Luật Việt

Luật Việt Tư vấn pháp luật. Trợ giúp pháp lý.

08/03/2022
18/06/2021

Xét hỏi tại phiên tòa hành chính sơ thẩm
Việc xét hỏi tại phiên tòa hành chính sơ thẩm là một nội dung quan trọng nhất, đồng thời cũng là một công việc khó khăn nhất của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội thẩm nhân dân trong quá ưình giải quyết vụ án hành chính. Bởi vì, thông qua việc xét hỏi tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội thẩm nhân dân sẽ thẩm tra lại tính hợp pháp và sự chính xác của tất cả các chứng cứ mà các đương sự đã xuất trình trước khi xét xử có trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ do các đương sự xuất trình trực tiếp tại phiên tòa sơ thẩm. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm nắm được một cách toàn diện về tất cả các chứng cứ, tình tiết của vụ án, nhằm tiếp tục điều khiển phần tranh luận, nghị án và ban hành bản án hoặc quyết định của Hội đồng xét xử sơ thẩm công minh, đúng pháp luật.
Xuất phát từ sự khác biệt về tính chất cơ bản của việc xét xử vụ án hành chính với các loại án hình sự, dân sự và các loại án khác thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án, nên trong quá trình điều khiển phiên toà, phần xét hỏi vụ án hành chính, chúng ta cần quan tâm các nội dung sau đây:
Thứ nhất, về đặc điểm của đối tượng xét hỏi tại phiên tòa hành chính sơ thẩm:
Khác với các vụ án hình sự, dân sự... đối tượng xét hỏi tại phiên tòa hành chính sơ thẩm là các đương sự, trong đó phía người bị kiện luôn luôn là nguời có chức vụ trong cơ quan Nhà nuớc, đồng thời, họ có trình độ về chuyên môn, pháp luật và xã hội cao, do vậy, đòi hỏi Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội thẩm nhân dân cùng những người tiến hành tố tụng trong vụ án hành chính không những phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, chuẩn bị tốt kế hoạch xét hỏi và có kỹ năng xét hỏi tốt, mà còn phải biết cách đặt những câu hỏi ngắn gọn, sắc bén, đúng trọng tâm vụ án, đồng thời, hướng cho các đương sự trả lời đúng vào những nội dung được xét hỏi nhằm sớm xác định được sự thật khách quan của vụ án.
Thứ hai, về phạm vi xét hỏi:
Xuất phát từ đối tượng chứng minh trong vụ án hành chính là tính hợp pháp, hay không hợp pháp của quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính là đối tuợng khởi kiện của vụ án hành chính. Do vậy, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội thẩm nhân dân phải bám vào yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, sự phản biện của người bị kiện và người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, cùng các chứng cứ thu thập trong vụ án để đối chiếu với các văn bản pháp luật liên quan, trên cơ sở đó đặt ra những nội dung cần phải xét hỏi và làm rõ tại phiên tòa, không đặt những câu hỏi ngoài nội dung vụ án và ngoài mục đích phải chứng minh trong vụ án hành chính.
Thứ ba, về nội dung xét hỏi tại phiên tòa hành chính sơ thẩm:
Ngoài việc xét hỏi để làm rõ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, sự phản biện của nguời bị kiện và những vấn đề khác liên quan đến vụ án. Để có đủ cơ sở phán xét tính hợp pháp của quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính là đối tuợng khởi kiện, Hội đồng xét xử sơ thẩm cần xét hỏi làm rõ các nội dung dưới đây:

Xét hỏi để làm rõ về sự hợp pháp trong thẩm quyền ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện: Hội đồng xét xử sơ thẩm cần xét hỏi và làm rõ việc nguời bị kiện ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính là đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính có đúng thẩm quyền theo luật định hay không? để làm rõ nội dung này, chủ tọa phiên tòa cần yêu cầu người bị kiện cung cấp cho Hội đồng xét xử những văn bản pháp luật (là văn bản có hiệu lực pháp luật tại thời điểm ban hành quyết định hành chính) quy định về thẩm quyền của người bị kiện được ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện, nếu trong hồ sơ đã có văn bản pháp luật đó thì Hội đồng xét xử đặt câu hỏi cho người bị kiện để làm rõ thẩm quyền của họ theo quy định của pháp luật.
Đồng thời với việc xét hỏi nguời bị kiện về nội dung này, Hội đồng xét xử yêu cầu người bị kiện chứng minh việc ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính của họ có hợp pháp về mặt thẩm quyền hay không? sau đó mời nguời có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án tham gia tố tụng với nguời bị kiện (nếu có) trình bày ý kiến bổ sung.
Sau khi xét hỏi người bị kiện và người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án tham gia tố tụng với người bị kiện xong; Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cần mời người khởi kiện và người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án tham gia tố tụng với người khởi kiện (nếu có), trình bày ý kiến phản biện lại lời trình bày của người bị kiện nêu trên, để làm rõ tính hợp pháp về mặt thẩm quyền của quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính bị khởi kiện trong vụ án hành chính.
Hội đồng xét xử cần đối chiếu việc ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện với quy định của pháp luật cho phép người bị kiện được ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi đó, để đánh giá tính hợp pháp về mặt thẩm quyền của quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính bị khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Xét hỏi về sự hợp pháp của thời hiệu ban hành quyết định hành chính và thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện: Với trình tự xét hỏi như trên, Hội đồng xét xử cần yêu cầu người bị kiện và người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án tham gia tố tụng với người bị kiện (nếu có) trình bày ý kiến về thời hiệu của việc ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện. Đồng thời, mời người khởi kiện và người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án tham gia tố tụng với người khởi kiện (nếu có) trình bày ý kiến phản lại lời trình bày của người bị kiện và người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án tham gia tố tụng với người bị kiện nêu trên.
Khi đánh giá tính hợp pháp về thời hiệu quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính bị khởi kiện, Hội đồng xét xử cần áp dụng quy định của pháp luật về thời hiệu đối với quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính đó và đối chiếu với thời điểm ban hành quyết hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính của người bị kiện, để xác định tính hợp của quyết định hành chính hoặc hành vi chính bị khởi kiện về nội dung này theo định của pháp luật.

