn văn Bản án phúc thẩm số 566/2026/DS-PT ngày 21/8/2026 của TAND tỉnh Cà Mau, tôi thấy rằng vấn đề pháp lý phía sau lại phức tạp hơn khá nhiều (link để xem và tải Bản án được đặt tại phần bình luận).

Theo nội dung bản án, người dì cho rằng vào năm 2016, người cháu có hỏi vay 250 triệu đồng để làm vốn mua bán quần áo. Do có quan hệ dì cháu nên hai bên không lập giấy vay tiền. Sau đó, người cháu đã trả được 10 triệu đồng tiền gốc và một phần tiền lãi, còn nợ lại 240 triệu đồng.

Khi đòi nợ, người dì có ghi âm các cuộc gọi giữa hai bên. Trong một file ghi âm ngày 20/10/2022, người đòi tiền đề cập đến khoản nợ 240 triệu đồng; người còn lại "không phản đối" và hứa hẹn sẽ trả.

Người dì xác định người nói chuyện với mình chính là người cháu. Tuy nhiên, phía người cháu phủ nhận, cho rằng giọng nói trong đoạn ghi âm không phải của mình và cũng không thừa nhận có vay số tiền trên.

Ở cấp sơ thẩm, mặc dù phủ nhận giọng nói nhưng bị đơn không yêu cầu giám định. Ngược lại, khi nguyên đơn yêu cầu giám định thì bị đơn không hợp tác, không cung cấp mẫu giọng nói cho cơ quan chuyên môn. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ hiện có để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, buộc vợ chồng người cháu trả tổng cộng 322 triệu đồng tiền gốc và lãi.

Sau khi xét xử sơ thẩm, phía bị đơn kháng cáo và đề nghị giám định giọng nói.

Tại cấp phúc thẩm, Tòa án trưng cầu Phân viện Khoa học hình sự tại TP.HCM tiến hành giám định. Kết luận giám định thể hiện:

“Không đủ cơ sở kết luận giọng nói của bà Nguyễn Thị N. trong file âm thanh mẫu cần giám định do chất lượng mẫu so sánh kém”.

Từ kết luận này, Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng đoạn ghi âm do nguyên đơn cung cấp không đủ giá trị để chứng minh giao dịch vay tiền. Do nguyên đơn cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác nên Tòa án sửa toàn bộ bản án sơ thẩm và bác yêu cầu khởi kiện.

Như vậy, chỉ sau một kết luận giám định, kết quả giải quyết vụ án đã thay đổi hoàn toàn.

Vậy bản ghi âm có phải là chứng cứ hay không?

Nói chính xác về mặt tố tụng, bản ghi âm trước hết là một trong những nguồn chứng cứ được pháp luật thừa nhận. Theo Điều 94 và Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự, tài liệu nghe được, nhìn được có thể được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày về xuất xứ của tài liệu trong trường hợp người giao nộp tự mình thu âm, thu hình; hoặc có văn bản xác nhận của người cung cấp về xuất xứ của tài liệu đó.

Tuy nhiên, việc một bản ghi âm được Tòa án tiếp nhận không đồng nghĩa với việc nội dung trong đó đương nhiên được xem là sự thật, càng không có nghĩa người giao nộp bản ghi âm chắc chắn sẽ thắng kiện.

Một bản ghi âm muốn có giá trị chứng minh thường phải vượt qua ít nhất ba vấn đề.

[1] Thứ nhất là nguồn gốc của bản ghi âm: ai ghi âm, ghi vào thời điểm nào, trong hoàn cảnh nào, bằng thiết bị gì và file được lưu giữ ra sao?

[2] Thứ hai là tính xác thực: file có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không; những người nói trong đoạn ghi âm là ai?

[3] Thứ ba là nội dung cần chứng minh: lời nói trong bản ghi âm có thực sự thể hiện việc xác lập hoặc thừa nhận nghĩa vụ hay chỉ là những câu trả lời mơ hồ, được nói trong một ngữ cảnh khác?

