05/06/2019
Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 61 được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135 thì “Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác". Điều 28 Nghị định số 61 quy định về giá trị pháp lý của vi bằng như sau: “Vi bằng có giá trị chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án. Vi bằng là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.”
Vi bằng được Thừa phát lại lập chỉ với một mục đích duy nhất là tạo lập chứng cứ để tổ chức, cá nhân tùy nghi sử dụng trong xét xử hoặc các quan hệ pháp lý khác. Thừa phát lại phải chịu trách nhiệm về tính xác thực của những gì mình đã ghi nhận trong vi bằng, do đó, vi bằng của Thừa phát lại đảm bảo tính khách quan của sự kiện, hành vi mà Thừa phát lại ghi nhận.
Trong hoạt động lập vi bằng để ghi nhận việc giao tiền, tài sản liên quan đến giao dịch nhà, đất cần lưu ý một số vấn đề như sau:
• Một là, vi bằng là văn bản có giá trị chứng cứ, không phải là hợp đồng, giao dịch. Do đó, không thể mua bán nhà, đất bằng vi bằng mà phải mua bán qua công chứng. Khi thực hiện hợp đồng công chứng, các bên có thể yêu cầu thừa phát lại lập vi bằng để ghi nhận việc bàn giao tiền, tài sản, ghi nhận hiện trạng tài sản để làm chứng cứ.
• Hai là, không nên mua bán nhà, đất chưa đủ điều kiện giao dịch theo quy định của pháp luật, mua bán bằng giấy tay. Trong trường hợp này, vi bằng của thừa phát lại chỉ có giá trị chứng cứ chứng minh các bên có thực hiện giao dịch, làm cơ sở để Tòa án giải quyết, xam xét công nhận hợp đồng, giao dịch hoặc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Vi bằng không phải là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận cho người mua.
• Ba là, người mua cần yêu cầu Thừa phát lại giải thích rõ giá trị pháp lý của vi bằng, phải đảm bảo mình đã hiểu rõ trước khi giao tiền, tài sản để thực hiện hợp đồng, giao dịch. Vì khác với hợp đồng công chứng, chỉ có giá trị pháp lý khi đã được công chứng viên ký tên, đóng dấu phát hành, vi bằng ghi nhận lại sự kiện, hành vi diễn ra trước mặt Thừa phát lại. Do vậy, nếu như các bên đã giao tiền, tài sản, mà sau đó phát sinh tranh chấp, hoặc đổi ý, thì cho dù các bên chưa ký tên vào vi bằng, hoặc thừa phát lại chưa phát hành vi bằng, hoặc vi bằng chưa đăng ký tại Sở tư pháp hoặc thậm chí vi bằng bị từ chối đăng ký thì rõ ràng người mua cũng đã giao tiền, tài sản trên thực tế. Lúc đó, việc đòi lại tiền, tài sản đã giao sẽ rất phức tạp.
• Bốn là, nên hiểu đúng về vi bằng của Thừa phát lại. Vi bằng của Thừa phát lại là chứng cứ trong tố tụng, không phải là hình thức mua bán nhà đất. Việc hiểu sai giá trị chứng cứ của vi bằng làm chệch hướng hoạt động quản lý về đất đai cũng như quản lý về thừa phát lại.
Tuy nhiên, cũng có tình trạng Thừa phát lại chưa giải thích rõ giá trị pháp lý của vi bằng, làm một số đối tượng lợi dụng, lừa gạt người dân nhầm tưởng giá trị của vi bằng. Vì vậy, việc giải thích giá trị của vi bằng là yêu cầu bắt buộc đối với thừa phát lại trước khi lập vi bằng.
Mỗi cơ quan đều có chức năng, nhiệm vụ riêng. Việc lập vi bằng của Thừa phát lại là để tạo lập chứng cứ mang lại lợi ích cho người dân, phòng ngừa tranh chấp, giảm tải hoạt động của Tòa án khi giải quyết vụ án. Cần tuyên truyền sâu rộng cho cán bộ công chức, người dân về vi bằng của thừa phát lại, để hiểu đúng về giá trị của vi bằng, và biết sử dụng vi bằng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
-----------
Bài viết đã trích đăng trên báo Pháp Luật:
Trang báo điện tử Báo Pháp Luật TP. Hồ Chí Minh. Chuyên cung cấp các thông tin nóng nhất, mới nhất về các vấn đề thời sự - xã hội Pháp Luật, các vấn đề liên quan đến An ninh trật tự ở Việt Nam.