Xét hỏi về tính hợp pháp của thời hạn ban hành quyết định hành chính: Nội dung xét hỏi này thông thường được thực hiện trong việc xử vụ án hành chính mà đối tượng khởi kiện vụ án đó là quyết định xử lý vi phạm hành chính.
Khi xét hỏi về nội dung này, Hội đồng xét xử yêu cầu người bị kiện và người có quyền nghĩa vụ liên quan đến vụ án tham gia tố tụng với người bị kiện (nếu có) trình bày ý kiến về thời hạn ban hành quyết định hành chính bị kiện, đồng thời, mời người khởi kiện và người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án gia tố tụng với người khởi kiện (nếu có) bày ý kiến phản biện lại lời trình bày của người bị kiện và người có quyền và nghĩa vụ liên đến vụ án tham gia tố tụng với người bị nêu trên.
Khi đánh giá về tính hợp pháp về thời hạn ban hành quyết định hành chính bị khởi kiện, Hội đồng xét xử cần đối chiếu kết quả xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm với quy của pháp luật về vấn đề đó, để xem xét và xác định quyết định hành chính bị khởi kiện có hợp pháp về mặt thời hạn ban hành quyết định hành chính hay không.
Xét hỏi về tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khởi kiện về mặt nội dung: Nội dung này được xác định là khó khăn nhất trong giai đoạn xét hỏi để đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính bị khởi kiện.
Để thực hiện tốt nội dung này, Hội đồng xét xử cần yêu cầu các đương sự, đặc biệt là người bị kiện trình cho Hội đồng xét xử các văn bản pháp luật mà họ áp dụng để ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện và các vãn bản pháp luật liên quan khác.
Thông thuờng thì trong phần căn cứ áp dụng pháp luật của quyết định hành chính bị khởi kiện, người bị kiện đã viện dẫn các văn bản pháp luật áp dụng để ban hành quyết định hành chính đó, nên trong phần xét hỏi Hội đồng xét xử yêu cầu nguời bị kiện trình bày rõ là họ đã áp dụng mục nào? điều nào? văn bản pháp luật nào? để ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện, sau đó Hội đồng xét xử mời các đương sự khác trình bày ý kiến phản biện lại như trình tự xét hỏi nêu trên.
Trường hợp quyết định hành chính bị khởi kiện không viện dẫn đủ các văn bản pháp luật dùng để ban hành quyết định hành chính bị khởi kiện, thì Hội đồng xét xử yêu cầu các đương sự trình bày thêm về các văn bản pháp luật mà họ cho rằng cần phải áp dụng để xem xét tính hợp pháp về mặt nội dung của quyết định hành chính bị khởi kiện đó.
Xét hỏi về tính hợp pháp của quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính, về trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính và thực hiện hành vi hành chính: Ngoài các nội dung xét hỏi nêu trên, Hội đồng xét xử cần phải xét hỏi thêm về trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính và thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện, để đánh giá một cách toàn diện về tính hợp pháp của quyết định hành chính và hành vi hành chính đó. Việc xét hỏi về nội dung này được tiến hành tương tự như các nội dung xét hỏi nêu trên.

