VietNam LAWS

VietNam LAWS Dịch Vụ Tư Vấn Luật - Uy Tín Hàng Đầu Việt Nam

29/08/2026
29/08/2026
🌹🌹🌹Khi có cơ hội được tham gia góp ý xây dựng chính sách, điều quý giá đối với tôi không chỉ là được nói lên quan điểm c...
23/08/2026

🌹🌹🌹Khi có cơ hội được tham gia góp ý xây dựng chính sách, điều quý giá đối với tôi không chỉ là được nói lên quan điểm của mình, mà còn là cơ hội được tiếp xúc với nhiều bậc tiền bối, chuyên gia giàu kinh nghiệm, được ngồi nghe, quan sát và học hỏi từ cách họ nhìn nhận một vấn đề.🌹🌹🌹

Mỗi cuộc họp, mỗi hội nghị đều cho tôi thêm những bài học mà đôi khi sách vở không thể mang lại. Nhưng học hỏi không chỉ đến từ những điều hay. Có những lúc, chứng kiến một số đại biểu góp ý chính sách nhưng cách trình bày lại giống như đang đọc một bài diễn văn: mắt gần như không rời trang giấy, câu chữ dài, nhiều thuật ngữ, thiếu điểm nhấn và ngữ điệu. Nội dung có thể rất chuyên sâu, nhưng người nghe lại khó nhận ra vấn đề thực sự nằm ở đâu và kiến nghị cụ thể là gì.

Nhìn những điều đó, tôi không muốn phê phán ai. Ngược lại, tôi tự soi lại chính mình và nhận ra rằng: đó cũng là những điều mình cần tránh và cần tiếp tục hoàn thiện. Bởi góp ý chính sách không phải để chứng minh mình có học hàm, học vị hay kiến thức uyên bác đến đâu...

♻Điều quan trọng hơn là biến một vấn đề phức tạp thành một vấn đề dễ hiểu; chỉ ra đúng bất cập; phân tích được tác động thực tế và cuối cùng đưa ra một kiến nghị rõ ràng, khả thi.

⛔Một ý kiến dù rất hay nhưng trình bày khiến người nghe không hiểu thì giá trị cũng bị giảm đi rất nhiều.

Vì vậy, càng có cơ hội được ngồi trong những diễn đàn chính sách, tôi càng tự nhắc mình phải rèn luyện:

✅Người nói giỏi không phải là người khiến người khác thấy mình uyên bác. Người nói giỏi là người có thể biến một vấn đề phức tạp thành điều mà mọi người đều hiểu được.

❤Và trên hết, khi góp ý chính sách, cần có chính kiến nhưng không cực đoan; phản biện nhưng không công kích; thẳng thắn nhưng cầu thị; độc lập và chính trực, không nói theo đám đông.

📍Chính sách dành cho hàng triệu người thì tiếng nói góp ý chính sách trước hết phải là tiếng nói mà hàng triệu người có thể hiểu.





📍“The Great Transshipment Scam – Rise, Scope, and Costs” của White House Office of Trade and Manufacturing Policy, tháng...
16/08/2026

📍“The Great Transshipment Scam – Rise, Scope, and Costs” của White House Office of Trade and Manufacturing Policy, tháng 8/2026.

Nguồn: The-Great-Transshipment-Scam_1.pdf

❌ Thông cáo miễn trừ trách nhiệm:

Mọi luận điểm phân tích dưới đây chỉ mang tính chất tham khảo và không phải là cảnh báo của bất kỳ cơ quan chính quyền nào nên việc truyền thông lại cần được thận trọng để tránh hoang mang dư luận

Nếu nhìn dưới góc độ doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ và chính sách thuế/hải quan, có 7 điểm đáng chú ý nhất:

1️⃣ Việt Nam bị xếp vào nhóm rủi ro chuyển tải bất hợp pháp tương đối cao. Báo cáo xếp Việt Nam vào Tier 2 – “Scale Leaders, Significant Economic Integration with China”, cùng Brazil, Indonesia, Malaysia, Thailand và Turkey. Lý do được nêu là các nước này có quy mô thương mại đáng kể, liên kết sâu với chuỗi cung ứng Trung Quốc và có khả năng đưa hàng có yếu tố Trung Quốc vào dòng xuất khẩu sang Mỹ.

