LUẬT SƯ QUẢNG NGÃI

Call Directions Website Contact the business

LUẬT SƯ QUẢNG NGÃI LUẬT SƯ QUẢNG NGÃI
Dân sự, Hình sự, Đất đai, Doanh nghiệp, Ly hôn, Thừa kế, Hành chính,...
- Dịch vụ pháp lý
- Tư vấn pháp luật miễn phí

HẾT THỜI HIỆU CHIA THỪA KẾ, NGƯỜI QUẢN LÝ ĐẤT CÓ ĐƯỢC HƯỞNG TOÀN BỘ?Người mẹ qua đời từ năm 1955, gần 70 năm sau các con...
14/10/2026

HẾT THỜI HIỆU CHIA THỪA KẾ, NGƯỜI QUẢN LÝ ĐẤT CÓ ĐƯỢC HƯỞNG TOÀN BỘ?

Người mẹ qua đời từ năm 1955, gần 70 năm sau các con mới tranh chấp đất. Một người cho rằng thời hiệu chia thừa kế đã hết nên mình phải được nhận toàn bộ 310m² đất vì đã quản lý trong nhiều năm. Nhưng cả hai cấp Tòa án đều không chấp nhận. Vì sao?

Đây là tình huống pháp lý đáng chú ý trong một bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Nam Định năm 2023.

1. Tranh chấp bắt nguồn từ ba người để lại di sản

Nguồn gốc tranh chấp là thửa đất 620m² của gia đình cụ Hỗ.

Cụ Hỗ có hai đời vợ. Người vợ đầu là cụ Mỵ, mất năm 1955. Sau đó, cụ Hỗ kết hôn với cụ Nụ. Cụ Hỗ mất năm 1981, cụ Nụ mất năm 2007.

Trong khi cụ Hỗ và cụ Mỵ không để lại di chúc, cụ Nụ có di chúc lập năm 2003, được UBND xã chứng thực.

Ông CH, con của cụ Hỗ và cụ Nụ, là người trực tiếp sinh sống, quản lý, sửa chữa nhà đất trong nhiều năm. Ông khởi kiện yêu cầu chia tài sản theo di chúc và pháp luật, mong muốn được nhận đất bằng hiện vật.

Bị đơn là ông H, con của cụ Hỗ và cụ Mỵ, không phủ nhận nguồn gốc đất nhưng đề nghị Tòa án xem xét tính hợp pháp của di chúc, xác định phần mình được hưởng và yêu cầu tháo dỡ bức tường do ông CH xây dựng.

Tranh chấp trở nên phức tạp khi ông CH yêu cầu áp dụng thời hiệu đối với di sản của những người đã chết từ nhiều thập kỷ trước.

2. Hết thời hiệu thừa kế có đồng nghĩa mất quyền đối với tài sản?

Theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu yêu cầu chia di sản là bất động sản là 30 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.

Đối với trường hợp người để lại di sản chết trước ngày 10/9/1990, việc xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu còn phải xem xét Án lệ số 26/2018/AL.

Trong vụ án, Tòa xác định thời hiệu yêu cầu chia di sản của cụ Hỗ và cụ Mỵ đã hết, trong khi thời hiệu đối với di sản của cụ Nụ vẫn còn.

Tuy nhiên, hết thời hiệu yêu cầu chia thừa kế không đồng nghĩa người đang quản lý tài sản đương nhiên được nhận toàn bộ quyền sử dụng đất trong mọi trường hợp.

Cần phân biệt giữa di sản thuộc quyền quản lý của người thừa kế và tài sản đã được xác lập là tài sản chung chưa chia.

Đây là ranh giới pháp lý quyết định vụ án.

3. Vì sao 310m² đất vẫn được chia cho hai người?

Hội đồng xét xử xác định cụ Mỵ có quyền đối với một nửa diện tích 620m², tương ứng 310m².

Đáng chú ý, hai người con còn sống của cụ Mỵ là bà CH1 và ông H đều xác nhận phần di sản này vẫn là tài sản chung chưa chia, trước đó không có thỏa thuận phân chia.

