12/10/2016
BA CUỘC DI CƯ ĐÁNG NHỚ CỦA DÂN TỘC VIỆT TRONG LỊCH SỬ CẬN ĐẠI
Kể từ cuộc di cư của dân tộc Việt hơn ba trăm năm trước – thời Trịnh Nguyễn phân tranh, chúng ta có thể liệt kê ít nhất 3 cuộc di cư mang đậm dấu ấn lịch sử trong lịch sử cận đại.
1. Cuộc di cư năm 1954 có tên là Chiến dịch Con đường đến Tự do (Operation Passage to Freedom) là một cuộc di cư của gần một triệu người Việt từ miền Bắc Việt Nam (nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) đến miền Nam Việt Nam (nước Việt Nam Cộng hòa) trong những năm 1954–1955. Gần 310.000 người được đưa đến miền Nam bởi Hải quân Hoa Kỳ, và 500.000 dân được đưa đến Việt Nam Cộng hòa bởi quân đội Pháp. Ngược lại, có khoảng 14.000–45.000 cư dân và 100.000 binh sĩ Việt Minh tập kết ra miền Bắc.
Ngoài những người di cư vào Nam đa phần là người Công giáo vì nhiều lý do khác nhau (khoảng 800 ngàn trên tổng số 1 triệu người di cư từ Bắc vào Nam là người Công giáo), số còn lại là những người thuộc khuynh hướng chính trị chống cộng sản, những người có liên hệ với chính quyền Pháp hay chính phủ quốc gia, thành phần tư sản thành thị và những gia đình nông thôn lo ngại vì chính sách cải cách ruộng đất. Thêm vào đó là những người thuộc dân tộc thiểu số đã từng theo quân đội Pháp chống Việt Minh. Trong đó có khoảng 45.000 người Nùng vùng Móng Cái và 2.000 người Thái và Mèo từ Sơn La và Điện Biên
Cuộc di cư này xảy ra sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ đại thắng quân Pháp, Hiệp định Genève được ký kết nhằm khôi phục lại hòa bình ở Đông Dương. Hiệp định nêu rằng sông Bến Hải, vĩ tuyến 17 Bắc được dùng làm giới tuyến quân sự tạm thời, chia Việt Nam thành hai vùng: chính quyền và quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tập trung tại miền Bắc, còn chính quyền và quân đội khối Liên hiệp Pháp tập trung tại miền Nam. Sự phân chia Việt Nam ban đầu chỉ là tạm thời và dự định sẽ có một cuộc tổng tuyển cử vào năm 1956 nhằm thống nhất hai miền dưới một chính phủ.
2. Cuộc di cư năm 1975 -1980: Cuộc di dân lần này có thể coi là cuộc di dân đau thương nhất.
Đợt di dân lớn nhất là sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày chính thể Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, chiến tranh Việt Nam chấm dứt. Di dân từ Việt Nam đến Hoa Kỳ và các nước Tây phương. Hơn 125.000 người Việt Nam đến Hoa Kỳ vào cuối xuân 1975. Ngoài ra khoảng 20.000 người đến Âu Châu và các nước khác
Năm 1977 bắt đầu đợt thứ hai khi phong trào vượt biển tỵ nạn xảy ra. Làn sóng di dân này kéo dài cho đến giữa thập niên 1980 một phần vì vấn đề kinh tế khó khăn tại Việt Nam do chính sách của chính phủ và các thông tin của bên ngoài nước, do chính sách đặc biệt đối với Hoa kiều khi đó hiện diện khá đông ở các tỉnh miền Bắc như Hải Dương, Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định…
Ở miền Nam, công an “mở cửa” cho những người muốn vượt biên bằng cách nhận vàng của họ, tạo điều kiện cho những người vượt biên ra được tàu trong đêm tối qua các “cửa ải” dọc theo bờ biển từ Ninh Thuận, Bình Thuận trở vào, gần SG thì ra Vũng Tầu. Ở miền Trung thì qua Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định , Khánh Hoà.
Ở miền Bắc, người vượt biên không được công an “bật đèn xanh” như ở miền Nam nên thường phải qua các “cửa ải” bến Bính (Hải Phòng), Vân Đồn, Quan Lạn (Quảng Ninh) vượt biển bằng những chiếc thuyền nhỏ, qua Hong Kong tị nạn rồi tìm cách sang Mỹ, Canada và một số rất nhỏ sang các nước châu Âu khác. Vì vậy, con số người vượt biên bị mất tích trên biển rất lớn vì nhiều lý do.
3. Cuộc di cư đầu thế kỷ 21: Có thể nói, cuộc di dân này không rầm rộ nhưng có thể ví như sóng ngầm, khá dữ dội và quyết liệt.
dân ở level thấp:
- Đó là những cô gái miền Tây lấy chồng Hàn thông qua các dịch vụ môi giới hôn nhân. Các cô được xem xét, tuyển chọn từ người môi giớị vạch môi xem răng, đo vòng ngực, vòng mông như người ta tuyển nô lệ thời cổ đại.
- Đó là làn sóng các cô gái từ khắp các miền quê vì đói khổ tìm đường sang Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc làm osin sau đó lấy chồng bên đó rồi ở lại sinh con đẻ cái.
- Đó là các cô cái bán dâm tìm cách sang Malaysia, Singapore, Cambodia.
dân ở level cao:
-Đó là những nhân tài được chọn lọc từ các cuộc thi trí tuệ nổi tiếng trong truyền hình và các kỳ thi tuyển chọn khác. Họ được chính phủ Việt Nam tạo điều kiện đi học tập ở nước ngoài nhưng sau đó ở lại nước ngoài, một đi không trở lại. Đây cũng chính là nguyên nhân Việt Nam tụt hậu so với thế giới vì chảy máu chất xám.
-Đó là những quan chức và những người có tiền tìm cách đưa con cháu ra nước ngoài du học, sau đó tìm cách ở lại.
-Đó là những nhà kinh doanh, trí thức và cả những người làm chính trị không thích ứng với cơ chế hiện tại, âm thầm dịch chuyển, rời bỏ quê hương.
Như vậy, lần “di cư của dân tộc” này không ồ ạt một lúc như cuộc 75-80 nhưng quy mô của nó rộng khắp các tầng lớp. Cuộc di cư này báo hiệu có một sự thay đổi rất lớn của nền chính trị hiện tại. Tốt hay xấu? Chúng ta hãy chờ xem.
Chũm, 12/10/2016