29/10/2026
RỦI RO PHÁP LÝ KHI SỬ DỤNG CÁC HỢP ĐỒNG, THỎA THUẬN KHÁC THAY THẾ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam thường sử dụng các dạng hợp đồng như “hợp đồng cộng tác viên”, “hợp đồng dịch vụ”, “hợp đồng khoán việc” để xác lập quan hệ với người thực hiện công việc thay vì ký kết hợp đồng lao động. Việc lựa chọn hình thức hợp đồng này có thể xuất phát từ nguyên nhân nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế và tính chất công việc của các bên. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, doanh nghiệp còn sử dụng các thỏa thuận này nhằm hạn chế hoặc né tránh các nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ lao động, chẳng hạn như nghĩa vụ đóng BHXH bắt buộc hoặc tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động. Điều này không tránh khỏi phát sinh những rủi ro pháp lý cho cả doanh nghiệp lẫn người lao động, đặc biệt là khi pháp luật về lao động không ghi nhận quan hệ lao động dựa trên tên gọi của hợp đồng, mà là trên cơ sở nội dung thỏa thuận giữa các bên.
🔎 Vậy khi nào một thỏa thuận được xác định là hợp đồng lao động (HĐLĐ)?
Khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động 2019 quy định HĐLĐ là sự thỏa thuận giữa người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ) về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.
Từ quy định trên, có thể thấy pháp luật về lao động không xác định bản chất của một thỏa thuận qua tên gọi của nó mà dựa trên cơ sở hội tụ đủ ba đặc điểm chính:
- Có việc làm cụ thể: Hợp đồng có thỏa thuận một bên (Bên thực hiện công việc) phải thực hiện một hoặc một số công việc cụ thể cho bên còn lại (Bên tiếp nhận công việc). Nội dung này thường được thể hiện qua các điều khoản như mô tả công việc, nội dung hợp đồng, đối tượng hợp đồng,…
- Có trả công, trả lương: Bên thực hiện công việc nhận được khoản tiền tương ứng với công việc mà mình đã thực hiện.
- Có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên: Yếu tố này thể hiện sự lệ thuộc về mặt pháp lý của Bên thực hiện công việc đối với Bên tiếp nhận công việc — ví dụ: phải tuân theo giờ giấc làm việc, thực hiện chấm công, tuân thủ nội quy lao động, chịu sự phân công, kiểm tra, giám sát trực tiếp về cách thức, tiến độ thực hiện công việc.
Trên thực tế, để phân biệt quan hệ lao động với quan hệ dịch vụ, cộng tác viên hoặc các quan hệ thuê thực hiện công việc khác, có thể căn cứ vào nhiều yếu tố như cơ sở trả tiền công, tiền lương, việc tham gia BHXH bắt buộc, trách nhiệm đối với kết quả công việc, thời gian và địa điểm thực hiện công việc... Tuy nhiên, nếu mục đích là nhận diện một thỏa thuận có mang bản chất là quan hệ lao động dù mang tên gọi khác hay không, thì yếu tố quan trọng nhất cần xem xét đến là mức độ quản lý, điều hành và giám sát của bên tiếp nhận công việc đối với bên thực hiện công việc. Nói cách khác, cần xem xét mức độ “lệ thuộc” trong quan hệ giữa hai bên.
Ví dụ: Công ty A ký kết “Hợp đồng cộng tác viên” với một kế toán B. Theo đó, B sẽ nhận được một khoản tiền công dựa trên kết quả nghiệm thu công việc hàng tháng. Tuy nhiên, Công ty A lại yêu cầu B có mặt tại văn phòng từ 8h đến 17h các ngày trong tuần, làm việc dưới sự phân công của trưởng phòng kế toán, phải xin phép khi nghỉ và bị phạt nếu vi phạm nội quy của công ty. Trong trường hợp này, pháp luật sẽ xác định quan hệ giữa Công ty A và kế toán B là quan hệ lao động, và quyền và nghĩa vụ các bên sẽ buộc phải được thực hiện theo đúng Bộ luật Lao động và các văn bản pháp luật liên quan. Ngược lại, nếu kế toán B chỉ được Công ty A thuê theo tháng để làm sổ sách, báo cáo thuế, nhưng họ tự quyết định thời gian làm việc, có thể đồng thời nhận nhiều khách hàng khác, chỉ cần nộp báo cáo đúng hạn theo thỏa thuận — thì đây là quan hệ dịch vụ đúng nghĩa.
🚨 Rủi ro khi sử dụng các loại hợp đồng khác nhằm thay thế hợp đồng lao động
Đối với người lao động:
Thứ nhất, người lao động sẽ không được bảo đảm đầy đủ các quyền lợi theo quy định tại Bộ luật Lao động. Trong trường hợp quan hệ giữa các bên được xác lập trên cơ sở quan hệ dịch vụ thì bên thực hiện công việc sẽ không được áp dụng các chế độ dành cho người lao động như giới hạn thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, nghỉ hằng năm hưởng nguyên lương, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và các quyền lợi khác theo Bộ luật Lao động. Thay vào đó, quyền lợi của bên thực hiện công việc sẽ được hưởng theo thỏa thuận mà các bên xác lập trong hợp đồng.