Điều này rất quan trọng: báo cáo không kết luận mọi hàng Việt Nam là chuyển tải, nhưng việc Việt Nam được đưa vào Tier 2 có thể khiến doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam chịu mức độ kiểm tra xuất xứ và chuỗi cung ứng cao hơn.

2. Trọng tâm kiểm tra sẽ chuyển từ C/O sang “bản chất sản xuất”. Báo cáo coi các hành vi như thay nhãn, đóng gói lại, thay invoice, gia công nhỏ hoặc khai sai xuất xứ để hưởng mức thuế thấp hơn là dấu hiệu chuyển tải. Đặc biệt, Mỹ muốn phân biệt giữa “substantial transformation” – chuyển đổi đáng kể với hoạt động gia công đơn giản hoặc “pass-through trade”.

Đối với DN Việt Nam nhập nguyên liệu, linh kiện Trung Quốc rồi sản xuất để xuất Mỹ, đây có lẽ là rủi ro lớn nhất. Cơ quan Mỹ có thể xem xét năng lực nhà máy, nguồn nguyên liệu đầu vào, tỷ lệ giá trị gia tăng tại Việt Nam, lao động, máy móc thiết bị và công đoạn sản xuất thực tế.

3. Một số ngành xuất khẩu của Việt Nam có mức độ nhạy cảm cao. Báo cáo nhắc đến Việt Nam trong chuỗi sản xuất điện tử, máy móc, nhựa, giày dép, may mặc, linh kiện và các sản phẩm công nghiệp sử dụng đầu vào từ Trung Quốc.

Đáng chú ý hơn, báo cáo đề cập các vụ việc chống lẩn tránh đối với pin và module năng lượng mặt trời sử dụng đầu vào Trung Quốc nhưng hoàn thiện tại Cambodia, Malaysia, Thailand và Vietnam.

Vì vậy, rủi ro không chỉ là thuế nhập khẩu thông thường, mà còn liên quan đến AD/CVD – thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp.

4. Thuế có thể tăng rất mạnh nếu Mỹ xác định sai xuất xứ hoặc lẩn tránh thuế. Báo cáo sử dụng các mức chênh lệch thuế minh họa 25%, 35% và 45%, nhưng lưu ý đây chưa bao gồm đầy đủ AD/CVD. Một số mặt hàng có AD/CVD cộng dồn rất cao.

Điểm này tác động trực tiếp đến giá bán, hợp đồng và transfer pricing/commercial pricing của DN Việt Nam: nếu nhà nhập khẩu Mỹ bị truy thu thuế do cơ quan Mỹ xác định hàng thực chất có xuất xứ Trung Quốc, chi phí có thể quay ngược lại DN Việt Nam thông qua điều khoản indemnity, warranty of origin hoặc yêu cầu giảm giá.

5. Mỹ đang tăng mạnh hậu kiểm và truy thu thuế hải quan. Theo số liệu được báo cáo dẫn lại, khi so sánh hai giai đoạn 526 ngày trước và sau thời điểm chính quyền mới bắt đầu, số shipment phát hiện sai lệch sau thông quan tăng 245%, từ 93.744 lên 323.677, còn số tiền assessment tăng 169%, từ 9,6 tỷ USD lên 25,8 tỷ USD.

Đây là dấu hiệu rất đáng lưu ý đối với DN xuất khẩu: rủi ro không kết thúc khi hàng đã thông quan tại Mỹ.

6. Mỹ dự kiến dùng AI để kiểm tra xuyên suốt chuỗi cung ứng. “Detective Border” được mô tả sẽ đối chiếu xuất xứ khai báo, lịch sử tuyến vận chuyển, hàm lượng linh kiện, năng lực sản xuất nhà máy, bill of lading, manifest và certificate of origin. Hệ thống còn hướng tới phát hiện bất thường về tuyến đường, giá trị và năng lực sản xuất.

