Luật sư Tiền Giang - Luật sư Ngô Trung Hiếu

Luật sư Tiền Giang - Luật sư Ngô Trung Hiếu Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Luật sư Tiền Giang - Luật sư Ngô Trung Hiếu, Lawyer & Law Firm, Tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CỦA DI CHÚCThừa kế là một trong những vấn đề quan trọng và gây nhiều tranh cãi trong pháp luật dân...
15/09/2022

NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC
Thừa kế là một trong những vấn đề quan trọng và gây nhiều tranh cãi trong pháp luật dân sự nói chung và đời sống thực tiễn nói riêng, trong đó có vấn đề về thừa kế theo di chúc. Vậy đối với di chúc, nội dung và hình thức của di chúc là gì?
Căn cứ vào Bộ luật dân sự 2015, Chúng tôi xin đưa ra tư vấn về vấn đề này như sau:
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Như vậy theo quy định của điều 624 Bộ luật dân sự 2015, di chúc là việc thể hiện ý chí của cá nhân chứ không phải pháp nhân, tổ chức (tức là pháp nhân, tổ chức không có quyền để lại di chúc) với mục đích là để chuyển tài sản thuộc sở hữu của mình cho cá nhân, tổ chức khác sau khi mình chết.
________________________________________
Hình thức của di chúc
Di chúc có hai hình thức chính là di chúc bằng văn bản và di chúc miệng
Di chúc bằng văn bản
– Di chúc bằng văn bản bao gồm:
+ Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng.
+ Di chúc bằng văn bản có người làm chứng.
+ Di chúc bằng văn bản có công chứng.
+ Di chúc bằng văn bản có chứng thực.
– Điều kiện có hiệu lực của di chúc bằng văn bản:
+ Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
+ Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
Di chúc bằng miệng
– Người để lại di sản thừa kế có thể lập di chúc miệng trong các trường hợp sau:
+ Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.
+ Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.
– Điều kiện có hiệu lực của di chúc bằng miệng:
Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Điều kiện chung của di chúc có hiệu lực
Ngoài ra để di chúc có hiệu lực thì di chúc phải tuân thủ các điều kiện chung ngoài các điều kiện trên:
– Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
– Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
________________________________________
Nội dung của di chúc
– Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:
+ Ngày, tháng, năm lập di chúc;
+ Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
+ Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
+ Di sản để lại và nơi có di sản.
+ Các nội dung khác
– Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.

15/09/2022

Quyền Đòi lại Nhà của Chủ Sở hữu
Căn cứ quy định tại Điều 2.9 Luật Xử lý vi phạm hành chính: “Chỗ ở là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật”.

Điều này có nghĩa là, mặc dù nhà ở thuộc quyền sở hữu hợp pháp của đối tượng A, nhưng nếu đã cho đối tượng B mượn hoặc ở nhờ thì trở thành ‘chỗ ở’ của B.

Điều 158 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“Điều 158. Tội xâm phạm chỗ ở của người khác
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm chỗ ở của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác;
b) Đuổi trái pháp luật người khác ra khỏi chỗ ở của họ;
c) Chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ;
d) Xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác.
…”

Ngoài ra, chủ sở hữu còn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản tài sản” nếu có hành vi gây hư hại đến tài sản của người mượn, người ở nhờ trong quá trình đòi lại nhà ở.

Như vậy, chủ sở hữu hoàn toàn có quyền đòi lại nhà ở thuộc sở hữu hợp pháp của mình. Tuy nhiên, việc đòi lại nhà phải trong khuôn khổ pháp luật. Nếu chủ sở hữu có các hành vi như nêu trên sẽ bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự.

Làm thế nào để Chủ Sở hữu Đòi lại Nhà ở Hợp pháp?
Lập hợp đồng cho mượn, cho ở nhờ

Để hạn chế rủi ro cho chủ sở hữu, việc cho mượn, cho ở nhờ nhà ở nên lập thành Hợp đồng, trong đó, nêu rõ thời hạn cho mượn, cho ở nhờ và quyền, nghĩa vụ của mỗi bên, đặc biệt là thỏa thuận về các trường hợp chủ sở hữu được quyền lấy lại nhà ở.