Trong vụ án này, vấn đề quyết định không hẳn nằm ở việc có nghe được nội dung cuộc trò chuyện hay không. Nút thắt nằm ở chỗ chưa xác định được người hứa trả tiền trong đoạn ghi âm có thực sự là bị đơn hay không.

“Không đủ cơ sở kết luận” không có nghĩa là “không phải giọng nói của bị đơn”

Đây là điểm cần được phân biệt rõ.

Kết luận giám định không khẳng định giọng nói trong file ghi âm không phải của người cháu. Kết luận chỉ cho biết chưa đủ cơ sở để xác định đó là giọng nói của người này vì chất lượng mẫu so sánh kém.

Nói cách khác, đây là kết quả không xác định được, chứ không phải một kết luận phủ định.

Đáng chú ý hơn, bản án không nói chất lượng của chính bản ghi âm cuộc gọi quá kém, mà nêu nguyên nhân là “chất lượng mẫu so sánh kém”. Trong hoạt động giám định giọng nói, file cần giám định và mẫu giọng nói dùng để đối chiếu là hai đối tượng khác nhau. Vì vậy, không nên từ tiêu đề bài báo mà hiểu rằng cứ bản ghi âm bị rè hoặc không rõ tiếng thì sẽ không được Tòa án chấp nhận.

Tuy nhiên, trong tố tụng dân sự, nguyên đơn là người đưa ra yêu cầu nên phải có nghĩa vụ chứng minh yêu cầu của mình có căn cứ. Khi bị đơn không thừa nhận giọng nói, kết quả giám định lại không xác định được và ngoài bản ghi âm không còn chứng cứ nào khác, nguyên đơn không đủ cơ sở chứng minh có việc giao nhận khoản tiền 250 triệu đồng.

Khi đó, hậu quả của việc không chứng minh được sẽ thuộc về người khởi kiện.

Vì vậy, xét về nghĩa vụ chứng minh, việc người có bản ghi âm vẫn thua kiện không phải vì pháp luật không công nhận bản ghi âm là chứng cứ, mà vì bản ghi âm đó chưa chứng minh được một vấn đề có tính quyết định: người nói trong đoạn ghi âm có phải là bị đơn hay không.

Dù vậy, vụ án vẫn để lại một câu hỏi đáng suy nghĩ.

Nếu nguyên nhân không thể giám định là do chất lượng mẫu so sánh kém thì có thể thu lại một mẫu giọng nói khác hay không? Có cần yêu cầu người giám định giải thích thêm hoặc thực hiện giám định bổ sung trước khi kết luận bản ghi âm không đủ sức chứng minh hay không?

Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự cho phép Tòa án yêu cầu người giám định giải thích kết luận nếu kết luận chưa đầy đủ, chưa rõ ràng; đồng thời có thể trưng cầu giám định bổ sung khi nội dung kết luận chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc phát sinh vấn đề mới.

Tuy nhiên, bản án không thể hiện mẫu so sánh được thu thập bằng cách nào, có khả năng lấy lại hay không và phía nguyên đơn có yêu cầu giám định bổ sung hay không. Vì vậy, chỉ dựa trên nội dung bản án được công bố thì chưa đủ cơ sở để khẳng định việc đánh giá chứng cứ của cấp phúc thẩm là đúng hay sai. Đây chỉ là vấn đề cần được nhìn nhận thận trọng hơn.

Trước đó, cũng có một vụ án mà tin nhắn Zalo được Tòa án sử dụng để xác định số tiền còn nợ. Đặt hai vụ án cạnh nhau, có thể thấy cùng là dữ liệu được tạo ra từ điện thoại nhưng kết quả đánh giá lại khác nhau.