Do đó, doanh nghiệp Việt Nam sẽ khó dựa đơn thuần vào bộ C/O hợp lệ về hình thức. Dữ liệu phải logic từ nhập khẩu nguyên liệu → BOM/định mức → sản xuất → tồn kho → xuất khẩu → C/O → invoice → logistics.

7. Hàm ý đối với chính sách thuế – hải quan Việt Nam khá lớn. Theo tôi, đây là điểm Việt Nam nên quan tâm nhất. Nếu Mỹ tăng kiểm soát hàng “China-linked”, Việt Nam cần đồng thời bảo vệ DN sản xuất thực chất và ngăn Việt Nam trở thành địa điểm chuyển tải.
Về quản lý nhà nước, nên tăng kết nối dữ liệu giữa Hải quan – Thuế – C/O – đầu tư – hóa đơn điện tử. Một DN nhập gần như toàn bộ thành phẩm/linh kiện từ Trung Quốc nhưng khai xuất khẩu sang Mỹ với xuất xứ Việt Nam trong khi doanh thu, nhân công, điện năng, máy móc, công suất nhà máy và giá trị gia tăng nội địa không tương xứng sẽ là mô hình rủi ro rất dễ bị các hệ thống phân tích dữ liệu của Mỹ phát hiện.
Kết luận quan trọng cho doanh nghiệp Việt Nam

Tôi sẽ cô đọng báo cáo thành một thông điệp:

✅Rủi ro lớn nhất đối với doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ trong giai đoạn tới không đơn thuần là mức thuế suất bao nhiêu, mà là có chứng minh được “Vietnamese origin” bằng hoạt động sản xuất thực chất hay không. Đặc biệt với DN FDI có vốn Trung Quốc hoặc DN Việt Nam nhập nguyên vật liệu/linh kiện Trung Quốc → gia công tại Việt Nam → xuất Mỹ, hồ sơ tuân thủ nên được chuẩn bị theo hướng “Origin Defense File”: nguồn gốc nguyên liệu, BOM, định mức, quy trình sản xuất, substantial transformation, máy móc, công suất, nhân công, điện năng, giá trị gia tăng, invoice, logistics và C/O phải khớp thành một chuỗi dữ liệu có thể kiểm chứng.

Một chi tiết rất đáng chú ý: báo cáo dẫn ước tính giao dịch cấp độ chi tiết của Commerce OTEA rằng khoảng 67 tỷ USD hàng hướng tới Mỹ đã được chuyển tải từ Trung Quốc qua ba trung tâm Mexico, India và Vietnam trong năm 2025, với mức thất thu thuế ước tính 28 tỷ USD. Đây là con số rất đáng lưu ý đối với Việt Nam, dù cần nhấn mạnh đây là ước tính/phương pháp của báo cáo, không đồng nghĩa 67 tỷ USD đều là gian lận đã được cơ quan có thẩm quyền kết luận.

Thực tế, cách tiếp cận “ưu tiên dữ liệu trước, yêu cầu giấy tờ khi dữ liệu chưa có” đã xuất hiện ngay trong khoản 9 Điều...
14/08/2026

Thực tế, cách tiếp cận “ưu tiên dữ liệu trước, yêu cầu giấy tờ khi dữ liệu chưa có” đã xuất hiện ngay trong khoản 9 Điều 4 Thông tư 87/2026/TT-BTC: cơ quan thuế khai thác dữ liệu từ Cổng Dịch vụ công quốc gia, hệ thống giải quyết thủ tục hành chính, cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành để xác định người phụ thuộc; chỉ khi không khai thác được dữ liệu thì người nộp thuế mới phải cung cấp giấy tờ.

Theo chúng tôi, đây chính là nguyên tắc rất nên được mở rộng sang quyết toán thuế TNCN.