Khi đánh giá tính hợp pháp về trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện, Hội đồng xét xử cần đối chiếu kết quả xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa với văn bản pháp luật quy định về nội dung đó, để xác định quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính bị khởi kiện có hợp pháp về trình tự thủ tục hay không.
Xét hỏi về vấn đề bồi thường thiệt hại: Nếu người khởi kiện vụ án hành chính đồng thời yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do có quyết định hành chính bị khởi kiện gây ra, thì Hội đồng xét xử yêu cầu họ cung cấp chứng cứ chứng minh thiệt hại đó theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử hỏi để làm rõ các chứng cứ chứng minh sự thiệt hại do có quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính bị khởi kiện gây ra cho người khởi kiện.
Trong trường họp người khỏi kiện vụ án hành chính có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại chưa thể cung cấp được chứng cứ ngay tại phiên tòa sơ thẩm, thì Hội đồng xét xử tách phần giải quyết yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại để giải quyết sau trong một vụ án dân sự khác theo thủ tục chung khi đương sự có yêu cầu.
Thứ tư, về trình tự xét hỏi:
Khi xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm thì chủ tọa phiên tòa xét hỏi truớc, sau đó đến các Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đuơng sự tham gia xét hỏi theo quy định của pháp luật để làm rõ nội dung vụ án.
Thứ năm, phương pháp xét hỏi:
Phương pháp xét hỏi là một vấn đề rất quan trọng, nó đòi hỏi Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội thẩm nhàn dân phải có một kỹ năng thành thục trong suốt quá trình xét hỏi và điều khiển phien tòa hành chính sơ thẩm.
Trên thực tế, có rất nhiều phương pháp xét hỏi tại phiên tòa có tính ưu việt cao mà chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, tổng kết trong thực tiễn để bổ sung cho kỹ năng xét xử của đội ngũ Thẩm phán, chúng tôi xin nêu ra hai phương pháp đặc trưng dưới đây:
Phương pháp xét hỏi làm rõ ngay vấn đề then chốt của vụ án hành chính: Thực hiện phuơng pháp này, ngay sau khi bước vào giai đoạn xét hỏi, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội thẩm nhân dân đặt câu hỏi cho các đuơng sự để làm rõ ngay vấn đề then chốt của vụ án, sau đó mới xét hỏi đến các nội dung liên quan khác.
Ưu điểm của phương pháp này là chỉ trong một thời gian rất ngắn, Hội đồng xét xử có thể làm toát lên toàn bộ nội dung cơ bản của vụ án.
Tuy nhiên, thực tiễn của việc xét xử án hành chính cho thấy, chúng ta chỉ có thể áp dụng thành công phương pháp xét hỏi này đối với nhũng vụ án hành chính đơn giản, mà trước đó Tòa án đã thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án một cách đầy đủ và rõ ràng, và tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đều thừa nhận sự hợp pháp và tính chính xác của các chứng cứ cần thiết để giải quyết vụ án đó.

Phương pháp xét hỏi bắt đầu từ các tình tiết cụ thể đến các vấn đề then chốt của vụ án, kết hợp với đối chất giữa các đương sự với nhau để tìm ra sự thật khách quan vụ án: Trong xét xử án hành chính, không phải vụ án nào cũng đơn giản và rõ ràng như đã nêu ở phần trên, thực tế có nhiều vụ án hành chính nội dung rất phức tạp, các đương sự không có điều kiện để cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án hoặc các chứng cứ do các đương sự cung cấp có rất nhiều mâu thuẫn. Gặp những trường hợp này, chúng ta nên áp dụng phương pháp xét hỏi bắt đầu từ các tình tiết cụ thể đến các vấn đề then chốt của vụ án kết hợp với đối chất giữa các đuơng sự với nhau để tìm ra sự thật khách quan vụ án.
Khi áp dụng phương pháp này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội thẩm nhân dân cần đọc kỹ hồ sơ vụ án để xác định phạm vi xét hỏi, các chứng cứ cần phải thẩm tra trong giai đoạn xét hỏi và những vấn đề mâu thuẫn giữa các chứng cứ cần phải đối chất, làm rõ tại phiên tòa sơ thẩm.
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội thẩm nhân dân xét hỏi làm rõ từng chứng cứ cụ thể trong hệ thống chứng cứ của vụ án, sau đó xâu chuỗi các chứng cứ đã được làm rõ theo một trình tự khoa học và logic, để phân tích đánh giá toàn bộ hệ thống chứng cứ của vụ án hành chính một cách toàn diện, khách quan và đầy đủ, trên cơ sở đó đối chiếu với các văn bản luật tương ứng để đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khởi kiện.

06/04/2016

Thầy Vũ Đức Vượng - từng là giảng viên các môn Xã hội học và Chính trị học ở Mỹ gửi đến Zing.vn bài phân tích về vụ án Minh Béo dựa trên luật pháp Mỹ.