Sự khác biệt không nằm ở việc Tòa án “thích” tin nhắn hơn bản ghi âm. Điều quan trọng là khả năng xác định người gửi, người nói, nguồn gốc dữ liệu, tính toàn vẹn của nội dung và mối liên hệ giữa dữ liệu đó với những chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Qua vụ việc này, bài học thực tế vẫn là: khi cho người khác vay một khoản tiền đáng kể, không nên chỉ trông chờ vào một bản ghi âm được thực hiện sau đó.

Nếu không có giấy vay tiền, người cho vay cần cố gắng lưu giữ đồng thời nhiều tài liệu khác như chứng từ rút hoặc chuyển tiền, tin nhắn trao đổi, nội dung xác nhận nợ, chứng cứ về việc trả lãi, trả một phần tiền gốc và người biết rõ việc giao nhận tiền. Đối với file ghi âm, cần giữ nguyên file gốc, thiết bị ghi âm và thông tin về thời gian, hoàn cảnh thực hiện việc ghi âm; không nên cắt ghép hoặc chỉ giao nộp một đoạn đã được chỉnh sửa.

Bởi trong tố tụng, có chứng cứ là một chuyện; nhưng chứng cứ đó có đủ sức chứng minh cho yêu cầu của mình hay không lại là một câu chuyện hoàn toàn khác.

theo dõi

CHO VAY, GIỮ 03 “SỔ ĐỎ” LÀM TIN: TÒA TUYÊN CHỈ TRẢ LẠI SỔ SAU KHI NGƯỜI VAY TRẢ HẾT NỢ HƠN 2,1 TỈ ĐỒNGTrong quá trình hà...
03/09/2026

CHO VAY, GIỮ 03 “SỔ ĐỎ” LÀM TIN: TÒA TUYÊN CHỈ TRẢ LẠI SỔ SAU KHI NGƯỜI VAY TRẢ HẾT NỢ HƠN 2,1 TỈ ĐỒNG

Trong quá trình hành nghề tôi gặp rất nhiều các trường hợp khác hàng thực hiện giao dịch vay tiền giữa cá nhân với nhau, rồi giữ sổ đỏ để làm tin, khi nào trả hết nợ thì người vay sẽ lấy sổ về (chỉ đưa sổ đỏ cho bên cho vay giữ chứ không làm hợp đồng chuyển nhượng hay uỷ quyền).

Nhiều người cho rằng chỉ cần đang giữ sổ đỏ thì xem như đã nắm được tài sản của người vay. Nhưng trong thực tế giải quyết tranh chấp của Toà thì vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau (có toà xác định đây là thế chấp cũng có trường hợp xác định đây là thoả thuận dân sự dẫn đến nhiều cách giải quyết khác nhau). Nhân trên Diễn đàn nghề luật có đồng nghiệp chia sẻ về Quyết định Giám đốc thẩm số 132/2024/DS-GĐT ngày 10/6/2024 của Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại TP.HCM đã giải quyết một vụ án khá đặc biệt, cũng gần như đã đưa ra một quan điểm chung để giải quyết trong các vụ án tương tự nên chia sẻ lại với mọi người.

Theo nội dung vụ án, bà V cho ông T1 vay 1,5 tỉ đồng, thời hạn vay 01 tháng, lãi suất 1%/tháng. Để bảo đảm cho khoản vay, ông T1 đã giao cho bà V giữ bản chính 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên mình.

Đến hạn, ông T1 không trả nợ.

Tại biên bản làm việc ngày 15/10/2019 do Công an xã lập, các bên xác nhận ông T1 còn nợ 1,5 tỉ đồng tiền gốc và 225 triệu đồng tiền lãi; đồng thời thỏa thuận thời hạn trả nợ. Tuy nhiên, sau đó ông T1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ nên bà V khởi kiện ra Tòa án.

Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm buộc ông T1 phải trả cho bà V tổng số tiền hơn 2,1 tỉ đồng, bao gồm nợ gốc và tiền lãi.

Đáng chú ý, bản án phúc thẩm còn tuyên:

"Sau khi ông T1 thanh toán xong số tiền nêu trên, bà V có trách nhiệm trả lại bản chính 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T1."