Thực tế, cách tiếp cận “ưu tiên dữ liệu trước, yêu cầu giấy tờ khi dữ liệu chưa có” đã xuất hiện ngay trong khoản 9 Điều...
14/08/2026

Thực tế, cách tiếp cận “ưu tiên dữ liệu trước, yêu cầu giấy tờ khi dữ liệu chưa có” đã xuất hiện ngay trong khoản 9 Điều 4 Thông tư 87/2026/TT-BTC: cơ quan thuế khai thác dữ liệu từ Cổng Dịch vụ công quốc gia, hệ thống giải quyết thủ tục hành chính, cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành để xác định người phụ thuộc; chỉ khi không khai thác được dữ liệu thì người nộp thuế mới phải cung cấp giấy tờ. Theo tôi, đây chính là nguyên tắc rất nên được mở rộng sang quyết toán thuế TNCN. Quan điểm của bạn như thế nào?

𝐕𝐀̆𝐍 𝐁𝐀̉𝐍 𝐂𝐎́ 𝐇𝐈𝐄̣̂𝐔 𝐋𝐔̛̣𝐂 𝐍𝐆𝐀𝐘 – 𝐂𝐎́ 𝐍Ê𝐍 “𝐏𝐇𝐀̣𝐓 𝐍𝐆𝐀𝐘” 𝐃𝐎𝐀𝐍𝐇 𝐍𝐆𝐇𝐈𝐄̣̂𝐏?Góc nhìn và kiến nghị của chuyên gia Trần Văn Quân...
10/08/2026

𝐕𝐀̆𝐍 𝐁𝐀̉𝐍 𝐂𝐎́ 𝐇𝐈𝐄̣̂𝐔 𝐋𝐔̛̣𝐂 𝐍𝐆𝐀𝐘 – 𝐂𝐎́ 𝐍Ê𝐍 “𝐏𝐇𝐀̣𝐓 𝐍𝐆𝐀𝐘” 𝐃𝐎𝐀𝐍𝐇 𝐍𝐆𝐇𝐈𝐄̣̂𝐏?

Góc nhìn và kiến nghị của chuyên gia Trần Văn Quân
Một trong những nguyên tắc quan trọng của pháp luật không chỉ là văn bản phải được ban hành đúng thẩm quyền, mà còn phải bảo đảm cho người dân và doanh nghiệp có khả năng tiếp cận, hiểu và thực hiện các quy định mới.
Theo khoản 1 Điều 53 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15, về nguyên tắc, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương không được có hiệu lực sớm hơn 45 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành. Đối với văn bản của chính quyền địa phương, thời gian này tối thiểu là 10 ngày.
Tuy nhiên, Luật đồng thời cho phép ngoại lệ: văn bản được xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn và trong trường hợp đặc biệt có thể có hiệu lực ngay từ ngày thông qua hoặc ký ban hành. Khi đó, văn bản phải được đăng tải ngay trên Công báo điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, cổng thông tin điện tử của cơ quan ban hành và được đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng.

𝐂𝐨́ 𝐡𝐢ệ𝐮 𝐥𝐮̛̣𝐜 𝐧𝐠𝐚𝐲 𝐤𝐡𝐨̂𝐧𝐠 đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐧𝐠𝐡𝐢̃𝐚 𝐝𝐨𝐚𝐧𝐡 𝐧𝐠𝐡𝐢ệ𝐩 𝐜𝐨́ 𝐭𝐡𝐞̂̉ 𝐡𝐢𝐞̂̉𝐮 𝐯𝐚̀ 𝐭𝐡𝐮̛̣𝐜 𝐡𝐢ệ𝐧 𝐧𝐠𝐚𝐲