Trường hợp đã cho mượn, cho ở nhờ nhà ở nhưng không có hợp đồng hoặc không thỏa thuận về thời hạn

Bước 1: Gửi thông báo yêu cầu trả lại nhà trong một thời hạn nhất định

Căn cứ quy định tại Điều 499 Bộ luật Dân sự 2015:

“Điều 499. Quyền của bên cho mượn tài sản
1.Đòi lại tài sản ngay sau khi bên mượn đạt được mục đích nếu không có thỏa thuận về thời hạn mượn; nếu bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý.
2.Đòi lại tài sản khi bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thỏa thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý của bên cho mượn.

…”

Như vậy, chủ sở hữu phải báo trước cho người mượn, người ở nhờ về yêu cầu trả lại nhà trong một thời gian hợp lý (tốt nhất nên gửi thông báo bằng văn bản). Hiện tại, pháp luật không có quy định thời gian hợp lý là bao lâu mà phụ thuộc vào nhận định của Cơ quan có thẩm quyền giải quyết khi xảy ra tranh chấp. Thời hạn này được hiểu là thời gian hợp lý để người mượn, người ở nhờ nhà ở tìm chỗ ở mới.

Bước 2: yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết

Sau khi hết thời hạn chủ sở hữu đã thông báo mà người mượn, người ở nhờ vẫn không trả lại nhà thì chủ sở hữu có thể chọn 1 trong 2 phương án sau:

Phương án 1

Trình báo Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi có nhà ở để buộc chấm dứt hành vi vi phạm và xử phạt vi phạm hành chính đối với người mượn, người ở nhờ nhà ở về hành vi ‘chiếm giữ trái phép tài sản của người khác’.

Trong quá trình xử lý vi phạm hành chính, nếu nhận thấy có dấu hiệu tội phạm, Uỷ ban Nhân dân sẽ chuyển hồ sơ vụ việc đến cơ quan tiến hành tố tụng hình sự để giải quyết theo thẩm quyền.

Phương án 2

Khởi kiện tại Tòa án Nhân dân cấp huyện nơi có nhà ở để đòi lại nhà. Tòa án sẽ giải quyết vụ việc theo thủ tục tố tụng dân sự.

Những Điều cần Lưu ý trong Quá trình Đòi lại Nhà ở
Để tránh bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc phải bồi thường thiệt hại thì trong quá trình đòi lại nhà, chủ sở hữu không được thực hiện các hành vi sau:

Tự ý, ủy quyền hoặc thuê người khác thực hiện các hành vi uy hiếp, khống chế, đe dọa, dùng vũ lực buộc người mượn, người ở nhờ ra khỏi nhà hoặc cản trở quá trình sinh hoạt của họ;
Tự ý, ủy quyền hoặc thuê người khác đập phá, di chuyển đồ đạc, tài sản trong nhà.
Bài viết này chứa đựng kiến thức pháp luật và thuật ngữ chuyên môn, quý độc giả quan tâm đến quy định về đòi lại nhà ở hoặc giải quyết tranh chấp cho mượn tài sản theo Pháp luật Việt Nam.

TỪ VỤ ÁN "LẤY LẠI ĐẤT ĐÃ CHO CON - CHA BỊ KHỞI TỐ HÌNH SỰ" NGHĨ VỀ: TÌNH TRONG LUẬT PHÁP!    Dẫn nhập: "Năm 1997, ông Ch...
15/09/2022

TỪ VỤ ÁN "LẤY LẠI ĐẤT ĐÃ CHO CON - CHA BỊ KHỞI TỐ HÌNH SỰ" NGHĨ VỀ: TÌNH TRONG LUẬT PHÁP!

Dẫn nhập: "Năm 1997, ông Chiến cho vợ chồng con trai hơn 7.000 m2 đất nông nghiệp. Mấy năm sau, con ông mất, con dâu tiếp tục canh tác trên phần đất này. Năm 2010, ông Chiến chiếm lại khu đất nên con dâu khởi kiện. Tháng 4/2016, TAND tỉnh Hậu Giang xử phúc thẩm, tuyên ông Chiến phải giao trả đất cho con dâu nhưng ông không chấp hành bản án đã có hiệu lực này. Cơ quan thi hành án phải cưỡng chế; Tuy nhiên, ông Chiến không thực hiện, nhổ mốc cắm ranh, tiếp tục canh tác, dù chính quyền địa phương nhiều lần vận động, thuyết phục. Nên ông Chiến, 69 tuổi, đã bị Công an huyện Long Mỹ khởi tố, cho tại ngoại, về hành vi Không chấp hành án theo Điều 380 Bộ luật Hình sự" - Trích từ Báo điện tử Vnexpress.

Trong tâm thức của nhiều Bà con ta, vẫn luôn giữ một suy nghĩ sâu sắc là coi Con cái như một phần máu thịt tách rời từ Cha mẹ, yêu thương vô điều kiện - Cũng chính từ đó đã hình thành một quán niệm, những gì của Cha mẹ, cũng là của Con cái, những gì của Con cái, cũng là của Cha mẹ, mà không có một sự tách bạch nào cả. Trong khi dưới góc độ pháp lý, Con đã thành niên, có đủ năng lực hành vi dân sự, là một Chủ thể độc lập trong mọi quan hệ pháp luật. Chính sự khác nhau giữa nhận thức chủ quan và hiện thực khách quan là quy định của pháp luật, mới dẫn đến hệ quả đáng buồn như câu chuyện kể trên: Cha mẹ chỉ nghĩ đơn giản là trước đây cho, giờ không cho nữa thì lấy lại - Trong khi về phương diện pháp lý, nếu việc tặng cho đã hoàn thành, thì quyền sở hữu được chuyển giao, không thể tự ý lấy lại.

Mặc dầu vậy, khi đọc qua nội dung vụ việc nêu trên - Tác giả cho rằng, vấn đề pháp lý trong vụ việc, có lẽ không đơn giản như thế. Những thông tin nhỏ giọt trong Bài báo, không đủ để Chúng ta có thể kết luận tranh chấp dân sự đã được giải quyết đúng hay sai, ngoại trừ việc, vì Bản án đã có hiệu lực, Người phải thi hành án có điều kiện, nhưng không thi hành, nên bị Cơ quan điều tra khởi tố về hành vi không chấp hành án, là có cơ sở, bởi trong quan hệ pháp luật hình sự này, Cơ quan điều tra không có trách nhiệm xem xét tranh chấp dân sự đã được giải quyết như thế nào, mà chỉ xem xét khía cạnh Bản án dân sự đã có hiệu lực pháp luật hay chưa, Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án hay không mà thôi.

Quay lại vấn đề dân sự trong vụ tranh chấp trên - Chúng ta thấy rằng, có 2 quan hệ pháp luật đan xen vào nhau, nối tiếp nhau, có mối quan hệ qua lại với nhau, đó là: Giao dịch tặng cho quyền sử dụng đất; Và giao dịch thừa kế quyền sử dụng đất. Cả giao dịch này cần phải được xem xét đầy đủ, toàn diện, tổng thể trong vụ án, thì mới bảo đảm giải quyết đúng đắn vụ việc, cũng như bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của các Bên liên quan. Trên cơ sở đó, có 2 câu hỏi lớn liên quan đến vụ án này, đó là: (i) Việc tặng cho quyền sử dụng đất đã hoàn thành hay chưa? Và (ii) Vấn đề thừa kế đã được giải quyết như thế nào? Chúng ta sẽ tìm hiểu lần lượt từng vấn đề ngay sau đây.

1. Việc tặng cho quyền sử dụng đất đã hoàn thành hay chưa?!

Theo thông tin từ Bài báo thì "Năm 1997, ông Chiến cho vợ chồng con trai hơn 7.000 mét vuông đất nông nghiệp", nhưng Chúng ta không biết từ "cho" đang được dùng ở đây, thể hiện là ông Chiến đã tặng cho, hay chỉ là cho mượn, vì đây là hai giao dịch khác xa nhau. Nếu tặng cho thì coi như mất, còn chỉ là cho mượn thì đương nhiên được quyền lấy lại. Điều này, tương đối dễ hiểu!