Nếu thực sự phạm tội, đúng là Minh Béo đi đêm mãi nên lần này gặp ma. Theo tường trình trên các báo từ khi Minh Béo bắt ở Mỹ hôm 24/3, có vẻ đây không phải là lần đầu anh ta bị tố cáo.
Đó là hành vi lạm dụng công việc và tên tuổi của mình để quấy rối tình dục trẻ vị thành niên khi họ cần Minh Béo giúp đỡ hay cho tham gia các chương trình văn nghệ do anh chủ trì.
Luật pháp ở mỗi nơi có sự khác biệt. Cảnh sát Mỹ đeo súng C**t và cầm còng số 8, cứ lầm lầm lì lì tóm những kẻ thích chơi ngoài vòng pháp luật.

"Anh nhận tội hay chối tội?"

Cũng phải nói rõ ngay là không phải công an Việt Nam không bắt được tội phạm ấu dâm bao giờ. Nhưng nếu so sánh những thành quả của hai hệ thống pháp luật, hình sự cũng như dân sự, thì phía Việt Nam mới tập tễnh vào nghề.
Điển hình thành công của công an Việt Nam là vụ ca sĩ Gary Glitter cách đây khoảng 10 năm. Hắn tên thật là Paul Francis Gadd, người Anh, từng dính líu nhiều vụ lạm dụng tình dục trẻ em vị thành niên, kể cả lần bị kết án quay phim khiêu dâm trẻ em hồi năm 1999.
Sau đó hắn sang Việt Nam và Campuchia tiếp tục trò lạm dụng này. Glitter bị bắt ở Vũng Tàu ngày 19/11/2005 về tội dâm ô với trẻ vị thành niên và tháng 3/2006. Hắn bị tòa kết án 3 năm tù cũng như phải bồi thường 4.000 USD cho các em bị lợi dụng.
Thêm vào đó, tháng 6/2006 Tòa án Nhân dân Tối cao TP HCM bồi thêm một hình phạt nữa là trục xuất Glitter khỏi Việt Nam sau khi mãn hạn tù. Glitter được khoan hồng 3 tháng cuối và đưa thẳng ra sân bay vào tháng 8/2008.
Ngược lại, Minh Béo cũng từng bị nhiều nạn nhân tố cáo trên báo chí trong những năm qua, nhưng anh ta vẫn bình chân như vại, và lần này còn sang Mỹ biểu diễn.
Hệ thống pháp luật của Mỹ có bài bản, dày kinh nghiệm và minh bạch. Minh Béo chỉ mới bị cảnh sát Mỹ buộc tội và ngày 15/4, anh ta mới ra hầu tòa lần đầu. Tòa sẽ hỏi anh ta: “How do you plead?” (tạm dịch là "Anh nhận hay chối tội?").

Luật pháp bảo vệ quyền lợi mọi người
Dĩ nhiên là nếu Minh Béo nhận tội như công tố viên tố cáo thì kể như xong, không còn tranh cãi gì nữa, và chỉ chờ tòa tuyên án. Hoặc nhận một tội nào nhẹ hơn với hình phạt cũng nhẹ hơn – do luật sư của Minh Béo điều đình được với công tố viên.
Nhưng thường hơn trong các vụ hình sự, các bị cáo thường chối tội ngay từ đầu. Đây là một điển hình về sự minh bạch của hệ thống pháp luật Mỹ.
Khác với lối tư duy của người dân nhiều nước trên thế giới, kể cả Việt Nam, là “không có lửa sao có khói” và từ đó người bị cảnh sát cáo buộc là đã vi phạm luật thường phải tìm mọi cách để biện minh mình vô tội.
Ở Mỹ ngược lại. Hiến pháp của Mỹ chính thức bảo vệ quyền công dân của mọi người, và tu chính án số 5 bảo đảm các bị cáo được coi như vô tội cho đến khi tòa tuyên án.
Nói cách khác, ở Việt Nam người nào trong hoàn cảnh của Minh Béo thường sẽ lập tức thanh minh bào chữa cho mình. Nhưng ở Mỹ, giới hữu trách - thường là cảnh sát và công tố viên - phải chứng minh trước tòa.
Nếu có bồi thẩm đoàn (jury), họ phải thuyết phục 12 thành viên bồi thẩm đoàn là Minh Béo đã vi phạm những điều luật như cáo buộc. Do đó, ngày 15/4 sắp tới, nếu Minh Béo có luật sư bào chữa tốt thì anh sẽ không nhận tội, trách nhiệm chứng minh anh có tội thuộc về phía chính quyền.
Dĩ nhiên là chính quyền có nhiều phương tiện điều tra vụ việc để có thể chứng minh một cách chắc chắn là Minh Béo đã phạm luật.
Có quyền im lặng
Ngược lại, Minh Béo cũng có những “chiêu” để tự vệ.
Bước đầu tiên là anh có quyền được luật sư bào chữa cho anh ngay sau khi anh bị bắt. Nếu anh có khả năng tài chính, anh có quyền thuê bất cứ luật sư nào anh chọn và họ đồng ý đại diện cho anh.
Trường hợp anh nghèo, chính quyền quận Cam, nơi anh bị bắt giữ, phải ủy nhiệm một luật sư do chính quyền trả tiền (public defender) để đại diện cho anh, vì đây là một vụ hình sự.
Tu chính án số 6 viết rõ quyền được đại diện này để bảo đảm nguyên tắc “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”. Luật sư của anh sẽ có trách nhiệm gần như tuyệt đối là làm mọi cách để bảo vệ quyền lợi của anh.
Bước thứ hai là anh có quyền không cộng tác với cảnh sát hay công tố viên, nghĩa là anh cứ im thin thít, không phải trả lời những câu hỏi điều tra của họ.
Trên các phim và TV Mỹ, chúng ta thường thấy trong các vụ hình sự, khi cảnh sát bắt một nghi can thì lập tức họ phải đọc cho nghi can đó cái gọi là “Quyền Miranda”.
"Ông/bà có quyền giữ im lặng, nhưng những gì ông nói sẽ có thể được dùng làm bằng chứng trong phiên tòa; ông có quyền được luật sư đại diện cho ông"…