Đây là vấn đề cần được nhìn nhận từ thực tiễn: trong lĩnh vực thuế, hóa đơn, kế toán, hải quan, một Nghị định hoặc Thông tư mới có thể dài hàng chục, thậm chí hàng trăm trang; đồng thời sửa đổi nhiều quy trình nghiệp vụ, biểu mẫu, hệ thống phần mềm và cách xử lý giao dịch, nhiều biểu mẫu chưa thể cập nhật kịp thời trên hệ thống khai thuế hay dịch vụ công, điển hình là người nước ngoài cho thuê BĐS hiện nay khai báo như thế nào khi mà phương thức khai báo trên trang thuế điện tử không còn thực hiện được nữa.
Từ thời điểm văn bản được ký ban hành đến khi doanh nghiệp nhận biết được văn bản, đọc, phân tích, đào tạo lại nhân sự, điều chỉnh phần mềm kế toán – ERP, quy trình hóa đơn, khai thuế hoặc thủ tục hải quan cần một khoảng thời gian nhất định.
Do đó, cần phân biệt hai khái niệm: “Văn bản đã có hiệu lực pháp luật” và “đối tượng chịu sự điều chỉnh đã có điều kiện hợp lý để tiếp cận và tổ chức thực hiện văn bản”. Đây không hoàn toàn là một vấn đề. Đặc biệt, Điều 9 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng đặt ra trách nhiệm gửi văn bản để đăng tải trên Công báo điện tử và Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Điều này cho thấy việc công bố, phổ biến và bảo đảm khả năng tiếp cận pháp luật là một phần quan trọng trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật. Bất kỳ một cá nhân hay DN nào không nên bị kết luận là vi phạm pháp luật khi mà họ không thể nào tiếp cận để đọc hiểu ngay tại thời điểm văn bản có hiệu lực. Trong thực tiễn, cán bộ công chức thuế còn chưa kịp thời nắm bắt để hướng dẫn doanh nghiệp trong thời hạn 45 ngày kể từ khi văn bản được ban hành.
Nghị định 254/2026/NĐ-CP ban hành ngày 30/06/2026 nhưng có hiệu lực từ ngày 01/07/2026 - trong đó có điểm quy định các khoản thu ứng trước tiền dịch vụ cũng thuộc đối tượng xuất hóa đơn, nếu trong thời gian 45 ngày từ ngày văn bản này được ban hành, doanh nghiệp vị chưa thể biết và cũng không có cách nào để nhận biết sớm hơn nên chưa thực hiện quy định mới này, vậy trong trường hợp này DN có bị rủi ro xử phạt "oan" hay không?

Ngoài ra, trong nhiều trường hợp không phải mọi khoản tiền tạm ứng nhận được đồng nghĩa với khả năng dịch vụ được hoàn thành, nhiều trường hợp phải hoàn trả lại tiền tạm ứng hoặc bồi thường cho khách hàng nhưng lại phải mang tiền đi nộp thuế VAT trước nhưng không có cơ chế tự động hoàn lại hoặc cho phép DN được hoàn thuế trong trường hợp dịch vụ không hoàn thành, phải hoàn trả lại tạm ứng nhưng tiền đâu để hoàn trả khi mà một phần đã được mang đi nộp cho cơ quan thuế rồi?

𝐗𝐮̛̉ 𝐩𝐡𝐚̣𝐭 𝐡𝐚̀𝐧𝐡 𝐜𝐡𝐢́𝐧𝐡 𝐜𝐨̀𝐧 𝐩𝐡𝐚̉𝐢 𝐱𝐞𝐦 𝐱𝐞́𝐭 𝐲𝐞̂́𝐮 𝐭𝐨̂́ “𝐥𝐨̂̃𝐢”

Nếu một quy định dài trăm trang được ký hôm nay, có hiệu lực hôm nay và doanh nghiệp có thể bị xử phạt ngay ngày mai vì chưa kịp cập nhật, thì cần xem xét lại sự cân bằng giữa yêu cầu quản lý nhà nước và khả năng tuân thủ thực tế của người dân, doanh nghiệp. Mục tiêu cuối cùng của quản lý thuế và hải quan không nên là xử phạt bao nhiêu trường hợp, mà phải là tạo ra một môi trường trong đó người nộp thuế hiểu đúng – làm đúng – và tự nguyện tuân thủ pháp luật. Trong mọi trường hợp, nếu không có yếu tố trốn thuế mà chỉ là vô tình hoặc mang tính vi phạm hành chính thì tiền phạt vi phạm hành chính không được quá cao – đặc biệt là các trường hợp DN không phát sinh mua vào, bán ra mà vẫn không nộp tờ khai cũng bị phạt rất cao khi quá 90 ngày chưa nộp tờ khai.

