LEGAL FORUM

LEGAL FORUM Nơi chia sẻ các vấn đề pháp lý và thực tiễn hành nghề luật, giải đáp các thắc mắc, chia sẻ kinh nghiệm. Cung cấp các khoá học về hợp đồng, M&A
(1)

"THOẢ THUẬN BÁN THEO HIỆN TRẠNG" ĐẶT CỌC MUA NHÀ ĐẤT: DIỆN TÍCH THỰC TẾ KHÔNG ĐÚNG VỚI GIẤY CHỨNG NHẬN – BÊN NÀO CHỊU TR...
24/08/2026

"THOẢ THUẬN BÁN THEO HIỆN TRẠNG" ĐẶT CỌC MUA NHÀ ĐẤT: DIỆN TÍCH THỰC TẾ KHÔNG ĐÚNG VỚI GIẤY CHỨNG NHẬN – BÊN NÀO CHỊU TRÁCH NHIỆM?
Góc nhìn từ Bản án số 1031/2025/DS-PT ngày 29/12/2025 của TAND thành phố Hà Nội
Vấn đề đặt ra: nếu bên mua đã ký hợp đồng đặt cọc, sau đó phát hiện diện tích thực tế nhỏ hơn đáng kể so với diện tích ghi trên Giấy chứng nhận thì việc không tiếp tục ký hợp đồng chuyển nhượng có được xem là vi phạm đặt cọc hay không?
Bản án số 1031/2025/DS-PT ngày 29/12/2025 của TAND thành phố Hà Nội là một trường hợp đáng lưu ý.
1. Tình huống tranh chấp
Ngày 23/10/2024, bên mua đặt cọc 200 triệu đồng để nhận chuyển nhượng nhà đất với giá 3,39 tỷ đồng. Hợp đồng đặt cọc ghi nhận diện tích đất là 31,5m², nhà 4,5 tầng.
Sau khi đặt cọc, bên mua kiểm tra lại thông tin và phát hiện diện tích thực tế nhỏ hơn diện tích trên Giấy chứng nhận. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ xác định diện tích đất thực tế đang quản lý, sử dụng chỉ khoảng 25,7m², trong khi Giấy chứng nhận ghi nhận 31,5m².
Bên mua yêu cầu hoàn trả tiền đặt cọc và chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc.
Ngược lại, bên bán cho rằng bất động sản được bán “theo hiện trạng”, bên mua đã trực tiếp xem nhà đất trước khi đặt cọc và đã đồng ý giao dịch. Vì vậy, việc bên mua không tiếp tục mua là lỗi của bên mua.
Tòa án cấp sơ thẩm buộc bên bán hoàn trả 200 triệu đồng tiền đặt cọc và chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc. Bên bán kháng cáo.
2. Hợp đồng đặt cọc có hiệu lực nhưng không có nghĩa mọi nội dung đều được thực hiện bất kể thực tế
Hội đồng xét xử trước hết xác định hợp đồng đặt cọc được lập bằng văn bản, có đầy đủ chữ ký và thể hiện ý chí tự nguyện của các bên.
Theo nhận định của Tòa án:
“Hợp đồng đặt cọc ngày 23/10/2024 đã thể hiện ý chí tự nguyện của các bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện.”
Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 117, 119 và 328 Bộ luật Dân sự để xác định giao dịch đặt cọc có hiệu lực.
Điểm đáng chú ý là: việc hợp đồng đặt cọc có hiệu lực không đồng nghĩa với việc mọi tranh chấp phát sinh sau đó đều được mặc nhiên xác định theo hướng bên mua từ chối giao dịch thì bên mua phải chịu trách nhiệm.
Tòa án tiếp tục xem xét nội dung cụ thể mà các bên đã cam kết và nguyên nhân khiến hợp đồng chuyển nhượng không được giao kết.
3. “Bán theo hiện trạng” không đương nhiên loại trừ thông tin về diện tích trong Giấy chứng nhận
Một trong những lập luận quan trọng của bên bán là hợp đồng có thỏa thuận mua bán theo hiện trạng căn nhà đã xem.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử đối chiếu nội dung này với chính Điều 3 của Hợp đồng đặt cọc.
Theo hợp đồng, các bên đã ghi rõ mã số Giấy chứng nhận, vị trí, số thửa, địa chỉ và diện tích đất 31,5m², cùng giá chuyển nhượng 3,39 tỷ đồng.
Hội đồng xét xử nhận định:
“Trong Hợp đồng đặt cọc, tại Điều 3: Mục đích của đặt cọc, nêu rất rõ mã số số đỏ, vị trí số thửa và địa chỉ thửa đất, đồng thời xác định diện tích đất là 31,5m2, nhà 4,5 tầng, giá bán 3.390.000.000 đồng. Nhưng không có bất cứ lưu ý hay chú thích nào cho việc đất thực tế nhỏ hơn diện tích nêu trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.”
Đây là điểm có giá trị thực tiễn đáng lưu ý khi soạn thảo hợp đồng đặt cọc.
Nếu các bên thực sự thống nhất giao dịch theo hiện trạng, nhưng hiện trạng đó có sự khác biệt đáng kể so với thông tin trên Giấy chứng nhận, thì nội dung này cần được thể hiện một cách rõ ràng, cụ thể và có thể chứng minh được trong hợp đồng.
Không nên chỉ sử dụng một cụm từ chung như “mua bán theo hiện trạng” để suy diễn rằng bên mua đã chấp nhận tất cả các khác biệt về diện tích, kích thước hoặc ranh giới mà trước thời điểm ký kết chưa được xác định rõ.
4. Bên bán có lỗi trong việc cung cấp thông tin về diện tích
Hội đồng xét xử xác định trong hồ sơ thiết kế xây dựng mà bên bán nhận từ chủ cũ đã thể hiện diện tích đất xây dựng tầng một chỉ khoảng 25,5m².
Tuy nhiên, khi lập hợp đồng đặt cọc, bên bán vẫn ghi nhận diện tích đất là 31,5m² theo Giấy chứng nhận nhưng không có chú thích về sự khác biệt giữa diện tích thực tế và diện tích trên Giấy chứng nhận.
Tòa án nhận định:
“Bà P đã có lỗi vi phạm nghĩa vụ của người bán về thông tin diện tích nhà đất.”
Nhận định này cho thấy khi đánh giá lỗi trong giao dịch bất động sản, Tòa án không chỉ xem xét việc bên bán có trực tiếp tạo ra sai lệch diện tích hay không, mà còn xem xét nghĩa vụ cung cấp thông tin và mức độ minh bạch của thông tin được đưa vào hợp đồng.
5. Tuy nhiên, bên mua cũng có lỗi
Đáng chú ý, Tòa án không xác định toàn bộ lỗi thuộc về bên bán.
Hội đồng xét xử đồng thời xác định bên mua cũng có lỗi vì giao dịch có giá trị lớn nhưng chưa kiểm tra đầy đủ hiện trạng bất động sản trước khi đặt cọc.
Bản án nêu:
“Bên mua ông Nguyễn Bá M cũng có lỗi khi tìm mua nhà đất có giá trị lớn mà không tìm hiểu kỹ thông tin trước khi giao kết hợp đồng đặt cọc.”
Và:
“Ông M được đến xem nhà đất trước khi mua nhưng ông M không tiến hành đo vẽ khảo sát kích thước diện tích thực tế.”
Như vậy, trong trường hợp này, Tòa án xác định cả bên bán và bên mua đều có lỗi.
Bên bán có lỗi vì không làm rõ sự khác biệt về diện tích thực tế mặc dù có thông tin trong hồ sơ xây dựng; bên mua có lỗi vì trước khi đặt cọc không tiến hành kiểm tra, đo đạc, khảo sát đầy đủ đối với bất động sản có giá trị lớn.
6. Hệ quả pháp lý: hoàn trả tiền đặt cọc, không áp dụng phạt cọc
Từ việc xác định lỗi của hai bên là tương đương, Tòa án cho rằng nguyên nhân khiến hợp đồng chuyển nhượng không được giao kết xuất phát từ lỗi của cả hai bên.
Do đó, Tòa án không đặt trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho một bên, mà giải quyết theo hướng hoàn trả những gì các bên đã nhận.
Hội đồng xét xử nhận định:
“Cấp sơ thẩm xác định cả hai bên đều có lỗi dẫn đến Hợp đồng chuyển nhượng bất động sản không được giao kết là do lỗi của hai bên là như nhau nên hai bên không phải bồi thường thiệt hại cho nhau mà cần hoàn trả cho nhau những gì đã nhận là phù hợp quy định của pháp luật.”
Trên cơ sở đó, Tòa án giữ nguyên quyết định buộc bên bán hoàn trả 200 triệu đồng tiền đặt cọc, đồng thời chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc.
Đáng chú ý, tại cấp sơ thẩm bên mua đã rút yêu cầu phạt cọc nên Tòa án đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.