Tòa viện dẫn tiểu mục a.3 mục 2.4 Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP để giải quyết theo quan hệ tài sản chung.

Theo đó, 310m² được chia cho bà CH1 và ông H, mỗi người 155m².

Bà CH1 tự nguyện để phần mình được hưởng cho ông CH.

Như vậy, ông CH được nhận 155m² không phải vì đã quản lý đất lâu năm, mà xuất phát từ phần quyền của bà CH1 được Tòa công nhận và sự tự nguyện chuyển giao của bà.

Tại cấp phúc thẩm, kết luận giám định của Viện Khoa học hình sự còn xác nhận chữ viết, chữ ký trên đơn thể hiện ý kiến về tài sản chung chưa chia là của chính bà CH1.

Đây là chứng cứ quan trọng củng cố cơ sở giải quyết vụ án.

4. Vì sao người quản lý đất không được nhận toàn bộ 310m²?

Ông CH kháng cáo, đề nghị giao toàn bộ 310m² di sản của cụ Mỵ cho mình vì gia đình ông đã trực tiếp quản lý tài sản trong thời gian dài.

Tuy nhiên, Tòa án không chấp nhận.

Bởi lẽ, khi xác định phần đất này là tài sản chung chưa chia của những người có quyền, việc một người đang quản lý thực tế không tự động làm mất quyền của người còn lại.

Đối với phần tài sản liên quan đến cụ Hỗ và cụ Nụ, Tòa còn xem xét quá trình sử dụng đất của ông CH và ông K, đồng thời ghi nhận việc hai người đã quản lý các phần đất riêng biệt trong nhiều năm.

Kết quả, cấp sơ thẩm giao cho vợ chồng ông CH 375m², ông K 90m² và ông H 155m²; phần đất 200m² được giao ông H quản lý làm nơi thờ cúng.

Cấp phúc thẩm bác kháng cáo của ông CH và bà CH1, giữ nguyên toàn bộ bản án sơ thẩm.

5. Giá trị pháp lý cần rút ra

Vụ án cho thấy thời hiệu thừa kế là vấn đề không thể xem xét tách rời nguồn gốc tài sản, quan hệ sở hữu và ý chí của những người có quyền.

Đặc biệt, cần phân biệt ba vấn đề:

Hết thời hiệu yêu cầu chia di sản: Là giới hạn pháp luật đặt ra đối với việc yêu cầu phân chia thừa kế.

Tài sản chung chưa chia: Có thể phát sinh quan hệ tranh chấp tài sản chung khi đáp ứng các điều kiện pháp luật và có chứng cứ xác lập.

Người quản lý di sản: Không phải trong mọi trường hợp đều đương nhiên được nhận toàn bộ tài sản chỉ vì đã quản lý lâu năm.

Bài học quan trọng nhất: Muốn xác định ai được hưởng đất sau khi hết thời hiệu thừa kế, phải làm rõ quyền đối với tài sản đã được xác lập như thế nào, có thỏa thuận tài sản chung hay không và ai là người có quyền hợp pháp.

Chỉ căn cứ vào thời gian quản lý đất để yêu cầu nhận toàn bộ tài sản là chưa đủ cơ sở pháp lý.
==============================
LUẬT SƯ QUẢNG NGÃI - Công ty Luật LCA chuyên ly hôn, đất đai, thừa kế, hình sự, doanh nghiệp
- Địa chỉ: 127 Nguyễn Tự Tân, phường Nghĩa Lộ, tỉnh Quảng Ngãi
- Hotline: 0905333560

Phân biệt người quản lý di sản và người chiếm hữu di sản.=============================LUẬT SƯ QUẢNG NGÃI - Công ty Luật ...
14/10/2026

Phân biệt người quản lý di sản và người chiếm hữu di sản.
=============================
LUẬT SƯ QUẢNG NGÃI - Công ty Luật LCA chuyên ly hôn, đất đai, thừa kế, hình sự, doanh nghiệp
- Địa chỉ: 127 Nguyễn Tự Tân, phường Nghĩa Lộ, tỉnh Quảng Ngãi
- Hotline: 0905333560