Dĩ nhiên là cảnh sát không được phép tra tấn hoặc dùng các biện pháp cưỡng chế về thân xác cũng như tâm thần Minh Béo để bắt anh phải khai hay nhận tội. Vi phạm những điều kiện trong phần này có thể đủ để tòa tuyên bố hủy bỏ vụ án.
Bước thứ ba là Minh Béo có thể xin tại ngoại. Hiện thời tiền thế chân (bail) của anh khá cao -1 triệu USD - một phần vì tội phạm liên quan đến ấu dâm thường bị đối xử nặng hơn. Phần nữa có lẽ là nguyên quán anh ở Việt Nam nên họ sợ anh có nhiều động lực để trốn khỏi quận Cam về Việt Nam hơn.
Sau đó sẽ lôi thôi hơn khi phải nhờ chính phủ Việt Nam dẫn độ anh trở lại Mỹ. Nhưng khi ra tòa hôm 15/4, chắc chắn luật sư của anh sẽ xin tòa giảm số tiền này, vì nhiều lý do, và rất có thể tòa sẽ hạ xuống.
Nếu anh có khả năng nộp tiền thế chân, anh sẽ thoải mái hơn khi được tại ngoại để chuẩn bị với luật sư phần bào chữa. Nhất là về mặt tâm lý.
Chuẩn bị kỹ càng
Bước thứ tư là chuẩn bị cho kỹ phần bào chữa. Ngoài luật sư, phía Minh Béo cũng cần phải điều tra ngược lại xem cảnh sát làm việc có nghiêm túc không khi họ bắt anh, có những dữ kiện nào khác có thể làm nhẹ tội hoặc hay hơn cả là giúp anh thoát tội.
Và luật sư của anh có quyền xem xét những bằng chứng của phía chính phủ để chuẩn bị cho phần bào chữa. Luật hình sự, dựa trên Hiến pháp và do Tối cao Pháp viện tạo những tiền án từ hai thế kỷ qua, còn có những hạn chế rõ ràng trong việc chính quyền truy bắt cũng như tố cáo bất kỳ người dân nào mà nếu cảnh sát hay công tố viên vi phạm thì vụ án phải hủy bỏ.
Bước thứ năm là chính những buổi xét xử. Ở Mỹ, tòa án phải công khai. Có thể chỉ một buổi đã xong, nhưng cũng có thể kéo dài lâu hơn.
Luật sư của Minh Béo có quyền đòi một bồi thẩm đoàn để xét xử anh và quyền chọn lựa các thành viên này cũng là một chiến thuật để bào chữa.
Đây cũng là một quyền và trách nhiệm căn bản trong xã hội Mỹ. Công dân có quyền bầu cử trực tiếp những người lãnh đạo mình, được Hiến pháp bảo vệ những quyền công dân căn bản, được bảo đảm an ninh, trật tự...
Và công dân cũng có những nhiệm vụ rõ ràng như đóng thuế, tuân thủ luật pháp, và thỉnh thoảng “được” ngồi vào bồi thẩm đoàn để xét xử những bị cáo trong địa hạt mình.
Bồi thẩm đoàn, nếu luật sư của Minh Béo yêu cầu, sẽ gồm những công dân cư ngụ trong quận Cam và đa số chắc chắn sẽ là người không phải gốc Việt.