✍️Luật sư Hùng, tel 0865786009, người sáng lập LEGAL FORUM☘️

SAU LỄ 2/9, CHÍNH THỨC BẮT ĐẦU HÀNH TRÌNH HỌC PHÁP CHẾ DOANH NGHIỆP K11Bạn muốn theo đuổi nghề Pháp chế doanh nghiệp như...
20/08/2026

SAU LỄ 2/9, CHÍNH THỨC BẮT ĐẦU HÀNH TRÌNH HỌC PHÁP CHẾ DOANH NGHIỆP K11
Bạn muốn theo đuổi nghề Pháp chế doanh nghiệp nhưng vẫn đang băn khoăn:
Chưa có nền tảng luật thì có học được không?
Chưa từng làm pháp chế thì nên bắt đầu từ đâu?
Làm thế nào để biết cách tra cứu, phân tích và xử lý một vấn đề pháp lý thực tế?
Legal Forum xây dựng lộ trình học theo hướng từ nền tảng đến thực chiến, giúp người học không chỉ hiểu pháp luật mà còn từng bước hình thành năng lực xử lý công việc pháp chế trong doanh nghiệp.
K11 SẼ BẮT ĐẦU NGAY SAU LỄ 2/9 -> ⚡ưU ĐÃI 35% ĐẾN HẾT 25/08/2026
Lớp hiện tại đã có 25 học viên đồng hành trên hành trình chinh phục nghề Pháp chế doanh nghiệp.
Nếu bạn đang cân nhắc tham gia, đây là thời điểm phù hợp để bắt đầu chuẩn bị. Đặc biệt, những học viên có nhu cầu xem video sớm có thể nhận video của lớp gần nhất để làm quen trước với nội dung, phương pháp học và tư duy pháp chế doanh nghiệp.
LỘ TRÌNH HỌC GỒM 2 GIAI ĐOẠN
GIAI ĐOẠN 1: NỀN TẢNG PHÁP CHẾ DOANH NGHIỆP
Dành cho sinh viên Luật năm 3–4, người mới bắt đầu, người chưa có nền tảng hoặc nền tảng còn yếu, người trái ngành muốn chuyển hướng sang pháp chế; đồng thời phù hợp với CEO, quản lý, HCNS, kế toán muốn hiểu và ứng dụng pháp lý trong hoạt động doanh nghiệp.
Trong 03 buổi nền tảng, học viên sẽ được định hướng để hiểu Pháp chế doanh nghiệp là gì, doanh nghiệp vận hành dưới những yêu cầu pháp lý nào, cách đọc và tra cứu văn bản pháp luật, cũng như cách tư duy theo chuỗi:
Sự kiện → Vấn đề pháp lý → Quy định → Phân tích → Rủi ro → Phương án xử lý.
Buổi học cá nhân hóa sẽ tập trung vào nền tảng hiện tại, mục tiêu cá nhân, những nội dung còn khó hoặc chưa hiểu đúng và định hướng nhánh pháp chế phù hợp.
GIAI ĐOẠN 2: PHÁP CHẾ DOANH NGHIỆP THỰC CHIẾN K11
Sau khi có nền tảng, học viên bước vào chương trình 24 buổi học trực tuyến, tập trung vào những công việc thực tế của người làm pháp chế doanh nghiệp:
✅ Soạn thảo, rà soát, sửa đổi, đàm phán và quản lý hợp đồng.
✅ Quản trị doanh nghiệp, phân quyền, ủy quyền và quản trị nội bộ.
✅ Điều lệ công ty, cuộc họp HĐQT, HĐTV, ĐHĐCĐ;
✅ Vốn - Tài sản góp vốn, quản trị tài sản góp vốn, thay đổi vốn, huy động vốn, tái cấu trúc công ty.
✅ Pháp lý lao động, tiền lương, kỷ luật, điều chuyển, chấm dứt hợp đồng và tranh chấp.
✅ Hồ sơ doanh nghiệp, thủ tục hành chính, ERC, IRC và các thủ tục pháp lý thường xuyên.
✅ Chuyển nhượng vốn, cổ phần và pháp lý thuế, M&A...
✅ Tài sản số, dữ liệu và bảo mật dữ liệu doanh nghiệp.
✅ Thực hành trên hồ sơ, biểu mẫu, checklist, quy chế và tình huống doanh nghiệp thực tế.
Học viên được tiếp cận hơn 300 biểu mẫu, checklist và quy chế cập nhật năm 2026, phục vụ trực tiếp cho quá trình học tập và thực hành.
QUÀ TẶNG GHI DANH: THAM GIA GROUP CÁC KHÓA HỌC 0Đ
Khi ghi danh chương trình Pháp chế doanh nghiệp K11, học viên được tham gia GROUP LỚP 0Đ và tiếp tục cập nhật, bổ sung, nâng cấp kiến thức thông qua các chương trình kỹ năng miễn phí thuộc hệ thống Legal Forum.
Các khóa học 0Đ dự kiến diễn ra gồm:
1. Pháp lý về Hợp đồng nhượng quyền thương mại
2. Pháp lý về thuế trong chuyển nhượng vốn, cổ phần
3. Pháp lý về NDA, NCA
4. Pháp lý về Hợp đồng xây dựng
5. Pháp lý về thủ tục đầu tư
6. Pháp lý về quy chế rà soát hợp đồng
Đây không chỉ là một khóa học chuyên sâu, mà là một lộ trình phát triển năng lực nghề nghiệp: từ hiểu nghề, hiểu doanh nghiệp, biết tra cứu pháp luật đến soạn thảo, rà soát, phân tích hồ sơ, xử lý tình huống và kiểm soát rủi ro.
Sau lễ 2/9, K11 bắt đầu. Lớp đã có 25 học viên. Nếu bạn muốn xem video sớm hoặc cần được tư vấn lộ trình phù hợp, hãy inbox ngay hôm nay.
📞 Đăng ký và tư vấn lộ trình: 0865 786 009
📩 Inbox Legal Forum để nhận tư vấn và video lớp gần nhất.
LEGAL FORUM – Học pháp lý để làm được việc.
💼 Khóa Hợp đồng:
3.500.000đ ➜ 2.800.000đ
💼 Khóa M&A:
3.500.000đ ➜ 2.800.000đ
💼 Khóa Pháp chế doanh nghiệp: ưu đãi hết 25/08/2026
10.000.000đ ➜ 6.500.000đ
🎓 Sinh viên • Học viên cũ • Nhóm 02 học viên:
Chỉ còn 5.000.000đ
🔥 COMBO Hợp đồng + M&A: 4.600.000đ
🔥 COMBO Hợp đồng + PCDN hoặc M&A + PCDN: Từ 7.000.000đ
🚀 COMBO 03 KHÓA HĐ + M&A + PCDN
CHỈ CÒN 8.200.000Đ

XÁC ĐỊNH TIỀN LƯƠNG LÀM CĂN CỨ TÍNH BỒI THƯỜNG KHI ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TRÁI PHÁP LUẬT TỪ THỰC TIỄN XÉT...
20/08/2026