Quy trình đăng ký an toàn vệ sinh thực phẩm 2026=============================LUẬT SƯ QUẢNG NGÃI - Công ty Luật LCA chuyê...
13/10/2026

Quy trình đăng ký an toàn vệ sinh thực phẩm 2026
=============================
LUẬT SƯ QUẢNG NGÃI - Công ty Luật LCA chuyên ly hôn, đất đai, thừa kế, hình sự, doanh nghiệp
- Địa chỉ: 127 Nguyễn Tự Tân, phường Nghĩa Lộ, tỉnh Quảng Ngãi
- Hotline: 0905333560

CHỈ 4/7 NGƯỜI CON KÝ CHIA THỪA KẾ, BA SỔ ĐỎ CÓ NGUY CƠ BỊ HỦYCha mẹ mất không để lại di chúc, một người con cùng các anh...
13/10/2026

CHỈ 4/7 NGƯỜI CON KÝ CHIA THỪA KẾ, BA SỔ ĐỎ CÓ NGUY CƠ BỊ HỦY

Cha mẹ mất không để lại di chúc, một người con cùng các anh chị em lập văn bản phân chia toàn bộ đất thừa kế. Văn bản đã được công chứng, đất đã sang tên vợ chồng người con và tách thành ba sổ đỏ. Thế nhưng, một người anh khởi kiện vì không hề ký vào văn bản.

Đây là tranh chấp được giải quyết tại Bản án số 147/2024/DS-PT ngày 03/4/2024 của TAND cấp cao tại Hà Nội.

Điều đáng chú ý là cấp sơ thẩm chỉ tuyên văn bản phân chia di sản vô hiệu một phần, trong khi cấp phúc thẩm xác định phải vô hiệu toàn bộ, đồng thời hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại.

1. Công chứng rồi, vì sao vẫn phát sinh tranh chấp?

Vợ chồng cụ S3 và cụ R có bảy người con, để lại thửa đất diện tích 3.078m² theo giấy chứng nhận cũ. Hai cụ lần lượt qua đời năm 2009 và 2019, không để lại di chúc.

Ngày 02/10/2019, bốn người con ký văn bản thỏa thuận phân chia toàn bộ di sản cho ông C. Trên cơ sở đó, quyền sử dụng đất được đăng ký đứng tên ông C và vợ, sau đó tách thành ba thửa.

Ông S, một người con khác, khởi kiện yêu cầu tuyên văn bản phân chia di sản vô hiệu, hủy ba giấy chứng nhận và chia thừa kế theo pháp luật.

Phía bị đơn phản đối, cho rằng anh chị em đã thống nhất giao đất cho mình; ông S biết và đồng ý nhưng không ký vì thiếu giấy tờ tùy thân. Đồng thời, vợ chồng ông C là người trực tiếp chăm sóc cha mẹ, quản lý và đầu tư cải tạo đất nhiều năm.

Vấn đề đặt ra: Sự đồng thuận được trình bày bằng lời có thể thay thế quyền tham gia định đoạt của những người thừa kế không ký văn bản hay không?

2. Bốn người thừa kế không thể định đoạt toàn bộ di sản

Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, các con thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha mẹ.

Tuy nhiên, vụ án còn phức tạp hơn bởi người cha mất năm 2009, người mẹ mất năm 2019 và một người con mất giữa hai thời điểm này.

Do đó, phải xác định riêng thời điểm mở thừa kế, người thừa kế của từng người chết và trường hợp thừa kế thế vị theo Điều 652 Bộ luật Dân sự.

Cấp phúc thẩm nhận định văn bản năm 2019 chỉ có chữ ký của bốn trong bảy người con, không có sự tham gia hợp lệ của các chủ thể còn quyền đối với di sản.

Theo Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực về chủ thể, ý chí và nội dung.

