07/07/2025
QUYỀN NUÔI CON SAU LY HÔN
*** Cơ sở phát sinh quyền nuôi con
Theo quy định tại khoản 1 Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình (LHNGĐ) năm 2014 thì “Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”, tức là quyền và nghĩa vụ đối với con luôn đặt ra với người làm cha, làm mẹ không phụ thuộc vào quan hệ hôn nhân của cha và mẹ còn tồn tại hay đã chấm dứt quan hệ vợ chồng hoặc chấm dứt quan hệ chung sống như vợ chồng hay chưa, cụ thể:
+ Khoản 1 Điều 14 LHNGĐ 2014 quy định: “1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”. Theo đó,
+ Khoản 1 Điều 81 LHNGĐ 2014 quy định: “1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.”
Như vậy, cơ sở phát sinh quyền và nghĩa vụ nuôi con đặt ra đối với cha mẹ khi: Con chưa thành niên; Con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Cần lưu ý rằng, ngay cả khi cha mẹ không đăng ký kết hôn, không phát sinh nghĩa vụ vợ chồng về mặt pháp luật, nhưng quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con vẫn được pháp luật hôn nhân gia đình thừa nhận tại mục 1 chương V của Luật này.
*** Xác định quyền nuôi con sau ly hôn
Căn cứ khoản 2 và 3 Điều 81 LHNGĐ 2014, pháp luật về hôn nhân gia đình sẽ ưu tiên và tôn trọng sự thỏa thuận của vợ và chồng khi họ thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con. Do đó, cha, mẹ có thể thỏa thuận việc này vào thời điểm trước, trong hoặc sau khi yêu cầu Tòa án chấm dứt quan hệ vợ chồng hay quan hệ chung sống như vợ chồng.
Tuy nhiên, Khi cha, mẹ của người con không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ dựa vào quyền lợi của con để quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Việc quyết định ai có quyền nuôi con khi ly hôn sẽ phụ thuộc vào các yếu tố như: chỗ ở, thu nhập, thời gian chăm sóc con… của mỗi bên, nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con. Theo đó, người được nuôi con phải chứng minh được trước Tòa án về bản thân sẽ cung cấp môi trường thuận lợi nhất cho sự phát triển của con và có đủ các điều kiện đảm bảo cả về kinh tế (về thu nhập, tài sản, nơi ở ổn định…) lẫn tinh thần (có đủ thời gian để ở bên con, chăm sóc, nuôi dưỡng con, luôn phải đặt con lên hàng đầu…) để đáp ứng cho yêu cầu phát triển bình thường của người con.
Nếu một trong hai bên vợ chồng muốn giành quyền nuôi còn thì họ phải cung cấp được các chứng cứ chứng minh người còn lại không đủ điều kiện về vật chất và tinh thần để nuôi dạy con cái, như: thường xuyên có hành vi bạo lực, thu nhập không ổn định,…
Ngoài ra, Tòa án khi quyết định giao con cho ai nuôi cũng phải xem xét một số điểm sau đây:
Thứ nhất, xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi : tức trong quá trình phán quyết ai sẽ là người nuôi con sau khi ly hôn, Thẩm phán phụ trách phiên tòa giải quyết ly hôn là người có thẩm quyền lấy ý kiến trẻ từ đủ 07 tuổi về việc muốn sống với cha hay với mẹ. Vì ở độ tuổi này, con đã có nhận thức và có khả năng cân nhắc xem nên ở với bố hay với mẹ. Tuy nhiên, đây không phải là yếu tố tiên quyết, ý kiến của con thường chỉ mang tính định hướng, tham khảo, là một phần để Tòa án xem xét đi đến quyết định, không có ý nghĩa hoàn toàn quyết định. Tòa án vẫn phải cân nhắc thêm các điều kiện của bố mẹ để đảm bảo con được nuôi dưỡng và phát triển trong môi trường thuận lợi nhất.
Thứ hai, đối với con tù 36 tháng tuổi đến dưới 7 tuổi: Trường hợp này sẽ dự theo các nguyên tắc nêu trên, Tòa án sẽ căn cứ trước hết là theo thỏa thuận của vợ và chồng, nếu vợ chồng không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định dựa vào khả năng tài chính, điều kiện nuôi con, nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, yếu tố lỗi dẫn đến ly hôn…
Thứ ba, đối với con dưới 36 tháng tuổi: Mặc định quyền nuôi con thuộc về người mẹ. Tuy nhiên, trong trường hợp người mẹ không đủ điều kiện nuôi con để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, ví dụ như: bị mắc bệnh tâm thần, mất khả năng nhận thức, làm chủ hành vi, tu cách đạo đức suy đồi, hay đánh đập con cái…. Hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác thì quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi có thể bị thay đổi.
*** Thay đổi quyền nuôi con
Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con mà không chăm sóc tốt được cho trẻ thì cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con hoặc cá nhân, tổ chức khác theo quy định tại khoản 5 Điều 84 LHNGD có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Ngoài ra, Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con cũng là một trong các căn cứ để Tòa án xem xét giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con
Cần lưu ý rằng, Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự