Luật sư Nguyễn Bảo Toàn - Đoàn Luật sư Tp. Hồ Chí Minh

Luật sư Nguyễn Bảo Toàn - Đoàn Luật sư Tp. Hồ Chí Minh Luật sư Nguyễn Bảo Toàn

22/12/2025

Cán bộ, công chức né tránh, đùn đẩy trách nhiệm công việc: Bị phạt thế nào?
+ Căn cứ khoản 6 Điều 1 Nghị định 71/2023/NĐ-CP, trường hợp cán bộ, công chức né tránh, đùn đẩy, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ chức trách, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao mà không có lý do chính đáng; không chấp hành quyết định điều động, phân công công tác của cấp có thẩm quyền; gây mất đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị sẽ bị áp dụng hình thức kỷ luật khiển trách.
+ Ngoài ra, theo Điều 8 Nghị định 112/2020/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 71/2023/NĐ-CP), hình thức kỷ luật khiển trách áp dụng đối với cán bộ, công chức có hành vi vi phạm lần đầu, gây hậu quả ít nghiêm trọng, trừ các hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 9 Nghị định 112/2020/NĐ-CP, thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Vi phạm quy định về đạo đức, văn hóa giao tiếp của cán bộ, công chức; quy định của pháp luật về thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, công chức; kỷ luật lao động; nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

- Lợi dụng vị trí công tác nhằm mục đích vụ lợi; có thái độ hách dịch, cửa quyền hoặc gây khó khăn, phiền hà đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong thi hành công vụ; xác nhận hoặc cấp giấy tờ pháp lý cho người không đủ điều kiện.

- Vi phạm quy định của pháp luật về: phòng, chống tội phạm; phòng, chống tệ nạn xã hội; trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

- Vi phạm quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

- Vi phạm quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

- Vi phạm quy định về quy chế tập trung dân chủ, quy định về tuyên truyền, phát ngôn, quy định về bảo vệ chính trị nội bộ.

- Vi phạm quy định của pháp luật về: đầu tư, xây dựng; đất đai, tài nguyên môi trường; tài chính, kế toán, ngân hàng; quản lý, sử dụng tài sản công trong quá trình thực thi công vụ.

- Vi phạm quy định của pháp luật về: phòng, chống bạo lực gia đình; dân số, hôn nhân và gia đình; bình đẳng giới; an sinh xã hội; quy định khác của Đảng và của pháp luật liên quan đến cán bộ, công chức.

28/11/2025

HIỂU VÀ PHÂN BIỆT QUY ĐỊNH VỀ LÃI SUẤT CHO VAY GIỮA HỢP ĐỒNG VAY DÂN SỰ THÔNG THƯỜNG VÀ HỢP ĐỒNG VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG (NGÂN HÀNG): PHÂN TÍCH VÀ LUẬN GIẢI!

Hợp đồng vay tài sản của Tổ chức tín dụng là giao dịch cho vay tài sản được giao kết giữa Tổ chức tín dụng (Bao gồm: Ngân hàng, Công ty tài chính, Công ty cho thuê tài chính, Tổ chức tài chính vi mô, Quỹ tín dụng nhân dân) với khách hàng là các Cá nhân, tổ chức khác (Được gọi là Hợp đồng tín dụng Hoặc Hợp đồng vay thương mại). Ví dụ: Ngân hàng A ký hợp đồng cho Bà B vay 1 tỷ đồng, giao dịch cho vay này được gọi là Hợp đồng tín dụng, vì Bên cho vay là Ngân hàng - Một Tổ chức tín dụng.

Còn Hợp đồng cho vay tài sản không phải là Hợp đồng tín dụng, là giao dịch cho vay tài sản được giao kết giữa các Cá nhân, Tổ chức với nhau mà không có sự tham gia của một trong các tổ chức tín dụng như đã liệt kê ở trên (Được gọi là Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng Hoặc Hợp đồng vay dân sự thông thường). Ví dụ: Ông C ký hợp đồng, cho Bà D vay 2 tỷ đồng, giao dịch cho vay này được gọi là Hợp đồng vay dân sự thông thường (Không phải là hợp đồng tín dụng), vì không có sự tham gia của Tổ chức tín dụng trong giao dịch này.