XÁC ĐỊNH TIỀN LƯƠNG LÀM CĂN CỨ TÍNH BỒI THƯỜNG KHI ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TRÁI PHÁP LUẬT TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ
Tổng hợp 04 bản án liên quan đến chủ đề này theo link đính kèm theo link: https://drive.google.com/drive/folders/1ZWNbWvgNlqmdv8PgQ6HvyhYg4QYJpR-h?usp=sharing
Trong giải quyết tranh chấp lao động về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, xác định tiền lương làm căn cứ tính bồi thường thiệt hại cho người lao động là một nội dung quan trọng. Theo quy định pháp luật và thực tiễn xét xử, Tòa án nhân dân áp dụng các phương pháp và nguyên tắc cụ thể để giải quyết tranh chấp liên quan đến khoản tiền bồi thường này. Việc tổng hợp thực tiễn qua bốn trường hợp điển hình dưới đây làm rõ cách thức xác định tiền lương bồi thường trong các tình huống pháp lý khác nhau:
1. loại trừ các khoản thưởng biến động và giữ nguyên phụ cấp cố định
Theo khoản 1 Điều 41 Bộ luật Lao động năm 2019, tiền lương làm căn cứ bồi thường thiệt hại cho người lao động là tiền lương theo hợp đồng lao động. Điều 90 Bộ luật Lao động năm 2019 xác định cơ cấu tiền lương gồm: mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Thực tiễn xét xử cho thấy Tòa án chỉ tính gộp các phụ cấp có tính chất cố định, chi trả thường xuyên, đồng thời loại bỏ các khoản hỗ trợ không cố định hoặc tiền thưởng theo năng suất lao động.
Trường hợp của ông Du K (Bản án số 121/2026/LĐ-PT ngày 08/7/2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh): Người lao động yêu cầu tính bồi thường theo mức lương thỏa thuận miệng từ 1.400 USD đến 1.600 USD. Tuy nhiên, hợp đồng lao động bằng văn bản ghi mức lương cơ bản là 350 USD và các khoản phụ cấp. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chỉ chấp nhận tính bồi thường trên mức lương 402 USD/tháng, bao gồm lương cơ bản 350 USD/tháng và các khoản phụ cấp lương có tính chất thường xuyên là 52 USD/tháng (phụ cấp môi trường 05 USD, phụ cấp trách nhiệm 40 USD và phụ cấp thâm niên 07 USD). Tòa án loại bỏ các khoản thưởng chuyên cần, thưởng đánh giá KPI và trợ cấp tăng ca. Bản án nhận định: "đại diện nguyên đơn thừa nhận mức tiền lương nguyên đơn thực nhận có chênh lệch hàng tháng là do một phần phụ thuộc vào năng suất của Công ty" và "Đại diện nguyên đơn nêu nguyên đơn không biết việc ký hợp đồng với mức lương thấp hơn nhiều so với thỏa thuận, nhưng không đưa ra được chứng cứ để chứng minh.".
Trường hợp của ông L.V.M (Bản án số 02/2021/LĐ-PT ngày 17/3/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương): Người lao động là tài xế yêu cầu tính bồi thường theo lương thực lĩnh 7.500.000 đồng/tháng, gồm lương cơ bản và tiền cơm. Tuy nhiên, căn cứ Phụ lục hợp đồng lao động ngày 01/01/2020, mức lương chính của người lao động là 4.729.400 đồng và phụ cấp thâm niên là 50.000 đồng. Ngoài ra, hợp đồng còn có các khoản hỗ trợ xăng xe, nhà ở, chuyên cần và liên lạc. Tòa án phúc thẩm nhận định các khoản hỗ trợ này không cố định, phụ thuộc vào hiệu suất làm việc thực tế nên không được coi là tiền lương bồi thường. Hội đồng xét xử xác định tiền lương làm căn cứ tính bồi thường là 4.779.400 đồng (gồm lương chính 4.729.400 đồng và phụ cấp thâm niên cố định 50.000 đồng). Bản án trích dẫn nhận định: "Tiền lương hàng tháng mà ông L.V.M được trả thì chỉ có phần lương chính và phụ cấp thâm niên 50.000 đồng là khoản cố định, còn các khoản tiền thưởng có thể thay đổi khi người lao động trực tiếp tham gia lao động nếu đạt mới được hưởng nên không thể xem là tiền lương làm căn cứ bồi thường. Do vậy, mức tiền lương được xác định để tính bồi thường như sau: Mức lương chính 4.729.400 đồng + phụ cấp thâm niên 50.000 đồng = 4.779.400 đồng.".
2. áp dụng mức lương đóng bảo hiểm xã hội khi có bế tắc về chứng cứ
Khi xảy ra tranh chấp về tiền lương làm căn cứ bồi thường nhưng hai bên không cung cấp được hợp đồng lao động hợp pháp, hoặc phiếu lương do người lao động cung cấp không có chữ ký hay dấu xác nhận của người sử dụng lao động, Tòa án áp dụng mức lương đóng bảo hiểm xã hội thực tế làm căn cứ bồi thường.