Người thừa kế chỉ có quyền định đoạt phần quyền hợp pháp của mình, không thể tự ý phân chia toàn bộ bất động sản thuộc quyền chung của những người khác.

Đáng chú ý, văn bản đã được công chứng cũng không khắc phục được khiếm khuyết về quyền định đoạt.

3. Vì sao không thể chỉ tuyên vô hiệu một phần?

Cấp sơ thẩm tuyên văn bản phân chia di sản vô hiệu một phần, đồng thời công nhận một số việc tặng cho phần thừa kế.

Tuy nhiên, cấp phúc thẩm cho rằng cách giải quyết này không phù hợp với Điều 130 Bộ luật Dân sự 2015.

Bởi di sản là bất động sản chưa được chia. Bản án sơ thẩm không xác định được phần văn bản vô hiệu tương ứng diện tích nào, vị trí nào, ranh giới ra sao.

Quan trọng hơn, phần còn lại của văn bản không thể tồn tại độc lập để tiếp tục có hiệu lực và thi hành.

Vì vậy, cấp phúc thẩm xác định phải tuyên vô hiệu toàn bộ văn bản phân chia di sản ngày 02/10/2019.

Đây là điểm pháp lý then chốt: Không phải giao dịch nào có phần nội dung trái pháp luật cũng có thể tách phần đó ra để giữ hiệu lực phần còn lại.

4. Vì sao cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm?

Ngoài sai sót về hiệu lực văn bản, cấp phúc thẩm phát hiện nhiều vấn đề chứng cứ chưa được làm rõ.

Diện tích đất thể hiện trong hồ sơ có sự chênh lệch giữa 3.078m², 2.912m² và 2.721m² sau khi hiến đất làm đường. Hồ sơ đo đạc còn xuất hiện diện tích 3.088,4m² nhưng chưa được đối chiếu, xác minh đầy đủ.

Cấp sơ thẩm cũng chưa xác định chính xác các kỷ phần thừa kế tương ứng với hai thời điểm mở thừa kế.

Đặc biệt, cấp phúc thẩm vẫn ghi nhận công sức của vợ chồng ông C trong việc chăm sóc cha mẹ, quản lý và bảo quản di sản. Tuy nhiên, công sức đóng góp không làm phát sinh quyền tự ý định đoạt toàn bộ di sản của những người khác.

Theo khoản 3 Điều 308 và khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, khi có vi phạm nghiêm trọng mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục, Tòa án có quyền hủy án để xét xử lại.

Kết quả, TAND cấp cao tại Hà Nội hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về TAND tỉnh Hải Dương giải quyết lại.

5. Bài học pháp lý từ vụ án

Vụ án cho thấy ba nguyên tắc cần đặc biệt lưu ý trong tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất.

Thứ nhất, văn bản phân chia di sản dù đã công chứng vẫn có thể vô hiệu nếu xâm phạm quyền của người thừa kế không tham gia.

Thứ hai, phải phân biệt rõ vô hiệu một phần với vô hiệu toàn bộ; phần giao dịch còn lại chỉ được duy trì khi có khả năng tồn tại độc lập.

Thứ ba, việc chia thừa kế phải dựa trên khối di sản, hàng thừa kế và kỷ phần được xác định chính xác bằng chứng cứ.

Đáng lưu ý, cấp phúc thẩm chưa trực tiếp tuyên hủy ba sổ đỏ trong phần quyết định cuối cùng. Tòa xác định việc cấp giấy trên cơ sở văn bản phân chia vô hiệu là không đúng, nhưng do phải hủy án sơ thẩm nên các yêu cầu này sẽ được giải quyết lại.