Về bản chất, cả 2 loại giao dịch vừa nêu, giống nhau ở chổ đều là Hợp đồng cho vay tài sản - Nhưng do Hợp đồng tín dụng, có sự tham gia của Tổ chức tín dụng, điển hình là Ngân hàng, là những tổ chức cho vay chuyên nghiệp, hay còn gọi là kinh doanh tiền tệ, nên pháp luật có những quy định khác nhau về Lãi suất cho vay giữa 2 loại giao dịch này. Phân tiếp sau đây, Tác giả sẽ phân tích và luận giải các quy định chi tiết, để Bà con tham khảo và vận dụng khi cần thiết.

I. LÃI SUẤT ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG VAY DÂN SỰ

Như trên đã nêu, Hợp đồng vay dân sự thông thường (Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng) là giao dịch cho vay tài sản được giao kết giữa các Cá nhân, Tổ chức với nhau mà không có sự tham gia của một trong các Tổ chức tín dụng. Đây là Hợp đồng dân sự thông thường, nên chịu sự điều chỉnh của Luật dân sự. Theo quy định của Bộ luật dân sự hiện hành (2015), thì Hợp đồng vay tài sản giữa Bà con ta với nhau, có các loại lãi suất và mức lãi suất như sau:

1. Lãi suất trong hạn:

Lãi suất trong hạn, hay còn gọi là lãi trên nợ gốc. Ví dụ: Ông G cho Bà H vay 100 triệu, thời hạn vay là 12 tháng (Từ 01/01/2020 đến 31/12/2020), lãi suất 1%/tháng (Mỗi tháng trả lãi 1 triệu đồng). Thì lãi suất 1%/tháng này, gọi là mức lãi suất trong hạn vay.

Lãi suất trong hạn tối đa - Bộ luật Dân sự 2015, quy định các bên có quyền thỏa thuận về mức lãi suất trong hạn, nhưng không được quá 20%/năm, nghĩa rằng không quá 1,7% tháng (Làm tròn) - Theo đó, nếu các bên thỏa thuận mức lãi suất vượt quá mức vừa nêu, thì mức vượt quá đó không có hiệu lực pháp lý! . Ví dụ: Ông G cho Bà H vay 200 triệu, thì lãi suất 1 năm không được quá 40 triệu, tức không quá 3,4 triệu/tháng. Nếu các bên thỏa thuận lãi suất là 5 triệu/tháng, thì 1,6 triệu vượt quá đó không có giá trị, tức Bên vay không có nghĩa vụ phải trả lãi cho phần cao hơn mức Luật đã định.

Kết luận 1: Khi bắt đầu thỏa thuận vay, thì chỉ phát sinh lãi suất vay trong hạn (Trừ vay không tính lãi - Chúng ta không bàn đến trong bài viết này); Mức lãi cao nhất là 20%/năm, tức 1,7% trên tháng. Và nếu Bà con trả đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn, thì không bao giờ phải đóng thêm loại lãi nào - Bà con nhớ kỹ điều này!

2. Lãi suất quá hạn:

Lãi quá hạn, hay còn gọi là lãi do chậm trả nợ gốc. Như vậy, khoản lãi này, chỉ phát sinh khi Người vay, chậm trả nợ gốc. Và chỉ tính trên số nợ gốc còn chưa trả. Ví dụ: Bà N cho Bà M vay 100 triệu, thời hạn vay là 12 tháng (Từ 01/01/2021 đến 31/12/2021), lãi suất 1%/tháng (Mỗi tháng trả lãi 1 triệu đồng). Nhưng đến ngày 31/12/2021, M đã không trả được nợ gốc cho N, thì từ 01/01/2022, M phải trả thêm khoản nợ lãi quá hạn, do chậm trả nợ gốc.

Mức lãi quá hạn, được khống chế là không quá 150% mức lãi suất trong hạn. Nghĩa rằng: Mức lãi suất quá hạn không quá 30%/năm, vì ở mục trên, Chúng ta đã viện dẫn Luật khống chế lãi suất trong hạn tối đa là 20%. Ví dụ: Bà V cho Ông X vay 100 triệu, thời hạn vay là 12 tháng (Từ 01/01/2020 đến 31/12/2020), lãi suất 1%/tháng (Mỗi tháng trả lãi 1 triệu đồng). Nhưng đến ngày 31/12/2020, X chỉ trả cho V được 50 triệu nợ gốc. Cho nên từ 01/01/2021, X phải trả thêm khoản nợ lãi quá hạn, do chậm trả nợ gốc: Cụ thể là 1,5%/tháng đối với số tiền 50 triệu chưa trả. Tất nhiên, là cùng với khoản lãi trong hạn 1%/tháng đối với số tiền 50 triệu chưa trả nữa. Hiểu nôm na, là từ ngày 01/01/2021, X chỉ phải trả tổng cả 02 loại lãi trong hạn và quá hạn, với mức tổng lãi suất là 2,5% tháng đối với số tiền 50 triệu chưa trả.