Nói cách khác, trong thời gian ông T1 chưa trả hết nợ, bà V vẫn được tiếp tục giữ 03 sổ đỏ đã nhận “làm tin”.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.HCM sau đó kháng nghị, cho rằng việc thế chấp quyền sử dụng đất giữa các bên không đúng pháp luật nên Tòa án phải buộc bà V trả lại ngay các Giấy chứng nhận cho ông T1, thay vì cho phép giữ đến khi trả hết nợ.

Tuy nhiên, Hội đồng giám đốc thẩm không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án phúc thẩm.

Điểm đáng chú ý trong nhận định của Tòa án là việc phân biệt rất rõ giữa thế chấp quyền sử dụng đất và thỏa thuận giao sổ đỏ để làm tin.

Tòa án xác định việc ông T1 giao 03 Giấy chứng nhận cho bà V giữ không đáp ứng các điều kiện luật định để trở thành một giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất hợp pháp. Vì vậy, bà V không trở thành “chủ nợ có bảo đảm” và không có quyền tự xử lý, chuyển nhượng hoặc yêu cầu ưu tiên thanh toán từ giá trị của những thửa đất này như một bên nhận thế chấp hợp pháp.

Nhưng Tòa án cũng không vì thế mà phủ nhận hoàn toàn thỏa thuận giao, giữ giấy tờ giữa hai bên.

Theo Hội đồng giám đốc thẩm, việc người vay giao Giấy chứng nhận cho người cho vay giữ “để làm tin” là việc thường xảy ra trong xã hội. Trong vụ án này, việc giao giấy tờ xuất phát từ sự tự nguyện của hai bên và không trái pháp luật. Người vay đã chấp nhận để người cho vay giữ giấy cho đến khi mình thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.

Do đó, việc Tòa án cấp phúc thẩm xác định ông T1 chỉ được nhận lại 03 Giấy chứng nhận sau khi đã trả hết nợ được xem là phù hợp với thỏa thuận của các bên.

Vậy có phải cứ cho người khác vay tiền và đang giữ sổ đỏ của họ thì người cho vay đều có quyền giữ cho đến khi được trả hết nợ?

Theo tôi là không thể hiểu đơn giản như vậy.

Quyết định này không công nhận việc “giữ sổ đỏ làm tin” là một hình thức thế chấp mới. Tòa án chỉ công nhận giá trị ràng buộc của một thỏa thuận dân sự cụ thể, trên cơ sở các bên đều thừa nhận việc giao nhận giấy tờ và có chứng cứ thể hiện Giấy chứng nhận được giao để bảo đảm cho việc trả nợ.

Vì vậy, khi xảy ra tranh chấp, người đang giữ sổ vẫn phải chứng minh được các vấn đề: [1] Giấy chứng nhận được chủ sử dụng đất tự nguyện giao; [2] Việc giao giấy có liên quan đến khoản vay; [3] Các bên có thỏa thuận về điều kiện và thời điểm trả lại giấy; [4] Người giao giấy có quyền quyết định đối với giấy tờ và quyền sử dụng đất liên quan; [5] Khoản nợ chưa được thanh toán theo đúng thỏa thuận.

Nếu người cho vay chỉ đang cầm giữ sổ đỏ nhưng không chứng minh được nguồn gốc của việc giao nhận, hoặc giấy được giao để thực hiện một công việc khác, thì không thể mặc nhiên cho rằng mình có quyền giữ sổ cho đến khi chủ đất trả nợ.

Cũng cần hiểu rằng giữ sổ đỏ không đồng nghĩa với việc giữ quyền sử dụng đất.

Giấy chứng nhận là chứng thư pháp lý xác nhận quyền sử dụng đất, chứ bản thân việc cầm giữ tờ giấy không làm phát sinh quyền đối với thửa đất. Người giữ sổ không được tự ý bán đất, sang tên, thế chấp hoặc định đoạt đất thay cho người đứng tên.