Thông điệp pháp lý quan trọng nhất: Công chứng không thể hợp pháp hóa việc định đoạt tài sản vượt quá quyền của mình. Và sổ đỏ được cấp trên cơ sở một giao dịch không hợp pháp vẫn có thể trở thành đối tượng bị yêu cầu hủy tại Tòa án.
==============================
LUẬT SƯ QUẢNG NGÃI - Công ty Luật LCA chuyên ly hôn, đất đai, thừa kế, hình sự, doanh nghiệp
- Địa chỉ: 127 Nguyễn Tự Tân, phường Nghĩa Lộ, tỉnh Quảng Ngãi
- Hotline: 0905333560

Phân biệt chi tiết thừa kế chuyển tiếp và thừa kế thế vị.==============================LUẬT SƯ QUẢNG NGÃI - Công ty Luật...
13/10/2026

Phân biệt chi tiết thừa kế chuyển tiếp và thừa kế thế vị.
==============================
LUẬT SƯ QUẢNG NGÃI - Công ty Luật LCA chuyên ly hôn, đất đai, thừa kế, hình sự, doanh nghiệp
- Địa chỉ: 127 Nguyễn Tự Tân, phường Nghĩa Lộ, tỉnh Quảng Ngãi
- Hotline: 0905333560

QUÁ THỜI HIỆU YÊU CẦU CHIA DI SẢN THỪA KẾ, DI SẢN SẼ THUỘC VỀ AI?Một vấn đề thường phát sinh trong tranh chấp thừa kế là...
13/10/2026

QUÁ THỜI HIỆU YÊU CẦU CHIA DI SẢN THỪA KẾ, DI SẢN SẼ THUỘC VỀ AI?

Một vấn đề thường phát sinh trong tranh chấp thừa kế là cha mẹ qua đời đã nhiều năm, di sản vẫn do một người con quản lý, sử dụng, trong khi những người thừa kế khác chưa từng yêu cầu phân chia. Đến khi phát sinh mâu thuẫn, một bên cho rằng tài sản vẫn là di sản chung, còn bên đang quản lý lại cho rằng thời hiệu thừa kế đã hết nên tài sản đương nhiên thuộc về mình.

Vậy pháp luật giải quyết vấn đề này như thế nào?

Trước hết, cần hiểu rằng hết thời hiệu yêu cầu chia di sản không đồng nghĩa với việc tài sản đương nhiên thuộc về bất kỳ ai đang chiếm hữu hoặc sử dụng tài sản đó.

⚖️ Theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Hết thời hạn này, pháp luật xác định di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý thì việc xác định chủ thể có quyền đối với di sản được thực hiện theo những căn cứ khác mà điều luật quy định.

1️⃣ Thứ nhất, di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản.

Đây là trường hợp được pháp luật ưu tiên xác định khi thời hiệu yêu cầu chia di sản đã hết.

Tuy nhiên, cần đặc biệt chú ý hai yếu tố: người đó phải có tư cách người thừa kế và thực tế đang quản lý di sản.

Chẳng hạn, cha mẹ qua đời để lại một thửa đất, người con út tiếp tục sinh sống, quản lý và sử dụng đất trong nhiều năm, trong khi những người con khác không thực hiện quyền yêu cầu chia di sản trong thời hiệu luật định.

Khi phát sinh tranh chấp, nếu có đủ căn cứ xác định thời hiệu đã hết và người con út là người thừa kế đang quản lý di sản, thì có cơ sở áp dụng khoản 1 Điều 623 để xác định quyền đối với tài sản.

2️⃣ Thứ hai, nếu không có người thừa kế đang quản lý di sản thì giải quyết thế nào?

Pháp luật không mặc nhiên xác định di sản thuộc về người có quan hệ huyết thống gần nhất hoặc người đang sử dụng tài sản trên thực tế.

Theo Điều 623, nếu không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản thuộc về người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 Bộ luật Dân sự. Trường hợp cũng không có người chiếm hữu theo quy định này thì di sản thuộc về Nhà nước.

Như vậy, người thừa kế đang quản lý di sản và người chiếm hữu tài sản theo Điều 236 là hai căn cứ pháp lý khác nhau, không nên đánh đồng khi giải quyết tranh chấp.

3️⃣ Thứ ba, việc xác định hết thời hiệu phải được xem xét thận trọng.

Không phải cứ lấy năm hiện tại trừ đi năm người để lại di sản chết, thấy quá 30 năm là có thể kết luận ngay yêu cầu chia thừa kế không còn được xem xét.