Kết luận 2: Khoản lãi quá hạn, hay còn gọi là lãi phạt do chậm trả nợ gốc, chỉ phát sinh khi Người vay chậm trả nợ gốc đã đến hạn mà chưa trả, và chỉ tính trên khoản nợ gốc còn lại chưa trả được. Mức lãi cao nhất là 30%/năm, tức 2,5%/tháng cho số nợ gốc chậm trả.

3. Lãi phạt chậm trả lãi

Lãi phạt chậm trả lãi, là khoản tiền lãi phát sinh, do bên vay không trả lãi, khi đến hạn trả lãi, với mức lãi không quá 10%/năm, tức xấp xỉ 0,9%/tháng đối với khoản lãi chưa trả, lưu ý là đối với khoản lãi chưa trả, chứ không phải % tính trên nợ gốc. Ví dụ: A cho B vay 100 triệu, thời hạn vay là 12 tháng (Từ 01/01/2019 đến 31/12/2019), lãi suất 1%/tháng (Mỗi tháng trả lãi 1 triệu đồng). Ngay trong tráng đầu tiên, B đã không trả lãi đúng hạn vào ngày 31/01/2019. Do đó, từ 01/02/2019, B phải trả thêm khoản lãi phạt 9.000 (Chín nghìn đồng) cho khoản lãi (1 triệu) chậm trả này.

Kết luận 03: Khoản lãi phạt do chậm trả lãi, chỉ phát sinh khi đến kì hạn trả lãi, mà Bên vay không trả lãi, với mức lãi không quá 0,9%/tháng cho số tiền lãi chưa trả.

II. LÃI SUẤT ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Với nội dung vừa trình bày nêu trên, Bà con ta thấy rằng: Hợp đồng vay dân sự thông thường, bị Luật dân sự không chế về mức lãi suất tối đa. Tuy nhiên, đối với Hợp đồng vay tín dụng, có Bên cho vay là Tổ chức tín dụng, thì lãi suất cho vay được quy định, điều chỉnh bởi Luật các tổ chức tín dụng, và các văn bản hướng dẫn thi hành, mà không chịu sự điều chỉnh về lãi suất trong Bộ luật dân sự.

Trên cơ sở đó Luật các Tổ chức tín dụng cho phép Tổ chức tín dụng và khách hàng được thỏa thuận về lãi suất theo quy định của pháp luật (Điều 91.2), quy định lấp lửng này đã từng gây ra tranh cãi, vì sự không rõ ràng. Sự tranh cãi chỉ bớt sôi nổi, khi Ngân hàng nhà nước Việt Nam ban hành thông tư 39/2016, với quy định: Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quy định về lãi suất cho vay tối đa trong một số trường hợp đặc biệt.

Và sự tranh cãi hoàn toàn chấm dứt, khi Hội đồng thẩm phán Tòa tối cao, ban hành Nghị quyết số 01/2019, khẳng định chắc nịch rằng: Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà KHÔNG áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định lãi, lãi suất.

Hiểu nôm na, đối với hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, thì không bị khống chế về mức lãi suất cho vay theo quy định của Bộ luật dân sự đã nêu trên. Nghĩa rằng, Ngân hàng tự đề xuất về mức lãi suất cho vay, dựa trên sự cạnh tranh của thị trường, nếu cho vay lãi quá cao, thì Người ta sẽ đi vay của Ngân hàng khác (Đại loại vậy). Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu khoa học, việc để cho Tổ chức tín dụng/Ngân hàng tự do trong việc quy định về lãi suất, mà không bị khống chế bởi bất kỳ hạn mức tối đa nào, cũng có một số điểm bất cập, đáng để bàn luận thêm. Bởi thực tế, đã từng xảy ra việc có Tổ chức tài chính, cho Bà con vay online, với cách tính lãi trên trời, để lại một số hệ lụy không nhỏ...... Hi vọng, qua Bài viết này, Bà con ta đã có được sự phân biệt về lãi suất của các loại giao dịch vay tài sản dân sự thông thường, với vay của Tổ chức tín dụng!