Trường hợp của bà Chu Thị Thu H (Dự thảo Án lệ số 211, nguồn từ Quyết định giám đốc thẩm số 05/2023/LĐ-GĐT ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh): Người lao động yêu cầu mức lương tính bồi thường là 12.000.000 đồng/tháng theo hợp đồng lao động nhưng không chứng minh được, phiếu lương không có chữ ký hay dấu xác nhận của công ty. Người sử dụng lao động cho rằng lương của người lao động chỉ có 5.500.000 đồng/tháng và cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Tài liệu của cơ quan Bảo hiểm xã hội cung cấp thể hiện người sử dụng lao động đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động dựa trên mức lương và phụ cấp là 6.800.000 đồng (gồm lương chính 6.500.000 đồng và phụ cấp nguy hại 300.000 đồng). Tòa án áp dụng mức lương đóng bảo hiểm xã hội này làm cơ sở bồi thường [87, 93]. Nhận định của Ủy ban Thẩm phán được trích dẫn như sau: "Theo tài liệu do Bảo hiểm xã hội huyện Bắc Tân Uyên cung cấp thì Công ty Nhuận Bằng đã đóng bảo hiểm xã hội cho bà H với mức lương và phụ cấp là 6.800.000 đồng (trong đó lương chính là 6.500.000đồng và phụ cấp 300.000đồng) nên Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng mức lương 6.800.000đồng/tháng làm cơ sở để tính các khoản bồi thường cho bà H là có căn cứ. Kháng nghị cho rằng cần lấy mức lương và các khoản phụ cấp khác của bà H là 12.000.000đồng theo hợp đồng lao động để làm căn cứ bồi thường là không chính xác. Bởi vì, hợp đồng lao động có ghi các khoản phụ cấp khác nhưng không diễn giải là các khoản phụ cấp gì và thực tế Công ty chỉ trả phụ cấp nguy hại cho bà H là 300.000 đồng và lương là 6.500.000đồng, tổng công là 6.800.000đồng."
3. Ghi nhận sự tự nguyện của người lao động khi có lợi cho người sử dụng lao động
Trong tình huống không có hợp đồng lao động bằng văn bản, các khoản lương chuyển khoản hàng tháng không thống nhất, Tòa án sẽ xem xét yêu cầu cụ thể của người lao động. Nếu người lao động chủ động yêu cầu một mức lương bồi thường cố định thấp hơn tổng thu nhập thực lĩnh và mức lương này có lợi cho người sử dụng lao động, Tòa án sẽ ghi nhận sự tự nguyện đó để giải quyết tranh chấp.
Trường hợp của ông Trần Ngọc A (Bản án số 605/2023/LĐ-PT ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh): Người sử dụng lao động không giao hợp đồng lao động bằng văn bản cho người lao động. Sao kê tài khoản ngân hàng thể hiện thu nhập hàng tháng biến động, không thống nhất (tháng 11/2020 nhận 8.401.000 đồng, tháng 12/2020 nhận 9.269.000 đồng, tháng 01/2021 nhận 8.239.000 đồng). Doanh nghiệp lập luận tiền lương theo thỏa thuận chỉ tương đương mức đóng bảo hiểm xã hội cũ, phần còn lại là lương theo năng suất lao động và phụ cấp không cố định, nhưng không cung cấp được hợp đồng lao động và không chứng minh được hình thức trả lương theo Điều 95 Bộ luật Lao động năm 2019. Tòa án phúc thẩm ghi nhận yêu cầu của người lao động về việc chỉ tính bồi thường trên mức lương chính thức là 6.200.000 đồng/tháng vì yêu cầu này có lợi cho doanh nghiệp so với các khoản thực nhận biến động trong tài khoản ngân hàng. Nhận định của Hội đồng xét xử được trích dẫn như sau: "Xét thấy hai bên không cung cấp Hợp đồng lao động; căn cứ bảng kê tài khoản của nguyên đơn thì các khoản lương hàng tháng không thống nhất, cụ thể tháng 11/2020 là 8.401.000 đồng; lương tháng 12/2020 là 9.269.000 đồng; lương tháng 01/2021 là 8.239.000 đồng. Bị đơn nêu tiền lương theo thỏa thuận hợp đồng lao động là tiền lương đóng bảo hiểm xã hội, các khoản còn lại là lương làm thêm theo năng suất lao động, chất lượng công việc và các khoản phụ cấp khác. Nhưng không cung cấp được hợp đồng lao động, không đưa ra được căn cứ chứng minh thỏa thuận hình thức trả lương theo quy định tại Điều 95 Bộ luật Lao động năm 2019. Tuy nhiên, nguyên đơn chỉ yêu cầu tiền lương bồi thường là 6.200.000 đồng (Sáu triệu, hai trăm nghìn đồng) là có lợi cho bị đơn cần được ghi nhận. Do đó cần xác định mức lương 6.200.000 đồng làm căn cứ để giải quyết cho yêu cầu của nguyên đơn."
✍️Luật sư Hùng, tel 0865786009, người sáng lập LEGAL FORUM☘️