Đối với những trường hợp mở thừa kế trước ngày 10/9/1990, việc xác định thời hiệu còn phải xem xét các quy định chuyển tiếp và hướng dẫn áp dụng pháp luật có liên quan. Ngoài ra, những tình tiết ảnh hưởng đến việc tính thời hiệu cũng cần được đánh giá trong từng vụ việc cụ thể.

Đặc biệt, trong quá trình giải quyết tranh chấp, còn phải làm rõ nguồn gốc tài sản, tư cách người thừa kế, quá trình quản lý di sản và các thỏa thuận giữa những người có quyền lợi liên quan.

Điểm đáng lưu ý nhất của Điều 623 Bộ luật dân sự 2015 là pháp luật không chỉ đặt ra giới hạn thời gian để yêu cầu chia di sản, mà còn thiết lập cơ chế xác định chủ thể có quyền đối với di sản sau khi thời hiệu kết thúc.

Vì vậy, trong tranh chấp thừa kế, việc chứng minh mình thuộc hàng thừa kế theo pháp luật mới chỉ là một phần của vấn đề. Muốn bảo vệ quyền lợi, người thừa kế còn phải quan tâm đến thời điểm mở thừa kế, thời hiệu yêu cầu chia di sản và tình trạng quản lý tài sản trên thực tế.

📌Quyền thừa kế được pháp luật bảo vệ, nhưng việc thực hiện quyền đó phải đặt trong những giới hạn và điều kiện mà pháp luật quy định.
===========================
LUẬT SƯ QUẢNG NGÃI - Công ty Luật LCA chuyên ly hôn, đất đai, thừa kế, hình sự, doanh nghiệp
- Địa chỉ: 127 Nguyễn Tự Tân, phường Nghĩa Lộ, tỉnh Quảng Ngãi
- Hotline: 0905333560

Thủ tục làm giấy chứng tử.==============================LUẬT SƯ QUẢNG NGÃI - Công ty Luật LCA chuyên ly hôn, đất đai, th...
12/10/2026

Thủ tục làm giấy chứng tử.
==============================
LUẬT SƯ QUẢNG NGÃI - Công ty Luật LCA chuyên ly hôn, đất đai, thừa kế, hình sự, doanh nghiệp
- Địa chỉ: 127 Nguyễn Tự Tân, phường Nghĩa Lộ, tỉnh Quảng Ngãi
- Hotline: 0905333560

LÀ CON NUÔI DUY NHẤT VẪN KHÔNG ĐƯỢC NHẬN NHÀ ĐẤT THỪA KẾ: VÌ SAO?Cha mẹ nuôi qua đời, người con nuôi duy nhất khởi kiện ...
12/10/2026

LÀ CON NUÔI DUY NHẤT VẪN KHÔNG ĐƯỢC NHẬN NHÀ ĐẤT THỪA KẾ: VÌ SAO?

Cha mẹ nuôi qua đời, người con nuôi duy nhất khởi kiện đòi lại căn nhà trị giá hơn 1,6 tỷ đồng. Cấp sơ thẩm tuyên giao nhà cho người con. Nhưng đến phúc thẩm, toàn bộ kết quả bị đảo ngược: người con không được nhận nhà, còn người được cha mẹ chỉ định trong di chúc tiếp tục quản lý tài sản.

Đây là tình huống pháp lý đáng chú ý trong Bản án số 165/2024/DS-PT ngày 10/7/2024 của TAND tỉnh Sóc Trăng.

Vụ án đặt ra một vấn đề quan trọng: Người con nuôi hợp pháp có đương nhiên được hưởng toàn bộ di sản khi cha mẹ nuôi qua đời mà không có con ruột?

1. Người con nuôi yêu cầu hủy di chúc, đòi lại nhà đất

Vợ chồng cụ S1 và cụ T3 không có con ruột, chỉ có một người con nuôi là ông T.