Vấn đề còn lại là chứng cứ, nếu cho rằng ông Chiến đã cho tặng quyền sử dụng đất này, thì cần phải có Văn bản tặng cho hoặc/và Con trai ông Chiến đã thực hiện thủ tục đăng ký đất đai tại Cơ quan nhà nước có thẩm quyền, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Còn nếu không có bất kỳ chứng cứ nào, trong tất cả các chứng cứ vừa nếu, mọi việc chỉ là nói miệng, thì xem như không hề có việc tặng cho.

Hay nói cách khác, cũng giống như việc chuyển nhượng (mua bán) quyền sử dụng đất, việc tặng cho phải có chứng cứ giao dịch, phải thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định, thì giao dịch mới hoàn thành, và quyền sử dụng đất mới được chuyển giao - Bằng không, khi giao dịch chưa hoàn thành, thì quyền sử dụng đất vẫn thuộc ông Chiến. Ở đây, không thể dựa vào chi tiết Con trai ông Chiến đã từng canh tác, để nói rằng đã được tặng cho, vì cho mượn, cũng được canh tác vậy. Vì không có hồ sơ vụ án, nên phần này Tác giả chỉ phân tích về mặt lý thuyết pháp lý, nhằm giúp Bà con được gợi mở thêm góc nhìn pháp lý, phần quan trọng nhất, sẽ ở tiếp sau đây.

2. Vấn đề thừa kế đã được giải quyết như thế nào?

Chúng ta giả định rằng, việc ông Chiến cho Con trai 7.000 mét vuông đất là giao dịch đã hoàn thành, nhấn mạnh giả thiết là đã hoàn thành. Lúc này, khi Con trai ông Chiến mất, thì toàn bộ 7.000 mét vuông đất đó sẽ trở thành di sản thừa kế mà Con trai ông Chiến để lại (Nếu trước đây ông Chiến chỉ tặng cho Con trai mà không cho Con dâu) hoặc 3.500 mét vuông trong tổng số 7.000 mét vuông đất sẽ trở thành di sản thừa kế mà Con trai ông Chiến để lại (Nếu trước đây ông Chiến tặng cho cả Con trai và Con dâu, tức mỗi Người một nửa).

Cần lưu ý rằng, ông Chiến là Người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của Con trai ông, và ông Chiến là Chủ thể được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, cho nên ngay cả trước khi chết Con trai ông Chiến có lập di chúc để lại hết tài sản cho Vợ con, thì ông Chiến vẫn được thừa kế một phần di sản (Những Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc gồm: Cha mẹ đẻ, Vợ/chồng, con chưa đủ 18 tuổi, con trên 18 tuổi mà bị khuyết tật, bệnh không có khả năng lao động.... Những vấn đề này đã được Tác giả trình bày trong Bài viết về thừa kế, nên không nhắc lại ở đây).

Như vậy, trong mọi khả năng xẩy ra, kể cả tình huống xấu nhất, thì ông Chiến cũng chắc chắn phải được chia một phần thừa kế là quyền sử dụng đất trong số 7.000 mét vuông đất nêu trên, mà không thể mất trắng. Nếu Mẹ đẻ của Con trai ông Chiến (Tức vợ ông Chiến) còn sống, thì phần được hưởng lại càng nhiều. Ví dụ: Nếu Con trai ông Chiến không có con, trước đây ông Chiến cho cả Con trai và dâu 7.000 mét vuông, con trai ông Chiến chết không để lại di chúc, thì: Di sản thừa kế là 3.500 mét vuông đất, 3 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là Cha mẹ và Vợ, 3.500 mét vuông chia ba, thì Vợ chồng ông Chiến cũng được gần 2.400 mét vuông đất, đó là một con số không nhỏ. Còn nếu trước khi chết, Con trai ông Chiến lập di chúc để lại hết cho Vợ, thì do Vợ chồng ông Chiến là Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, nên vẫn sẽ được hưởng bằng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật, nghĩa rằng Vợ chồng ông Chiến cũng phải được hơn 1.500 mét vuông đất.