Thứ hai, không được tham gia BHXH, BHYT, BHTN bắt buộc. Hiện nay, pháp luật quy định các nhóm thuộc diện tham gia BHXH, BHYT, BHTN bắt buộc không bao gồm nhóm quan hệ hợp đồng dịch vụ hay cộng tác viên (trừ trường hợp các hợp đồng này được xác định là hợp đồng lao động). Điều này dẫn đến bên thực hiện công việc theo các dạng hợp đồng này sẽ mất đi quyền lợi được hưởng các chế độ như ốm đau, thai sản, hưu trí, tử tuất, trợ cấp thất nghiệp và tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo điều kiện của từng chế độ, trừ trường hợp lựa chọn tham gia BHXH tự nguyện. Nhưng cần lưu ý, chế độ BHXH tự nguyện sẽ không mang lại các quyền lợi tương đương chế độ BHXH bắt buộc như về mức hưởng cũng như sự đa dạng của các chế độ.
Thứ ba, người lao động có thể không được bảo đảm quyền về chăm sóc sức khỏe tại nơi làm việc. Pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đặt trách nhiệm cho người sử dụng lao động trong việc bảo hộ lao động và chăm sóc sức khỏe cho người lao động như cung cấp trang bị bảo hộ lao động phù hợp cho công việc hay là trách nhiệm tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động. Tương tự, những chính sách này chỉ áp dụng với quan hệ lao động chứ không áp dụng cho quan hệ dịch vụ.
Thứ tư, có thể phát sinh những nghĩa vụ pháp lý khác nếu bên thực hiện công việc hoạt động với tư cách là cá nhân cung cấp dịch vụ độc lập. Đây là vấn đề thường ít được bên thực hiện công việc chú ý. Khi quan hệ được xác lập theo hướng một cá nhân tự mình cung cấp dịch vụ một cách độc lập, thường xuyên và nhằm mục đích kinh doanh, tùy từng trường hợp và từng lĩnh vực cụ thể mà có thể phát sinh các nghĩa vụ về đăng ký kinh doanh và kê khai, nộp thuế. Đặc biệt, nếu công việc thuộc ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thì người cung cấp dịch vụ cần phải đáp ứng thêm các điều kiện pháp luật chuyên ngành. Điều này sẽ đặt ra nhiều trách nhiệm pháp lý hơn cho bên thực hiện công việc.
Thứ năm, gặp bất lợi khi phát sinh tranh chấp. Chẳng hạn, khi bị đơn phương chấm dứt công việc đột ngột, bị chậm hoặc không được thanh toán tiền công, tiền lương, hoặc phát sinh tranh chấp về các quyền lợi khác, bên thực hiện công việc sẽ phải tiến hành giải quyết tranh chấp theo quy trình thủ tục và khung pháp lý tương ứng đối với một tranh chấp dân sự hoặc thương mại thông thường. Trong khi đó, nếu quan hệ thực tế được xác định là quan hệ lao động, người lao động được đặt trong một khuôn khổ pháp lý riêng với các quy định về tiền lương, chấm dứt hợp đồng và cơ chế giải quyết tranh chấp lao động được thiết kế để bảo vệ tối ưu quyền lợi của người lao động.
Đối với người sử dụng lao động
Nếu quan hệ thực tế được xác định là quan hệ lao động, NSDLĐ có thể phải đối mặt với các rủi ro sau:
Thứ nhất, thực hiện các chế độ của NLĐ theo Bộ luật Lao động cho khoảng thời gian NLĐ làm việc. NSDLĐ sẽ bị truy thu tiền BHXH, BHYT, BHTN tương ứng với thời gian bên thực hiện công việc đã làm việc tại đơn vị sử dụng lao động, đồng thời phải thanh toán thêm khoản tiền chậm đóng BHXH và nghĩa vụ tài chính liên quan. Bên cạnh đó, NSDLĐ còn phải bảo đảm các quyền lợi mà người lao động đáng lẽ được hưởng theo pháp luật, như tiền lương, nghỉ hằng năm, khám sức khỏe định kỳ và các chế độ khác tùy từng trường hợp.
Thứ hai, NSDLĐ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Việc giao kết không đúng loại hợp đồng lao động có thể khiến NSDLĐ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Ngoài ra, nếu hành vi của NSDLĐ còn dẫn đến hệ quả là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, NSDLĐ còn có thể phải chịu các chế tài tương ứng. Mức xử phạt và trách nhiệm cụ thể sẽ phụ thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm của NSDLĐ.
Thứ ba, phát sinh nghĩa vụ khi tranh chấp được giải quyết tại Tòa án. Nếu bên thực hiện công việc khởi kiện và Tòa án xác định quan hệ giữa hai bên thực chất là quan hệ lao động, NSDLĐ phải thực hiện các nghĩa vụ tương ứng với quan hệ đó. Đặc biệt, nếu việc chấm dứt quan hệ bị xác định là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, NSDLĐ có thể phải nhận NLĐ trở lại làm việc, trả tiền lương và các khoản bảo hiểm cho thời gian NLĐ không được làm việc, đồng thời bồi thường theo quy định của Bộ luật Lao động.
Một điểm cũng cần làm rõ là các dạng hợp đồng dịch vụ, hợp đồng cộng tác viên,.. không phải là hợp đồng vi phạm pháp luật. NSDLĐ hoàn toàn có thể thuê một cá nhân hoặc tổ chức độc lập để thực hiện các công việc nhất định bằng hợp đồng dịch vụ hay hợp đồng cộng tác viên. Rủi ro pháp lý chỉ thực sự phát sinh khi tên gọi của hợp đồng không phản ánh đúng với bản chất quan hệ giữa các bên.
Nếu doanh nghiệp của bạn đang sử dụng hợp đồng cộng tác viên, hợp đồng dịch vụ hoặc các hình thức thuê nhân sự khác và chưa chắc đã phù hợp với bản chất quan hệ thực tế, 1LAW có thể hỗ trợ rà soát, tư vấn và soạn thảo lại hợp đồng phù hợp, giúp doanh nghiệp chủ động hạn chế rủi ro pháp lý ngay từ đầu.