Trước khi qua đời vào năm 2013, hai cụ lập di chúc ngày 21/5/2012, giao căn nhà gắn liền với diện tích đất 53,8m² cho bà H, một người họ hàng đã sống cùng và chăm sóc hai cụ trong những năm cuối đời.

Không đồng ý, ông T khởi kiện yêu cầu hủy toàn bộ di chúc và buộc bà H giao trả nhà đất.

Nguyên đơn cho rằng cha mẹ nuôi là người Hoa, không sử dụng thành thạo tiếng Việt nên chữ viết, chữ ký trong di chúc có dấu hiệu không xác thực. Đồng thời, giấy khám sức khỏe trước thời điểm lập di chúc không đủ chứng minh hai cụ còn minh mẫn.

Ngược lại, bị đơn khẳng định di chúc được lập tự nguyện, có chứng thực của UBND cấp xã. Bà cũng trình bày rằng mình là người trực tiếp chăm sóc hai cụ khi đau yếu, còn người con nuôi đã ra ở riêng từ lâu.

Đáng chú ý, những người liên quan còn phản đối tư cách thừa kế của ông T vì cho rằng không có giấy tờ đăng ký nhận con nuôi hợp pháp.

Như vậy, tranh chấp thực chất xoay quanh hai vấn đề độc lập: tư cách người thừa kế và hiệu lực của di chúc.

2. Không có giấy chứng nhận nuôi con nuôi, có mất quyền thừa kế?

Đây là tình tiết đầu tiên được cấp phúc thẩm làm rõ.

Hồ sơ có giấy khai sinh lập năm 1983, thể hiện ông T là con của hai cụ. Đặc biệt, chính trong di chúc năm 2012, hai cụ xác nhận không có con chung và chỉ có một người con nuôi là ông T.

Từ những chứng cứ này, Hội đồng xét xử không chấp nhận lập luận phủ nhận quan hệ con nuôi.

Về nguyên tắc, Điều 676 Bộ luật Dân sự 2005, tương ứng Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, xác định con nuôi thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha mẹ nuôi.

Tuy nhiên, có tư cách người thừa kế không đồng nghĩa đương nhiên được nhận toàn bộ tài sản của người chết.

Khi người để lại di sản có di chúc hợp pháp, việc phân chia tài sản trước hết phải tôn trọng ý chí định đoạt của họ, trừ những giới hạn mà pháp luật quy định.

Đây chính là ranh giới pháp lý quyết định vụ án.

3. Vì sao di chúc bị nghi ngờ nhưng vẫn được công nhận hợp pháp?

Nguyên đơn đưa ra nhiều nghi vấn về chữ ký, ngôn ngữ và tình trạng sức khỏe của người lập di chúc.

Tuy nhiên, kết quả xác minh và giám định không đủ cơ sở chứng minh di chúc giả mạo hoặc được lập khi hai cụ mất khả năng nhận thức.

Cụ thể, cán bộ tư pháp và người chứng thực xác nhận hai cụ trực tiếp đến UBND trình bày nguyện vọng lập di chúc, đọc lại nội dung, đồng ý và ký trước mặt người có thẩm quyền.

Nhiều người làm chứng cũng xác nhận hai cụ sử dụng thành thạo tiếng Việt trong hoạt động buôn bán.

Đối với chữ ký, một kết luận giám định xác định chữ ký của cụ S1 là thật; kết luận khác không đủ cơ sở kết luận, chứ không xác định chữ ký bị giả mạo.

Theo các Điều 652, 653 và 658 Bộ luật Dân sự 2005, việc đánh giá tính hợp pháp của di chúc phải dựa trên điều kiện về ý chí, năng lực nhận thức, nội dung và hình thức.

Một kết luận giám định chưa đủ cơ sở xác định chữ ký không đồng nghĩa với kết luận chữ ký giả.

Đó là điểm đặc biệt quan trọng trong đánh giá chứng cứ của vụ án.

4. Giao nhà cho người khác quản lý có đồng nghĩa tặng cho tài sản?

Điểm pháp lý sâu sắc nhất nằm ở nội dung di chúc.