Minh Béo cần bình tĩnh
Tóm lại, dựa trên những gì đọc được trên báo chí hai nước, hoàn cảnh Minh Béo bị bắt và truy tố có vẻ hợp pháp chứ không phải vô cớ. Nhưng đó mới chỉ là bước đầu trong một hành trình còn khá dài, có thể với những uẩn khúc mà người ngoài cuộc chưa lường được.
Mỗi bên đều có những lợi thế cũng như trách nhiệm rõ ràng. Do đó, chúng ta cũng chưa nên lên án vội, hãy để cho bộ máy hình sự của Mỹ vận hành theo đúng trình tự và minh bạch.
Người cần bình tĩnh nhất phải là Minh Béo. Cuộc sống của anh đã bị đảo lộn, sự nghiệp cũng đã bị “trật đường rầy”, chưa kể đến những liên hệ với đồng nghiệp, những người thân quen, fan, và nhất là với gia đình anh.
Kế đến, anh cần một luật sư biết việc và tận tâm, không nhất thiết phải là người nào tính giá cao nhất. Nếu ta dùng một thí dụ quân sự, đây là một trận đánh lớn. Minh Béo là mục đích của trận đánh - thắng hay thua có hậu quả cụ thể - luật sư sẽ là tướng cầm quân bầy binh bố trận cho anh để đối đầu với đạo quân đối nghịch là cảnh sát và công tố viên.
Cũng tương tự như trong chiến trận hay trên bàn cờ, có những quy luật rõ ràng và được cả hai phe chấp nhận, cuộc chiến này sẽ quyết định số phận và tương lai của Minh Béo.
Vũ Đức Vượng (Viết từ San Francisco)

02/04/2016

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 80/TANDTC-PC Hà Nội, ngày 29 tháng 03 năm 2016
V/v xử lý hành vi đánh bạc trái phép
dưới 5.000.000 đồng

Kính gửi: - Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp;
- Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Ngày 27-11-2015, Quốc hội khóa XIII thông qua Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 109/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật hình sự; trong đó Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”. Như vậy, để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong công tác xét xử tội phạm này theo đúng nguyên tắc áp dụng pháp luật hình sự và tinh thần Nghị quyết số 109/2015/QH13; sau khi xin ý kiến các thành viên Hội đồng Thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu các đồng chí Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao trong quá trình giải quyết các vụ án đánh bạc cần lưu ý:

1. Kể từ ngày 09-12-2015 (ngày công bố Bộ luật hình sự năm 2015) đến hết ngày 30-6-2016, đối với người thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá dưới 5.000.000 đồng, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi tổ chức đánh bạc hoặc chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc nhưng đã được xóa án tích, nếu vụ án đang trong giai đoạn xét xử thì Tòa án phải mở phiên tòa và căn cứ vào Điều 25 Bộ luật hình sự năm 1999 miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

2. Kể từ ngày 01-7-2016, nếu hành vi đánh bạc trái phép dưới 5.000.000 đồng, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi tổ chức đánh bạc hoặc chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc nhưng đã được xóa án tích mới bị phát hiện, Điều tra, truy tố, xét xử thì áp dụng quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 để tuyên bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án.

3. Đồng thời với việc miễn trách nhiệm hình sự, đình chỉ vụ án, Tòa án phải ghi rõ trong quyết định hoặc trong bản án lý do của việc miễn trách nhiệm hình sự, đình chỉ vụ án là do chính sách hình sự mới nhân đạo của Nhà nước, chứ không phải oan sai do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; do đó, người được miễn trách nhiệm hình sự, đình chỉ vụ án không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Đối với các vấn đề khác như trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng... (kể cả việc xử lý hành chính, xử lý kỷ luật) hoặc xét xử về các tội phạm khác, các bị cáo khác trong vụ án (nếu có) thì vẫn được giải quyết theo thủ tục chung. Trường hợp xét thấy hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính thì cùng với việc đình chỉ vụ án, Tòa án phải chuyển quyết định đình chỉ vụ án kèm theo hồ sơ vụ án, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử lý vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền.

Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu các đồng chí Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao ngay sau khi nhận được Công văn này cần triển khai thực hiện nghiêm túc trong cơ quan, đơn vị mình để bảo đảm áp dụng đúng và thống nhất quy định của Bộ luật hình sự.

Nơi nhận: KT. CHÁNH ÁN
- Như kính gửi; PHÓ CHÁNH ÁN
- Đ/c Chánh án (để báo cáo);
- Lưu: VT (VP, Vụ PC & QLKH).