𝐂𝐨́ 𝐡𝐢ệ𝐮 𝐥𝐮̛̣𝐜 𝐧𝐠𝐚𝐲 𝐥𝐚̀ 𝐲𝐞̂𝐮 𝐜𝐚̂̀𝐮 𝐜𝐮̉𝐚 𝐪𝐮𝐚̉𝐧 𝐥ý. 𝐍𝐡ư𝐧𝐠 “𝐩𝐡𝐚̣𝐭 𝐧𝐠𝐚𝐲” 𝐜𝐡ư𝐚 𝐜𝐡𝐚̆́𝐜 𝐥𝐚̀ 𝐩𝐡ư𝐨̛𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐪𝐮𝐚̉𝐧 𝐥ý 𝐭𝐨̂́𝐭 𝐧𝐡𝐚̂́𝐭.

Trần Văn Quân – Góc nhìn của người đồng hành, đồng cảm, hỗ trợ doanh nghiệp và người nộp thuế.

Trích Điều 9 & Điều 53 Luật 64/2025/QH15 - BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

28/07/2026

📍Làm dịch vụ cho doanh nghiệp FDI không chỉ là kế toán và thuế

💋Nhiều người cho rằng tư vấn cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chỉ cần am hiểu kế toán và thuế. Thực tế, đó mới chỉ là một phần rất nhỏ.

♻Một đơn vị tư vấn chuyên nghiệp cần hiểu mô hình kinh doanh, quy trình đầu tư, quy định về quản lý ngoại hối, cũng như các báo cáo tuân thủ mà doanh nghiệp FDI phải thực hiện trong suốt quá trình hoạt động tại Việt Nam.

⛔Gần đây, chúng tôi tiếp nhận nhiều trường hợp doanh nghiệp tìm đến khi rủi ro đã phát sinh. Điển hình là doanh nghiệp quá thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mà chưa góp đủ vốn vào TK DICA theo quy định. Trong thời gian đó, để duy trì hoạt động, công ty mẹ ở nước ngoài lại chuyển tiền vào tài khoản thanh toán của công ty con tại Việt Nam thay vì thực hiện góp vốn đúng quy định.

❌Nghiêm trọng hơn, khoản tiền này được sử dụng trong thời gian dài, quá 12 tháng nhưng không hoàn trả và cũng không thực hiện thủ tục đăng ký khoản vay nước ngoài theo quy định về quản lý ngoại hối. Điều này có thể dẫn đến rủi ro bị xử phạt trong lĩnh vực đầu tư và quản lý ngoại hối, đồng thời phát sinh nhiều hệ quả pháp lý khác.

💲Chính vì vậy, khi lựa chọn đơn vị tư vấn, doanh nghiệp FDI không chỉ nên quan tâm đến năng lực về kế toán và thuế, mà còn cần đánh giá liệu đơn vị đó có thực sự hiểu hoạt động của doanh nghiệp nước ngoài, nắm được các yêu cầu tuân thủ về đầu tư, ngoại hối và các nghĩa vụ báo cáo hay không.

✅Một đơn vị tư vấn hiểu đúng bản chất hoạt động của doanh nghiệp sẽ giúp khách hàng tuân thủ đúng – đủ – kịp thời, hạn chế rủi ro pháp lý và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững tại Việt Nam.