Hai cụ không đơn thuần để lại tài sản cho bà H toàn quyền định đoạt, mà thể hiện nguyện vọng giao căn nhà cho bà quản lý, sử dụng làm nơi thờ cúng, không được chuyển nhượng.

Theo lời khai của cán bộ chứng thực, hai cụ muốn giữ căn nhà làm nhà tổ, tránh việc tài sản bị bán sau khi qua đời.

Quy định tại Điều 670 Bộ luật Dân sự 2005, tương ứng Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015, cho phép người lập di chúc dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng và chỉ định người quản lý.

Di sản dùng vào việc thờ cúng có chế độ pháp lý khác với tài sản được chia cho người thừa kế để sở hữu riêng.

Do đó, cần phân biệt giữa người được hưởng di sản và người được giao quản lý di sản theo ý chí của người lập di chúc.

Trong vụ án này, cấp phúc thẩm xác định nguyện vọng thực sự của hai cụ là duy trì căn nhà phục vụ việc thờ cúng và giao bà H quản lý.

5. Sơ thẩm giao nhà cho con nuôi, phúc thẩm bác yêu cầu

Cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện, buộc bà H giao nhà đất cho ông T và ông T phải hoàn trả cho bà H hơn 320 triệu đồng.

Tuy nhiên, cấp phúc thẩm nhận định việc sơ thẩm xác định di chúc không hợp pháp là không phù hợp với chứng cứ.

Tòa phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm và không chấp nhận toàn bộ yêu cầu đòi lại nhà đất của nguyên đơn.

Đồng thời, Tòa vẫn công nhận quan hệ con nuôi của ông T, bác lập luận cho rằng ông không có tư cách thừa kế.

Kết quả này cho thấy: Người con nuôi không thua kiện vì không phải con hợp pháp, mà vì di chúc của cha mẹ nuôi được xác định có hiệu lực và tài sản đã được định đoạt cho mục đích thờ cúng.

Góc nhìn pháp lý

Vụ án là minh chứng rõ nét cho nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt tài sản của người lập di chúc.

Khi giải quyết tranh chấp thừa kế, không thể chỉ căn cứ vào quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng hoặc việc ai có công chăm sóc người chết để xác định người được nhận tài sản.

Điều cần làm rõ là di chúc có hợp pháp không, nội dung định đoạt thực sự là gì và người được chỉ định có tư cách người hưởng di sản hay người quản lý di sản.

Bài học quan trọng nhất: Là con nuôi hợp pháp thì có quyền thừa kế theo pháp luật, nhưng không có nghĩa được quyền phủ nhận di chúc hợp pháp của cha mẹ nuôi. Đặc biệt, tài sản đã được dành cho việc thờ cúng không thể mặc nhiên coi là di sản để chia theo hàng thừa kế.
===============================
LUẬT SƯ QUẢNG NGÃI - Công ty Luật LCA chuyên ly hôn, đất đai, thừa kế, hình sự, doanh nghiệp
- Địa chỉ: 127 Nguyễn Tự Tân, phường Nghĩa Lộ, tỉnh Quảng Ngãi
- Hotline: 0905333560

Hồ sơ cần thiết khi khai nhận di sản thừa kế.==============================LUẬT SƯ QUẢNG NGÃI - Công ty Luật LCA chuyên ...
12/10/2026

Hồ sơ cần thiết khi khai nhận di sản thừa kế.
==============================
LUẬT SƯ QUẢNG NGÃI - Công ty Luật LCA chuyên ly hôn, đất đai, thừa kế, hình sự, doanh nghiệp
- Địa chỉ: 127 Nguyễn Tự Tân, phường Nghĩa Lộ, tỉnh Quảng Ngãi
- Hotline: 0905333560

Address

127 Nguyễn Tự Tân, P. Trần Phú, TP. Quảng Ngãi
Quang Ngai

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when LUẬT SƯ QUẢNG NGÃI posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to LUẬT SƯ QUẢNG NGÃI:

Shortcuts

Share