07/10/2025

Chào Luật Sư .
Tháng 6 vừa qua em có thuê nhà của một bạn . Nhưng bạn đó lại thuê lại nhà của chủ nhà . Nhưng trong hợp đồng của chủ nhà và bạn cho em thuê lại đó có mục không được cho bên thứ 3 thuê lại . Vì không biết nên em đã thuê lại của bạn ấy . Giờ đây vì lý do vi phạm làm sai với hợp đồng ký kết ban đầu với chủ nhà nên đã bị chủ nhà đơn phương chấm dứt hợp đồng . Nhưng còn phần em bạn ý khi cho thuê thì nói là nhà của chú mình và bạn ấy cũng đơn phương chấm dứt hợp đồng với em dù em không có sai phạm gì vậy thì bạn ấy có bị chịu trách nhiệm như đã thoả thuận trong hợp đồng đã ký kết không ạ . Luật Sư cho em hỏi thêm là tội thứ nhất bạn ấy không được phép cho bên thứ 3 thuê lại cũng như không được phép cho em thuê lại thì bạn ấy có phải đang lừa đảo với mục đích kiếm lợi riêng cho bản thân , tội thứ 2 là đơn phương chấm dứt hợp đồng làm sai với hợp đồng ban đầu không ạ . Bạn ấy cũng thách thức rằng dân sự sẽ không giải quyết những vấn đề cho thuê này nên cũng sẽ không làm gì được bạn ấy .
Mong luật sư giải đáp giúp em ạ . Em xin chân thành cảm ơn !

Bên thuê nhà chỉ được phép cho thuê lại nhà ở khi được bên cho thuê đồng ý. Trường hợp này, bên thuê nhà không được bên cho thuê đồng ý nhưng vẫn cho bạn thuê lại thì bên cho bạn thuê nhà đang vi phạm quy định pháp luật và vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng thuê với chủ nhà.

Tuy nhiên, xét bản chất quan hệ giữa bạn và bên cho thuê nhà thì đây là quan hệ dân sự, mặc dù bên cho thuê đang sai phạm khi cho bạn thuê lại nhà nhưng thực tế việc cho thuê là có thật, bạn vẫn được thuê nhà cho đến thời điểm bên cho thuê chấm dứt hợp đồng nên chưa đủ cơ sở để xác định yếu tố lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Ở đây, bên cho thuê đang vi phạm thỏa thuận, vi phạm nghĩa vụ đảm bảo quyền thuê nhà của bạn, đây là quan hệ dân sự. Do đó, việc bên cho thuê vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng, đơn phương chấm dứt trái quy định pháp luật thì bạn có quyền khởi kiện bên cho thuê ra Tòa án để yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với những thiệt hại thực tế phát sinh do hành vi trái pháp luật của bên cho thuê gây ra.

12/09/2025

Thời hiệu xử phạt vi phạm đất đai
Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 123/2024/NĐ-CP quy định, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là 02 năm.

Thời điểm để bắt đầu tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:

- Đối với hành vi đã kết thúc: Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt là thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.

- Đối với hành vi đang thực hiện: Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt là thời điểm người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm được xác định như sau:

- Đối với các hành vi quy định tại các Điều 17, 18, 19, 20, 21, 22 và 23 Nghị định 123/2024/NĐ-CP:

Thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm là thời điểm mà các bên liên quan đã hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc văn bản giao dịch đã ký kết.

- Đối với các hành vi quy định tại các Điều 14, 24, 26 và 27 Nghị định 123/2024/NĐ-CP:

Thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm là thời điểm đã thực hiện xong các hoạt động của hành vi vi phạm đó.

- Đối với các hành vi quy định tại Điều 28 Nghị định 123/2024/NĐ-CP:

Thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm là thời điểm đã thực hiện xong việc cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu không chính xác hoặc hết thời hạn theo yêu cầu của cơ quan thanh tra, kiểm tra mà không cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu cho tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật.