Việc giữ bản chính Giấy chứng nhận chủ yếu tạo ra một trở ngại thực tế đối với người sử dụng đất khi muốn thực hiện các thủ tục chuyển nhượng, tặng cho hoặc thế chấp (hạn chế một phần quyền của người sử dụng đất). Nhưng nó không tạo ra hiệu lực đối kháng với người thứ ba và cũng không mang lại quyền ưu tiên thanh toán như một hợp đồng thế chấp đã được công chứng, đăng ký đúng quy định.

Trường hợp đã có bản án buộc người vay trả tiền mà họ vẫn không tự nguyện thực hiện, người cho vay có quyền yêu cầu thi hành án. Khi đó, quyền sử dụng đất của người phải thi hành án có thể bị kê biên, xử lý theo thủ tục chung nếu đáp ứng các điều kiện luật định. Tuy nhiên, việc xử lý này xuất phát từ bản án và pháp luật về thi hành án dân sự, chứ không phải chỉ vì người cho vay đang giữ sổ đỏ.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng Quyết định số 132/2024/DS-GĐT hiện là một quyết định giải quyết vụ án cụ thể, không phải án lệ. Do đó, chưa thể xem đây là quy tắc đương nhiên áp dụng cho mọi trường hợp vay tiền có giao sổ đỏ làm tin.

Dù vậy, quyết định này vẫn cho thấy một vấn đề rất đáng suy ngẫm:

Một giao dịch không đủ điều kiện để trở thành thế chấp hợp pháp chưa chắc đồng nghĩa với việc mọi thỏa thuận liên quan đều không có giá trị. Nếu các bên đã tự nguyện giao nhận giấy tờ và thống nhất rõ điều kiện hoàn trả, Tòa án vẫn có thể xem xét công nhận sự ràng buộc của thỏa thuận đó.

Về phía người cho vay, nếu chỉ nhận giữ sổ đỏ “làm tin” thì quyền lợi được bảo đảm vẫn rất hạn chế. Pháp luật hiện hành cho phép cá nhân nhận thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định. Khi đó, các bên phải lập hợp đồng thế chấp, thực hiện công chứng hoặc chứng thực và đăng ký biện pháp bảo đảm theo đúng quy định. Chỉ khi hoàn tất những thủ tục này, người cho vay mới có thể xác lập vị trí của một chủ nợ có bảo đảm (lý thuyết là vậy nhưng thực tiễn thì để làm được cũng còn nhiều vấn đề cần bàn); còn việc chỉ cầm giữ bản chính sổ đỏ thì chưa đủ làm phát sinh quyền đó.

Còn đối với người vay, việc giao sổ đỏ “làm tin” không đơn thuần chỉ là đưa cho người khác giữ hộ một tờ giấy. Một khi đã tự nguyện giao giấy gắn với điều kiện trả nợ, thì khi xảy ra tranh chấp, người vay cũng chưa chắc có thể yêu cầu lấy lại bất cứ lúc nào mình muốn.

Vậy thì mọi người lại đặt ra thêm câu hỏi là: nếu trong thời gian giao sổ đỏ cho người cho vay để làm tin mà người vay báo mất để làm lại sổ mới và thực hiện một giao dịch khác đối với quyền sử dụng đất thì như thế nào? câu hỏi đơn giản nhưng nó tạo ra một tình huống rất phức tạp. Tôi sẽ cố gắng nghiên cứu, phân tích để đưa ra một câu trả lời cụ thể cho vấn đề này.

Nếu bạn thấy bài viết này hữu ích hay chia sẻ và theo dõi Ls. Khoẻ - Luật sư Vĩnh Long, thanks!

Address

Số 51/4C, Đường Mậu Thân, Phường Phước Hậu
Vinh Long

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Ls. Khoẻ - Luật sư Vĩnh Long posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Ls. Khoẻ - Luật sư Vĩnh Long:

Shortcuts

Share