📚 KỸ NĂNG PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI:🗓️ Chuyên đề 04 giờ | Chiều Thứ Bảy, 13H30 NGÀY 22/08/2026📚 TÀI LI...
19/08/2026

📚 KỸ NĂNG PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI:
🗓️ Chuyên đề 04 giờ | Chiều Thứ Bảy, 13H30 NGÀY 22/08/2026
📚 TÀI LIỆU EBOOK DÀI HƠN 100 TRANG HƯỚNG DẪN ĐẦY ĐỦ PHÁP LÝ VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI, ĐIỀU KHOẢN MẪU VỚI ĐẦY ĐỦ PHƯƠNG ÁN BẢO VỆ MỖI BÊN, KHUYẾN NGHỊ PHÁP CHẾ/KẾ TOÁN....+ KÈM THEO MẪU HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN.
LINK ĐĂNG KÝ KHOÁ KỸ NĂNG PHÁP LÝ NGẮN HẠN VỀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI: https://forms.gle/H8U6QQipec5k7CS88
📖 NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH
01️⃣ PHÁP LÝ & CẤU TRÚC HỢP ĐỒNG NQTM
- 🌐 Tổng quan pháp lý về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam
- 🤝 Đặc điểm pháp lý quan hệ Franchisor – Franchisee
- 🏗️ Cấu trúc cơ bản của một Franchise Agreement
- 📋 Các nhóm điều khoản quan trọng: phạm vi quyền nhượng quyền, phí, thương hiệu & SHTT, bảo mật, đào tạo – hỗ trợ, tiêu chuẩn vận hành, quyền kiểm soát, thời hạn & chấm dứt hợp đồng
- 🔗 Mối liên hệ giữa Hợp đồng NQTM với pháp luật thương mại, doanh nghiệp và sở hữu trí tuệ
02️⃣ KỸ NĂNG PHÁP LÝ & NHẬN DIỆN RỦI RO
- 🔎 Phương pháp đọc và rà soát Hợp đồng NQTM dưới góc độ pháp lý
- ⚠️ Nhận diện các vấn đề pháp lý thường gặp với Franchisor và Franchisee
- 🚨 Rủi ro về phí, thương hiệu, kiểm soát hệ thống, bảo mật, hạn chế cạnh tranh và chấm dứt hợp đồng
- ⚖️ Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của các bên khi có vi phạm
- 📌 Lưu ý trong quá trình thực hiện và chấm dứt hợp đồng
💵 HỌC PHÍ & CHÍNH SÁCH THAM GIA
🧑‍🎓 NHÓM 01 | HỌC PHÍ
- 👤 01 học viên: 400.000đ
- 👥 Nhóm 02 học viên: 350.000đ/người; Nhóm 03–05 học viên: 300.000đ/người
🎁 HOẶC ĐĂNG KÝ GÓI 12 THÁNG: 1.790.000đ / 12 tháng
♾️ Không giới hạn các khóa học 0đ đang tuyển sinh của LEGAL FORUM trong thời hạn gói.
Học viên được:- 🎥 Nhận video ghi hình khóa học
🆓 NHÓM 02 | MIỄN PHÍ 100% – 0 ĐỒNG
Áp dụng cho:
- ✅ Học viên đã từng tham gia khóa Hợp đồng / M&A / Pháp chế doanh nghiệp của LEGAL FORUM → Miễn phí 100%
- ✅ Hoặc ghi danh đồng thời một trong các khóa: Kỹ năng Hợp đồng, M&A, Pháp chế doanh nghiệp → Được tham gia miễn phí 0đ
---
⏰ THỜI HẠN GHI DANH: Chốt lớp đến hết ngày 20/08/2026
⚠️ LƯU Ý ĐỐI VỚI HỌC VIÊN 0Đ
Học viên Nhóm 2 khi đã đăng ký cần tham dự đầy đủ chương trình.
❗ Vắng mặt không báo trước: LEGAL FORUM có thể không gửi tài liệu, slide, video ghi hình; đồng thời có thể không được tiếp tục ghi danh các chương trình 0đ khác.
---
🏛️ LEGAL FORUM
📞 TƯ VẤN & GHI DANH: 0865786009
🧠 Hiểu pháp lý → 📖 Đọc hợp đồng → 🔍 Nhận diện rủi ro → 🎯 Định hướng tư vấn
"Học để cập nhật, chia sẻ để cùng phát triển"
LINK ĐĂNG KÝ KHOÁ KỸ NĂNG PHÁP LÝ NGẮN HẠN VỀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI: https://forms.gle/H8U6QQipec5k7CS88