LỊCH NGHỈ TẾT ÂM LỊCH 2026 (Tết Bính Ngọ) của học sinh các tỉnh thành phố
25/08/2025

LỊCH NGHỈ TẾT ÂM LỊCH 2026 (Tết Bính Ngọ) của học sinh các tỉnh thành phố

15/08/2025

Đất dôi dư do san lấp ao có được cấp Giấy chứng nhận?
Điều 135. Nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất

6. Trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy tờ quy định tại Điều 137 của Luật này hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề thì khi cấp hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế.

Trường hợp đo đạc lại mà ranh giới thửa đất có thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp và diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp thì phần diện tích chênh lệch nhiều hơn được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất."

Theo đó, tuỳ trường hợp mà có cách xử lý khác nhau. Nếu thuộc đoạn thứ nhất ở trên thì khi cấp hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế. Còn nếu thuộc Đoạn thứ hai thì cần xem xét xem có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận hay không?

Xử lý việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất có diện tích tăng thêm do thay đổi ranh giới so với giấy tờ về quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận đã cấp được hướng dẫn thêm tại Điều 24 Nghị định 101/2024/NĐ-CP.

Văn phòng Luật sư Xuân & Đồng Sự – Nơi gửi trọn niềm tin pháp lý.Với nhiều năm kinh nghiệm và đội ngũ luật sư tận tâm, c...
12/08/2025

Văn phòng Luật sư Xuân & Đồng Sự – Nơi gửi trọn niềm tin pháp lý.
Với nhiều năm kinh nghiệm và đội ngũ luật sư tận tâm, chúng tôi chuyên:

* Giải quyết ly hôn nhanh chóng, giành quyền nuôi con, tranh chấp tài sản trong thời kỳ hôn nhân - bảo vệ quyền lợi tối đa.

* Tranh chấp đất đai, thừa kế, di chúc – xử lý dứt điểm, đúng pháp luật.

* Tư vấn & hỗ trợ công chứng hồ sơ khó, trùng bảo hiểm xã hội.

📞 Liên hệ ngay để được tư vấn miễn phí ban đầu – Giải pháp pháp lý với chi phí tối ưu, bảo mật tuyệt đối.
+ĐT/ZALO: 0359.404.383
+Trụ sở: 16 ĐHT32, phường Tân Hưng Thuận, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

12/08/2025

TÌNH HUỐNG GIẢI QUYẾT LY HÔN – KHÁCH HÀNG ĐƯỢC BẢO VỆ QUYỀN NUÔI CON
🔷 "Em không cần gì cả, chỉ xin được nuôi con..."
Đó là lời chia sẻ đầu tiên của chị T., 30 tuổi, khi tìm đến Văn phòng Luật sư Xuân và Đồng sự.
Sau nhiều năm chung sống, chị T. quyết định ly hôn vì chồng thường xuyên bỏ bê gia đình và có dấu hiệu bạo lực tinh thần. Tuy nhiên, người chồng lại không đồng ý ly hôn và khăng khăng muốn giành quyền nuôi con gái 6 tuổi với lý do có điều kiện kinh tế tốt hơn.
👉 Vấn đề pháp lý đặt ra:
Ly hôn đơn phương có được chấp nhận?
Ai có nhiều khả năng giành quyền nuôi con khi đứa trẻ dưới 7 tuổi?
Người mẹ nội trợ có bất lợi về mặt tài chính hay không?
🔍 Giải pháp của Văn phòng Luật sư Xuân và Đồng sự:
Chúng tôi thu thập chứng cứ về việc chồng thiếu quan tâm đến con, thường xuyên đi sớm về khuya, giao toàn bộ việc chăm sóc cho chị T.
Lập hồ sơ ly hôn đơn phương, nêu rõ hoàn cảnh sống, nhân thân, điều kiện nuôi dưỡng của người mẹ.
Đề nghị Tòa xem xét yếu tố tình cảm gắn bó giữa mẹ và con, cũng như sự ổn định trong môi trường sống.
✅ Kết quả:
Tòa án chấp nhận cho ly hôn đơn phương, công nhận chị T. được nuôi con.
Chồng có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho con đến khi trưởng thành.
👩‍⚖️ Văn phòng Luật sư Xuân và Đồng sự – Không chỉ là luật sư, mà còn là người đồng hành tin cậy.
📩 Hãy liên hệ ngay nếu bạn cũng đang gặp vướng mắc pháp lý trong hôn nhân – chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe.
📞 THÔNG TIN LIÊN HỆ
📍 Trụ sở: 16 ĐHT 32, phường Tân Hưng Thuận, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
📲 Hotline: 0359.404.383