Nguyễn Sơn

02/04/2016

Tổng hợp một số điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự 2014
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự được Quốc hội Khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 25-11-2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-2015. Luật sửa đổi, bổ sung 47 Điều; bãi bỏ Điều 32, 33, 34, 51, 138. 139, điểm b Khoản 1 Điều 163, các khoản 3 và 4 Điều 179 của Luật thi hành án dân sự năm 2008. Theo đó, có một số nội dung sửa đổi, bổ sung nổi bật như sau:
1. Về quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án
Luật đã mở rộng, tạo điều kiện cho người được thi hành án không chỉ có quyền yêu cầu thi hành án, đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án, mà còn:
- Có quyền được thông báo về thi hành án;
- Yêu cầu Tòa án giải thích những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định của mình. Quy định này, cùng với quy định về quyền được ủy quyền cho người khác xác minh, cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án;
- Quyền chuyển giao quyền được thi hành án cho người khác và các quyền khác đã tạo điều kiện thiết thực cho đương sự có thêm cơ hội lựa chọn phương thức phù hợp để thi hành án, phù hợp với chủ trương xã hội hóa hoạt động thi hành án dân sự.
Ngoài ra, một quyền rất mới mà Luật đã bổ sung cho đương sự, đó là:
Quyền được yêu cầu thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ. Quy định này phù hợp với quy định hiện hành về thay đổi người tiến hành tố tụng trong các thủ tục tố tụng, đảm bảo sự khách quan trong tổ chức thi hành án dân sự, tạo niềm tin cho nhân dân đối với hoạt động thi hành án dân sự.
Đặc biệt, Luật đã bổ sung người được thi hành án có quyền:
- Không phải chịu chi phí xác minh điều kiện thi hành án do Chấp hành viên thực hiện;
- Được miễn, giảm phí thi hành án trong trường hợp cung cấp thông tin chính xác về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án và trong một số trường hợp khác.
Quy định này được coi là một điểm mới rất tiến bộ, bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích của người được thi hành án, giảm gánh nặng cho người được thi hành án, nhất là đối với những người được thi hành án già cả, neo đơn, ốm đau, nghèo, ở vùng sâu, vùng xa, ở địa phương khác với người phải thi hành án, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người được thi hành án trong việc thực hiện quyền yêu cầu thi hành án đã được pháp luật công nhận.
2. Về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án
Ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn quy định trong Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung quy định về:
- Trách nhiệm báo cáo của cơ quan thi hành án dân sự đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân tại Điều 14, 15 và 16 của Luật. Tuy nhiên, việc báo cáo này chỉ được thực hiện khi có yêu cầu.
Quy định này nhằm đề cao trách nhiệm của Tòa án xuyên suốt trước, trong và sau khi xét xử, tạo điều kiện thuận lợi trong việc nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong việc giải thích, đính chính, trả lời kiến nghị đối với bản án của mình trong quá trình tổ chức thi hành án; theo dõi kết quả thi hành án; từ đó, tăng thêm niềm tin của xã hội vào hoạt động thi hành án dân sự; góp phần làm giảm thiểu khiếu nại đối với việc thi hành án dân sự liên quan đến bản án.
3. Về việc bổ nhiệm chức danh Chấp hành viên (Điều 18)
Điểm mới cơ bản trong quy định về bổ nhiệm chức danh Chấp hành viên là Luật đã bổ sung đối tượng được bổ nhiệm không qua thi tuyển. Theo đó, để tạo được sự an tâm công tác, tạo động lực phấn đấu, rèn luyện cho người đã là Chấp hành viên nhưng do yêu cầu tổ chức được bố trí sang làm nhiệm vụ khác thì có thể được chuyển sang ngạch Chấp hành viên ở ngạch tương đương không qua thi tuyển (Khoản 5 Điều 18).
Ngoài ra, để đáp ứng yêu cầu về công tác cán bộ, trong trường hợp đặc biệt, nhằm đáp ứng yêu cầu đặc biệt cấp bách phải bổ nhiệm ngay Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Luật sửa đổi đã quy định rõ:
- Ngoài việc đáp ứng tiêu chuẩn chung quy định tại Khoản 1 Điều 18, để được bổ nhiệm Chấp hành viên sơ cấp, cần phải có thời gian làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên;
- Bổ nhiệm làm Chấp hành viên trung cấp phải có 10 năm làm công tác pháp luật trở lên và 15 năm làm công tác pháp luật trở lên có thể được bổ nhiệm Chấp hành viên cao cấp không qua thi tuyển.
4. Về xác minh điều kiện thi hành án (Điều 44, 44ª và 45)
Luật đã bỏ nghĩa vụ của người được thi hành án trong việc phải xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, chuyển hóa thành quyền:
- Tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án;
- Bỏ nghĩa vụ phải nộp chi phí xác minh.
Như vậy, việc xác minh điều kiện thi hành án theo Luật sửa đổi là thuộc về trách nhiệm của Chấp hành viên, chi phí xác minh do Ngân sách Nhà nước chịu.
- Trường hợp kết quả xác minh của Chấp hành viên và người được thi hành án khác nhau hoặc có kháng nghị của Viện kiểm sát thì phải xác minh lại. Việc xác minh lại được tiến hành trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh do đương sự cung cấp hoặc nhận được kháng nghị của Viện kiểm sát.
Bên cạnh đó, để khắc phục tình trạng lỏng lẻo của công tác xác minh hiện nay, đảm bảo hiệu quả công tác phối hợp trong thi hành án dân sự, Luật đã bổ sung quy định:
- Yêu cầu Chấp hành viên phải xuất trình thẻ Chấp hành viên;