PHÁP LÝ VỀ ĐIỀU KIỆN PHÁT SINH NGHĨA VỤ TRONG HỢP ĐỒNG HỨA THƯỞNG: TỪ MỘT BẢN ÁN THỰC TẾ TẠI NGHỆ ANBản án phúc thẩm số ...
19/08/2026

PHÁP LÝ VỀ ĐIỀU KIỆN PHÁT SINH NGHĨA VỤ TRONG HỢP ĐỒNG HỨA THƯỞNG: TỪ MỘT BẢN ÁN THỰC TẾ TẠI NGHỆ AN
Bản án phúc thẩm số 06/2026/DS-PT ngày 16/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An về việc “Tranh chấp về hợp đồng hứa thưởng” là một ví dụ thực tiễn về việc xem xét sự tương thích giữa kết quả thực tế và các điều kiện đã cam kết trong giao dịch hứa thưởng.
1. Tóm tắt nội dung vụ việc và nguồn gốc tranh chấp
Vụ án phát sinh từ cam kết hứa thưởng ngày 25/11/2020 giữa bị đơn là ông Trần Ánh Y và nguyên đơn là bà Dương Nữ Cẩm T,. Theo nội dung cam kết, ông Y hứa trả thưởng cho bà T nếu bà thực hiện các dịch vụ pháp lý giúp ông đòi lại quyền lợi trong một vụ án hôn nhân và gia đình liên quan đến tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ở tại thành phố Đà Nẵng.
Ông Y đặt ra hai kịch bản cụ thể cho việc trả thưởng:
Trường hợp 1: Nếu đòi lại được tài sản cho con trai ông Y (anh Trần Tiến D) với tỷ lệ từ 80% đến 90% thì bà T được hưởng 60% phần tài sản tăng thêm.
Trường hợp 2: Nếu đòi lại được cho ông Y 100% tài sản thì bà T được hưởng 70% trong tổng số 40% giá trị tài sản mà con dâu ông (chị Q2) đang được hưởng theo bản án sơ thẩm trước đó, tương đương số tiền 1.444.782.746 đồng,.
Kết quả thực tế tại Bản án phúc thẩm số 09/2022/HNGĐ-PT của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng ghi nhận sự thỏa thuận: Vợ chồng ông Y được nhận lại toàn bộ nhà và đất, nhưng có nghĩa vụ hỗ trợ/thanh toán cho chị Q2 số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng,. Cho rằng điều kiện hứa thưởng đã đạt được (vì đã nhận lại 100% nhà đất), bà T khởi kiện yêu cầu ông Y thanh toán số tiền thưởng hơn 1,4 tỷ đồng.
2. Căn cứ pháp luật áp dụng
Hội đồng xét xử (HĐXX) đã căn cứ vào các quy định chủ chốt của Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể:
Điều 570: Quy định về việc hứa thưởng, theo đó người đã hứa thưởng phải trả thưởng cho người thực hiện được công việc theo yêu cầu của người hứa thưởng,.
Khoản 1 Điều 572: Quy định về thanh toán phần thưởng khi công việc được hoàn thành,.
3. Nhận định sắc bén của Tòa án Phúc thẩm về điều kiện phát sinh nghĩa vụ
Điểm mấu chốt của vụ án nằm ở việc giải thích cụm từ “đòi lại được 100% tài sản”. HĐXX phúc thẩm đã đưa ra những nhận định pháp lý để bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn.
Tòa án xác định rằng, mặc dù về mặt hình thức, ông Y đã nhận lại quyền sở hữu nhà và đất, nhưng xét về mặt giá trị kinh tế và nghĩa vụ kèm theo, kết quả này không trùng khớp với điều kiện "100%" mà các bên đã thỏa thuận. Tòa án nhận định:
"Mặc dù bà Dương Nữ Cẩm T đã thực hiện công việc theo thỏa thuận và giúp ông Trần Ánh Y, bà Nguyễn Thị Q nhận lại được tài sản nêu trên, nhưng do ông Y và bà Q vẫn phải thanh toán cho chị Q2 số tiền 1.000.000.000 đồng, nên không thể xác định là đã “đòi lại được 100% tài sản” như nội dung cam kết hứa thưởng.".
Từ nhận định này, Tòa án khẳng định hệ quả pháp lý:
"Do đó, điều kiện để phát sinh nghĩa vụ trả thưởng theo trường hợp thứ hai cũng không được đáp ứng.".
HĐXX phúc thẩm cũng đánh giá cao sự thấu đáo của cấp sơ thẩm khi khẳng định cấp này đã:
"đánh giá đúng bản chất của quan hệ pháp luật tranh chấp, xem xét đầy đủ nội dung cam kết hứa thưởng và kết quả thực hiện trên thực tế, từ đó kết luận rằng các điều kiện hứa thưởng không xảy ra".
4. Ý nghĩa pháp lý từ bản án
Bản án số 06/2026/DS-PT cho sự xem xét đầy đủ về điều kiện trong hợp đồng hứa thưởng. Trong khoa học pháp lý, hứa thưởng là loại giao dịch mà "kết quả công việc" là yếu tố tiên quyết. Nếu kết quả chỉ đạt được một phần hoặc kèm theo những nghĩa vụ tài chính làm giảm trừ giá trị thực tế của tài sản đòi lại được, thì điều kiện "hoàn thành công việc" có thể bị coi là không thỏa mãn nếu các bên không có thỏa thuận khác.
Tòa án đã bác bỏ kháng cáo của bà Dương Nữ Cẩm T, giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu đòi tiền thưởng,. Điều này nhấn mạnh nguyên tắc tự do thỏa thuận nhưng cũng đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối khi xác lập các điều kiện làm phát sinh quyền và nghĩa vụ trong các giao dịch dân sự có điều kiện.
✍️Luật sư Hùng, tel 0865786009, người sáng lập LEGAL FORUM☘️