𝐂𝐨̂𝐧𝐠 𝐯𝐚̆𝐧 𝟒𝟐𝟓𝟏/𝐂𝐒-𝐍𝐕𝐓: 𝐌𝐨̣̂𝐭 𝐛𝐮̛𝐨̛́𝐜 𝐜𝐚̉𝐢 𝐜𝐚́𝐜𝐡 𝐧𝐡𝐨̉ 𝐧𝐡𝐮̛𝐧𝐠 𝐦𝐚𝐧𝐠 𝐲́ 𝐧𝐠𝐡𝐢̃𝐚 𝐥𝐨̛́𝐧 đ𝐨̂́𝐢 𝐯𝐨̛́𝐢 𝐧𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 𝐧𝐨̣̂𝐩 𝐭𝐡𝐮𝐞̂́Trần ...
15/07/2026

𝐂𝐨̂𝐧𝐠 𝐯𝐚̆𝐧 𝟒𝟐𝟓𝟏/𝐂𝐒-𝐍𝐕𝐓: 𝐌𝐨̣̂𝐭 𝐛𝐮̛𝐨̛́𝐜 𝐜𝐚̉𝐢 𝐜𝐚́𝐜𝐡 𝐧𝐡𝐨̉ 𝐧𝐡𝐮̛𝐧𝐠 𝐦𝐚𝐧𝐠 𝐲́ 𝐧𝐠𝐡𝐢̃𝐚 𝐥𝐨̛́𝐧 đ𝐨̂́𝐢 𝐯𝐨̛́𝐢 𝐧𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 𝐧𝐨̣̂𝐩 𝐭𝐡𝐮𝐞̂́

Trần Văn Quân – Chủ tịch VNLAWS (sống với cái tâm - góp ý bằng chữ tình - làm việc bằng trách nhiệm, vì một Việt Nam vươn mình, giàu mạnh)

Có những văn bản không tạo ra chính sách mới, nhưng lại góp phần tháo gỡ những "nút thắt" trong quá trình thực thi chính sách. Theo quan điểm của tôi, Công văn số 4251/CS-NVT ngày 24/6/2026 của Cục Thuế là một ví dụ như vậy.

Điều đáng ghi nhận ở công văn này không chỉ nằm ở nội dung hướng dẫn nghiệp vụ mà còn ở tinh thần lắng nghe những bất cập phát sinh từ thực tiễn, qua đó góp phần giảm chi phí tuân thủ cho người nộp thuế và giảm chi phí hành chính cho chính cơ quan nhà nước.

Trong thời gian qua, khi thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế hoặc giải thể doanh nghiệp, không ít hộ kinh doanh và doanh nghiệp đã gặp vướng mắc liên quan đến việc phải xin xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế tại cơ quan Hải quan.

Điều đáng nói là nhiều doanh nghiệp, hộ kinh doanh chưa từng phát sinh hoạt động xuất nhập khẩu, chưa từng đăng ký tài khoản khai báo hải quan điện tử trên các phần mềm như - hay eCustoms, cũng chưa từng mở tờ khai hải quan. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, họ vẫn phải thực hiện thủ tục xin xác nhận không còn nợ thuế tại cơ quan Hải quan trước khi hoàn tất thủ tục đóng mã số thuế.

Về bản chất, đây là một yêu cầu nhằm bảo đảm người nộp thuế đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, nếu áp dụng cứng nhắc đối với cả những trường hợp chưa từng phát sinh quan hệ với cơ quan Hải quan thì lại vô hình trung làm gia tăng đáng kể chi phí tuân thủ.

Tôi có dịp trực tiếp làm việc trong lĩnh vực XNK và quản lý chuỗi cung ứng cũng như Tài chính - Kế toán cho các DN FDI quy mô lớn nên hoàn toàn thấu cảm được những vất vả và hệ luỵ từ quy trình giải quyết xác nhận không nợ thuế như vừa qua ở các Cơ quan Hải quan. Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp phải nhiều lần đến cơ quan Hải quan nhưng không gặp được cán bộ phụ trách hoặc không xác định được đúng đầu mối tiếp nhận hồ sơ. Không ít trường hợp buộc phải gửi hồ sơ qua dịch vụ bưu chính, ghi rõ thông tin liên hệ và nhờ lực lượng bảo vệ chuyển tiếp đến bộ phận văn thư. Quy trình này kéo dài nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần, chỉ để xác nhận một nội dung mà trên thực tế có thể được kiểm tra thông qua dữ liệu quản lý của cơ quan nhà nước.