- Chấp hành viên được quyền yêu cầu cơ quan chuyên môn hoặc mời, thuê chuyên gia để làm rõ các nội dung cần xác minh trong trường hợp cần thiết; được trực tiếp xem xét tài sản, sổ sách quản lý vốn, tài sản, xác minh tại cơ quan, tổ chức khác có liên quan đang quản lý, bảo quản, lưu giữ thông tin về tài sản, tài khoản của người phải thi hành án.
- Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xác minh điều kiện thi hành án phải thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên và phải chịu trách nhiệm về các nội dung thông tin đã cung cấp. Trường hợp từ chối cung cấp thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
Ngoài ra, nhằm khắc phục các bất cập của Luật thi hành án dân sự 2008 và thực tiễn thực hiện Luật, tại Điều 44a, Luật đã làm rõ hơn:
Thế nào là "chưa có điều kiện thi hành án" và việc công khai thông tin của người phải thi hành án trong một số trường hợp. Theo đó, việc chưa có điều kiện thi hành án thuộc 1 trong 3 trường hợp sau:
(1) Khi người phải thi hành án không có thu nhập hoặc mức thu nhập thấp, chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án.
(2) Người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được mà đương sự không có thỏa thuận khác và
(3) Chưa xác minh được địa chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành án, người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng.
Thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa vụ phải thi hành của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành được đăng tải trên trang thông tin điện tử về thi hành án dân sự và gửi cho UBND cấp xã nơi xác minh để niêm yết. Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án phải tổ chức thi hành.
5. Về biện pháp bảo đảm thi hành án (Điều 67, Điều 68 và Điều 69)
Luật đã bổ sung vào Khoản 2 Điều 67 nội dung quy định về:
- Giới hạn của số tiền, tài sản bị phong tỏa nhằm tránh tình trạng tùy tiện phong toả toàn bộ tài khoản, tài sản làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, giao dịch bình thường của chủ tài khoản, tài sản.
Mặt khác, trong điều kiện phát triển của công nghệ thông tin, việc tẩu tán tiền trong tài khoản có thể thực hiện trong thời gian rất ngắn, trong khi thủ tục để ban hành quyết định phong tỏa đòi hỏi phải có thời gian dài hơn, nên tại khoản 2 Điều này, Dự án Luật đã bổ sung quy định theo hướng:
- Trường hợp cần phong tỏa ngay tài khoản, tài sản của người phải thi hành án ở nơi gửi giữ mà chưa ban hành quyết định phong tỏa tài khoản, phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ thì Chấp hành viên lập biên bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải thi hành án phong tỏa tài khoản, tài sản đó; trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ban hành quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản đó.
Quy định này nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người được thi hành án, hạn chế tình trạng tẩu tán tài sản, nâng cao trách nhiệm của tổ chức đang nắm giữ tài sản của người phải thi hành án.
Đồng thời, tại Điều 68 đã bổ sung việc:
- Chấp hành viên tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự phải ban hành Quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ và xác định rõ loại tài sản, giấy tờ bị tạm giữ trong Quyết định này.
Quy định này nhằm khắc phục tình trạng thiếu rõ ràng, không thống nhất của Luật thi hành án dân sự 2008 vì không quy định Chấp hành viên phải ban hành quyết định mà chỉ yêu cầu lập biên bản tạm giữ tài sản, giấy tờ. Việc khẳng định hình thức áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án trong trường hợp này tạo điều kiện pháp lý vững chắc hơn cho Chấp hành viên thực hiện nhiệm vụ.
Đối với việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản, Luật đã bổ sung quy định:
- Ngay tại thời điểm tạm giữ tài sản, Chấp hành viên phải yêu cầu đương sự, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp các giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh quyền sở hữu, sử dụng và thông báo cho đương sự và tổ chức, cá nhân có liên quan về quyền khởi kiện yêu cầu xác định quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản.
Quy định này nhằm giúp Chấp hành viên sớm xác định có hay không có tranh chấp đối với tài sản. Đồng thời, để thúc đẩy nhanh tiến trình tổ chức thi hành án, Luật quy định, trường hợp cần thiết, Chấp hành viên phải xác minh, làm rõ hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xác định quyền sở hữu, sử dụng tài sản để thi hành án, giải quyết tranh chấp tài sản và yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch có liên quan đến tài sản theo quy định.
- Khi có căn cứ xác định tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án, thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có căn cứ xác định, Chấp hành viên phải ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định tại Chương IV của Luật này để buộc người phải thi hành án chấp hành bản án, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án. Đồng thời, nếu như có căn cứ xác định tài sản tạm giữ không thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án thì phải ra quyết định chấm dứt việc tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng...

Address

80/10 Đường Hoàng Xuân Nhị, Phường Phú Trung, Quận Tân Phú
Ho Chi Minh City
70000

Opening Hours

Monday 08:00 - 17:00
Tuesday 08:00 - 17:00
Wednesday 08:00 - 17:00
Thursday 08:00 - 17:00
Friday 08:00 - 17:00
Saturday 08:00 - 17:00

Telephone

+84909368533

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật Việt posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Luật Việt:

Share