Link bản án: https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta2174216t1cvn/chi-tiet-ban-an

KỶ LUẬT SA THẢI NGÀNH NGÂN HÀNG - ĐE DOẠ GÂY THIỆT HẠI - BIÊN BẢN HỌP XLKL GỬI QUA MAIL KO CHỮ KÝ NLĐ - GÓC NHÌN TỪ BẢN ...
19/08/2026

KỶ LUẬT SA THẢI NGÀNH NGÂN HÀNG - ĐE DOẠ GÂY THIỆT HẠI - BIÊN BẢN HỌP XLKL GỬI QUA MAIL KO CHỮ KÝ NLĐ - GÓC NHÌN TỪ BẢN ÁN SỐ 87/2026/LĐ-PT NGÀY 06/5/2026
Trong quản trị nhân sự tại các tổ chức tín dụng, việc áp dụng hình thức kỷ luật sa thải đối với nhân sự cấp cao đòi hỏi sự chuẩn mực tuyệt đối về cả trình tự tố tụng nội bộ và căn cứ xác lập hành vi vi phạm. Bản án phúc thẩm số 87/2026/LĐ-PT ngày 06/5/2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp một cái nhìn thực tiễn sắc bén về cách thức cơ quan tài phán đánh giá tính hợp pháp của quy trình kỷ luật trong bối cảnh chuyển đổi số và những vi phạm đặc thù trong lĩnh vực thẩm định giá ngân hàng.
1. Tính chính danh và sự thích ứng của thủ tục kỷ luật trong kỷ nguyên số
Một trong những nội dung tranh chấp trọng tâm trong vụ án là tính hợp pháp của việc tổ chức họp kỷ luật trực tuyến (qua nền tảng Zoom) và việc gửi thông báo qua thư điện tử. Nguyên đơn (ông Bùi Quốc N) cho rằng việc không họp trực tiếp và không ký biên bản ngay tại cuộc họp là vi phạm nghiêm trọng trình tự xử lý kỷ luật lao động.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử (HĐXX) đã đưa ra nhận định mang tính thực tiễn cao, phản ánh sự chấp nhận của pháp luật đối với các phương thức giao tiếp điện tử khi quyền lợi của người lao động vẫn được đảm bảo. Đối với việc triệu tập, Tòa án xác định: "nguyên đơn có mặt tại cuộc họp xử lý kỷ luật đủ cơ sở đã nhận được thông báo triệu tập. Do đó, lý do nguyên đơn nêu không gửi thông báo, người gửi không đúng thẩm quyền là không có căn cứ pháp luật".
Về hình thức lập biên bản, HĐXX khẳng định: "việc lập biên bản rồi gửi qua hộp thư để cho các thành viên tham gia đọc cần được chấp nhận". Nhận định này cho thấy, yếu tố cốt lõi không nằm ở việc ký tên trực tiếp trên giấy mà là người lao động đã được "đảm bảo quyền được trình bày, tự bào chữa cho mình tại cuộc họp". Đây là một bước tiến quan trọng trong thực tiễn xét xử, công nhận giá trị pháp lý của các biên bản được xác lập và lưu chuyển qua hệ thống điện tử trong quy trình lao động.
2. Bản chất hành vi vi phạm: Xâm phạm an toàn hệ thống tài chính
Vụ án tập trung vào sai phạm của ông Bùi Quốc N – chức vụ Trưởng phòng Thẩm định giá – trong việc phê duyệt giá trị tài sản bảo đảm cao hơn thực tế cho cá nhân, người thân và đồng nghiệp. Xác định đây là lỗi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trung thực và đạo đức nghề nghiệp, trực tiếp đe dọa lợi ích kinh tế của người sử dụng lao động.
Tòa án đã phân tích hành vi này không chỉ dưới góc độ vi phạm nội quy lao động mà còn là sự xâm phạm đến tính an toàn của hệ thống tín dụng. HĐXX nhận định: "Hành vi của nguyên đơn đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của tổ các chức tín dụng nói chung và của Ngân hàng TMCP L3 nói riêng. Làm tăng rủi ro tín dụng, làm phát sinh nợ xấu và thất thoát vốn cho Ngân hàng".
Đáng chú ý, việc xác định "thiệt hại" không chỉ dựa trên con số đã mất trắng mà còn bao gồm cả nguy cơ hiện hữu. Tòa án nhấn mạnh: "Hành vi trên gây thiệt hại nghiêm trọng, đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về lợi ích của người sử dụng lao động là Ngân hàng TMCP L3". Nhận định này cho thấy sự tương đồng với tinh thần của Điều 125 Bộ luật Lao động năm 2019, cho phép sa thải khi người lao động có hành vi gây thiệt hại hoặc "đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng" về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động.
3. Giá trị chứng minh của văn bản giải trình và căn cứ pháp lý áp dụng
Trong quá trình giải quyết, ông N cho rằng nội dung trong biên bản giải trình về việc nhờ hỗ trợ nâng giá tài sản là do bị "đe dọa và ép buộc" nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Ngược lại, phía ngân hàng đã cung cấp đầy đủ các báo cáo của Khối giám sát kinh doanh, xử lý nợ và lời khai của các nhân viên liên quan xác nhận sai sót.
HĐXX kết luận việc áp dụng hình thức kỷ luật sa thải là có cơ sở dựa trên sự kết hợp giữa:
Căn cứ luật định: Điều 122 và Điều 125 Bộ luật Lao động năm 2019.
Căn cứ nội bộ: Khoản 1.4 Mục C Phụ lục 01 Nội quy lao động và Khoản II.2, M, Phụ lục 02 Quy định hành vi vi phạm quy trình nghiệp vụ của Ngân hàng L3.
Bản án bác bỏ toàn bộ yêu cầu đòi bồi thường hơn 1,6 tỷ đồng của nguyên đơn và khẳng định việc sa thải là đúng pháp luật.
Bản án 87/2026/LĐ-PT không chỉ là một Bản án giải quyết tranh chấp đơn thuần, mà còn là một case study về xử lý kỷ luật sa thải liên quan đến căn cứ đe doạ gây thiệt hại, cuộc họp trực tuyến điện tử và quy trình xử lý kỷ luật hiện đại trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.
✍️Luật sư Hùng, tel 0865786009, người sáng lập LEGAL FORUM☘️