Trong bối cảnh Chính phủ đang đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách thủ tục hành chính theo Quyết định số 45/2020/Qđ-TTg, những quy trình như vậy rõ ràng chưa còn phù hợp với mục tiêu xây dựng nền hành chính hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

Điều đáng mừng là tinh thần của Công văn số 4251/CS-NVT cho thấy cơ quan thuế đã ghi nhận những khó khăn phát sinh từ thực tiễn và có hướng xử lý theo hướng tạo thuận lợi hơn cho người nộp thuế.

Quan trọng hơn, cách tiếp cận này cũng phù hợp với chủ trương xuyên suốt của Bộ Tài chính về tăng cường chia sẻ dữ liệu giữa các đơn vị thuộc Bộ, khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu dùng chung, hạn chế tối đa việc yêu cầu người dân và doanh nghiệp phải cung cấp lại những thông tin mà cơ quan nhà nước đã có hoặc có thể tự trao đổi với nhau.

Thuế và Hải quan đều là các đơn vị thuộc Bộ Tài chính, cùng quản lý nghĩa vụ tài chính của người nộp thuế trên các hệ thống dữ liệu điện tử. Vì vậy, đối với các thông tin như tình trạng nợ thuế hải quan, về lâu dài hoàn toàn có thể nghiên cứu cơ chế để cơ quan thuế chủ động tra cứu hoặc trao đổi dữ liệu với cơ quan Hải quan trong quá trình giải quyết hồ sơ chấm dứt hiệu lực mã số thuế, thay vì yêu cầu doanh nghiệp phải thực hiện thêm một thủ tục hành chính độc lập.

Nếu cơ chế chia sẻ dữ liệu này được triển khai đồng bộ, người nộp thuế sẽ không còn phải đi lại nhiều lần, không phải chờ đợi xác nhận bằng văn bản, trong khi cơ quan Hải quan cũng giảm được khối lượng công việc mang tính hành chính thuần túy. Đây là giải pháp mang lại lợi ích cho cả ba bên: người nộp thuế, cơ quan Thuế và cơ quan Hải quan.

Trong tiến trình cải cách thủ tục hành chính, không phải lúc nào cũng cần những thay đổi lớn về chính sách. Nhiều khi, chỉ cần loại bỏ một thủ tục trung gian hoặc tăng cường chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước cũng có thể tiết kiệm hàng nghìn giờ công và chi phí xã hội.

Có thể nói, Công văn số 4251/CS-NVT là một tín hiệu tích cực cho thấy cơ quan thuế đang từng bước chuyển từ tư duy "quản lý" sang tư duy "phục vụ", đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân. Đây cũng là tinh thần mà Bộ Tài chính nhiều lần nhấn mạnh trong chỉ đạo về cải cách hành chính, chuyển đổi số và xây dựng nền tài chính hiện đại, minh bạch, lấy người nộp thuế làm trung tâm.

Kỳ vọng rằng, trên nền tảng dữ liệu số đang được hoàn thiện, việc kết nối và chia sẻ thông tin giữa cơ quan Thuế và Hải quan sẽ tiếp tục được đẩy mạnh, để những thủ tục xác nhận mang tính hình thức dần được thay thế bằng cơ chế tra cứu điện tử, góp phần thực hiện đúng mục tiêu giảm chi phí tuân thủ, giảm chi phí hành chính và nâng cao chất lượng phục vụ người nộp thuế.

theo dõi Trần Văn Quân

05/07/2026

Address

144/1/7 Bình Lợi, Phường Bình Lợi Trung
Ho Chi Minh City
700000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when VietNam LAWS posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to VietNam LAWS:

Shortcuts

Share