Tóm lại hiểu nôm na, cho dù bất kỳ chuyện gì xảy ra, tình huống xấu nhất ập đến, ông Chiến cũng vẫn phải được chia một phần đất nêu trên, mà không thể bị mất trắng, đó là điều chắc chắn - Và đó là tất cả những vấn đề pháp lý, mà Bà con Chúng ta có thể chốt lại được. Tuy nhiên, đây là một vụ án thuộc về "Tình trong Luật pháp" - Tức là không thể, không chỉ cứ dựa trên mỗi luật pháp một cách khô khan, sòng phẳng như việc giải quyết các tranh chấp về kinh doanh thương mại giữa các công ty. Bởi hệ lụy của những tranh chấp này, không chỉ là vấn đề tài sản, mà còn là tình thân của cả một Gia đình. Do đó, những Người giải quyết vụ việc, ngoài vấn đề phải giỏi về chuyên môn, thì cần phải có một nhân cách thánh thiện, có phật tâm, mong muốn hàn gắn những đổ vỡ, hay ít ra không tạo thêm những hố sâu ngăn cách - Thì công lý, mới hoàn thành sứ mệnh của nó.....

Viết tại Sài Gòn, ngày 27/05/2022 - Luật sư: Đặng Bá Kỹ!

17/04/2022

07 TRƯỜNG HỢP NGƯỜI LAO ĐỘNG NGHỈ VIỆC KHÔNG CẦN BÁO TRƯỚC

Theo Bộ Luật lao động 2019, các trường hợp người lao động được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ không cần thông báo trước:

- Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp bố trí không đúng theo hợp đồng do người sử dụng lao động gặp khó khăn đột xuất (bị thiên thai, hỏa hoạn, dịch bệnh … theo Điều 29 Bộ luật Lao động 2019).

- Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp vì NSDLĐ vì lý do bất khả kháng quy định tại khoản 4 Điều 97 Bộ luật Lao động 2019;

- Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

- Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

- Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của bác sĩ quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Lao động 2019;

- Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 Bộ luật Lao động 2019, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

- Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Bộ luật Lao động 2019 này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

17/04/2022

THAY ĐỔI NGƯỜI TRỰC TIẾP NUÔI CON SAU KHI LY HÔN
Sau khi thực hiện xong thủ tục ly hôn, bạn sẽ nhận được Quyết định hoặc Bản án ly hôn của Tòa án. Quyết định hoặc Bản án đó ghi rõ người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con nhưng đó chưa phải là kết quả cuối cùng. Sau khi ly hôn, hai vợ chồng có thể thỏa thuận lại hoặc thấy phía đối phương không còn đủ điều kiện chăm sóc con như trước nên muốn thay đổi người trực tiếp chăm con hay muốn giành quyền nuôi con,… Khi đó, bạn cần gửi hồ sơ yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn tới Tòa án nhân dân trực tiếp hoặc thông qua bưu điện.
Căn cứ thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được Tòa án nhân dân giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:
- Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;
- Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Ai có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Trên cơ sở đảm bảo lợi ích của con và có một trong các căn cứ nêu trên thì các cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:
- Người thân thích;
- Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
- Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
- Hội liên hiệp phụ nữ.
Đối với trường hợp con từ đủ 07 tuổi trở lên, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải được Tòa án xem xét nguyện vọng của con.
Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu nêu trên, Tòa án nhân dân huyện Ba Vì sẽ xem xét và có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Send a message to learn more

17/04/2022

📢 TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ CHỒNG
⚱️ Tài sản riêng của vợ chồng được quy định tại Điều 43 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:
“Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng
1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”
⚱️ Trong đó, tài sản riêng khác của vợ, chồng theo quy định của pháp luật hiện hành bao gồm:
• Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ;
• Tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác;
• Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng.
🎁 Trường hợp có vướng mắc pháp lý liên quan tới tài sản riêng của vợ chồng, bạn có thể để lại nội dung thông tin dưới phần bình hoặc hoặc nhắn tin để được tư vấn, hỗ trợ.

Send a message to learn more

Address

Tỉnh Tiền Giang

Opening Hours

Monday 07:30 - 17:00
Tuesday 07:30 - 17:00
Wednesday 07:30 - 17:00
Thursday 07:30 - 17:00
Friday 07:30 - 17:00
Saturday 08:00 - 17:00

Telephone

+84932378090

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật sư Tiền Giang - Luật sư Ngô Trung Hiếu posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Luật sư Tiền Giang - Luật sư Ngô Trung Hiếu:

Share