MỘT TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG: NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ PHÚC THẨM:"Việc N chấp nhận cho ông Đ, bà Y giải chấp 2/5 tài sản...
17/08/2026

MỘT TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG: NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ PHÚC THẨM:
"Việc N chấp nhận cho ông Đ, bà Y giải chấp 2/5 tài sản thế chấp, trong đó có 01 tài sản thế chấp có giá trị cao hơn số tiền ông Đ, bà Y đã nộp mà không làm rõ phạm vi bảo đảm của từng tài sản thế chấp; buộc các chủ tài sản bảo đảm còn lại phải đảm bảo toàn bộ nợ gốc, nợ lãi mà Công ty TNHH N1 còn nợ NCB là không đảm bảo công bằng giữa các chủ tài sản thế chấp; ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ".
Bản án số 09/2026/KDTM-PT ngày 17/7/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
1. Tóm lược diễn biến và vấn đề pháp lý phát sinh
Vụ án khởi nguồn từ việc Công ty TNHH N1 ký kết các hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ với Ngân hàng TMCP Q (Ngân hàng). Để đảm bảo cho các khoản vay, nhiều tài sản bảo đảm đã được thế chấp, bao gồm quyền sử dụng đất của ông P, bà T3 và quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Đ, bà Y, cùng một số tài sản khác của doanh nghiệp.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, Ngân hàng đã đồng ý giải chấp tài sản cho ông Đ và bà Y sau khi họ nộp số tiền 4.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, yêu cầu tương tự của ông P và bà T3 về việc giải chấp tài sản với số tiền nộp tương ứng lại không được Ngân hàng chấp thuận, dẫn đến việc họ kháng cáo yêu cầu xem xét lại phạm vi nghĩa vụ bảo đảm.
2. Nhận định của Tòa án về tính công bằng và phạm vi bảo đảm
Vấn đề pháp lý được Hội đồng xét xử (HĐXX) phúc thẩm tập trung phân tích chính là sự bất hợp lý trong việc xác định phạm vi nghĩa vụ bảo đảm đối với các bên thế chấp khác nhau trong cùng một quan hệ tín dụng. Tòa án đã đưa ra nhận định về hành vi của Ngân hàng:
"Việc N chấp nhận cho ông Đ, bà Y giải chấp 2/5 tài sản thế chấp, trong đó có 01 tài sản thế chấp có giá trị cao hơn số tiền ông Đ, bà Y đã nộp mà không làm rõ phạm vi bảo đảm của từng tài sản thế chấp; buộc các chủ tài sản bảo đảm còn lại phải đảm bảo toàn bộ nợ gốc, nợ lãi mà Công ty TNHH N1 còn nợ NCB là không đảm bảo công bằng giữa các chủ tài sản thế chấp; ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ".
2. Sai sót trong việc áp dụng Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự về rút yêu cầu khởi kiện
Tại cấp sơ thẩm, khi Ngân hàng rút yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm đã giải chấp và số nợ 4 tỷ đồng, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đình chỉ phần yêu cầu này. Tuy nhiên, HĐXX phúc thẩm xác định đây không đơn thuần là việc rút yêu cầu độc lập mà là sự thay đổi về nội dung giải quyết vụ án.
Tòa án phúc thẩm khẳng định:
"Hội đồng xét xử sơ thẩm đã đánh giá đây là việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, dẫn đến việc tuyên Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về số tiền gốc và quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp... là không đúng, cần rút kinh nghiệm".
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, việc rút một phần yêu cầu chỉ được chấp nhận nếu không ảnh hưởng đến việc giải quyết toàn bộ vụ án. Trong trường hợp này, số tiền 4 tỷ đồng và tài sản đã giải chấp có mối quan hệ hữu cơ với phạm vi bảo đảm của các tài sản còn lại, do đó cần phải được xem xét tổng thể trong bản án thay vì đình chỉ riêng biệt.
3. Xác định giới hạn nghĩa vụ bảo đảm của bên thứ ba
HĐXX phúc thẩm đã thể hiện quan điểm bảo vệ bên yếu thế (ông P, bà T3 - những người cao tuổi thế chấp tài sản duy nhất để bảo lãnh cho doanh nghiệp). Tòa án đã chấp nhận giới hạn nghĩa vụ nợ của họ ở mức 2.108.000.000 đồng số nợ gốc tại một khế ước nợ cụ thể có lợi nhất thay vì buộc họ bảo đảm cho toàn bộ dư nợ hơn 8,6 tỷ đồng của Công ty N1.,
Tòa án nhận định:
"Đề nghị của ông P, bà T3 là phù hợp phạm vi bảo đảm theo hợp đồng thế chấp 067, vừa đảm bảo quyền lợi của N về việc thu hồi nợ gốc, nợ lãi, vừa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông P, bà T3... giúp ông bà có điều kiện ổn định cuộc sống, được tiếp tục sinh sống trên thửa đất của gia đình sau khi thực hiện xong nghĩa vụ bảo đảm nên cần được chấp nhận".
Link bản án dưới bình luận:
✍️Luật sư Hùng, tel 0865786009, người sáng lập LEGAL FORUM☘️

Address

182/19 Hà Huy Giáp, Phường An Phú Đông
Ho Chi Minh City

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when LEGAL FORUM posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to LEGAL FORUM:

Shortcuts

Share

Category