12/08/2025

📌 TRƯỜNG HỢP NÀO CẦN NỘP TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỂ ĐƯỢC CẤP SỔ ĐỎ?
👉 Luật Đất đai 2024 và các nghị định hướng dẫn thi hành có hiệu lực pháp luật đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi muốn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ).
⛔️ Thế nhưng, thuận lợi ấy có thể nhanh chóng biến thành rào cản nếu bạn bất ngờ nhận được thông báo nộp một khoản tiền sử dụng đất khổng lồ. Việc không nắm rõ quy định của Luật Đất đai 2024 có thể khiến bạn:
❗ Chậm trễ thủ tục
❗ Ảnh hưởng kế hoạch tài chính của gia đình
❗ Hoặc phải nộp thêm nhiều khoản không đáng có
💡 Để biết thửa đất của bạn có phải đóng tiền sử dụng đất không? Phải đóng bao nhiêu? Bạn cần phải kiểm tra và đối chiếu các quy định một cách cẩn thận trong từng trường hợp cụ thể.
✅ Đừng tự mình phỏng đoán! Hãy để đội ngũ luật sư tại Văn phòng Luật sư Xuân và Đồng sự lắng nghe câu chuyện của bạn và đưa ra giải pháp pháp lý cho từng trường hợp.
💬 Bạn có đang gặp vướng mắc khi làm Sổ đỏ?
📥 Hãy để lại câu hỏi ở phần bình luận bên dưới, luật sư của chúng tôi sẽ hỗ trợ bạn giải đáp!
___
Văn phòng Luật sư Xuân và Đồng sự
ĐT/ZAlO: 0359.404.383

11/06/2025

DỊCH VỤ TƯ VẤN LY HÔN - LY HÔN NHANH, TRANH CHẤP THỪA KẾ TẠI TP.HCM và BÌNH DƯƠNG
Ly hôn là quyết định khó khăn, tranh chấp thừa kế làm bạn đau đầu, nhưng đừng để thủ tục pháp lý làm bạn thêm mệt mỏi. Chúng tôi cam kết đồng hành cùng bạn, giúp bạn giải quyết mọi vấn đề pháp lý một cách nhanh chóng, công bằng và hiệu quả.
Chúng tôi chuyên tư vấn và đại diện pháp lý trong các vụ ly hôn, bảo vệ quyền lợi của bạn về tài sản, nuôi con, tranh chấp thừa kế và các vấn đề khác. Hãy để chúng tôi giúp bạn vượt qua giai đoạn khó khăn này.
Liên hệ ngay để được hỗ trợ:
📧 Email: [email protected]
📞 Số điện thoại: 0359.404.383
Chúng tôi luôn ở đây, sẵn sàng giúp bạn!

11/06/2025

Cha sinh mẹ dưỡng là gì? Cha mẹ sinh con ra có nghĩa vụ nuôi dưỡng con cái?
Cha sinh mẹ dưỡng là gì?
Cha sinh mẹ dưỡng nghĩa là gì thì sinh ở đây có thể hiểu là đẻ ra (thường chỉ nói về người), dưỡng có thể hiểu là ăn uống, nghỉ ngơi để tăng hoặc khôi phục sức khoẻ (nói khái quát).

Theo đó, "Cha sinh mẹ dưỡng" là một câu thành ngữ, có nghĩa là "cha mẹ sinh ra và nuôi nấng", câu thành ngữ này thể hiện lòng biết ơn và tôn trọng đối với công ơn của cha mẹ trong việc sinh thành và nuôi dưỡng con cái và thường được dùng để nhắc nhở về vai trò quan trọng của cha mẹ trong cuộc đời mỗi người.

Thông thường, cha mẹ sinh con ra sẽ nuôi nấng con đến khi lớn lên và trưởng thành, cha mẹ là người chứng kiến con lớn lên từng ngày, cha mẹ chịu nhiều khó khăn, cực khổ để lo cho con ăn học thành tài.

Do đó, mục đích của câu thành ngữ "Cha sinh mẹ dưỡng" không chỉ thể hiện lòng biết ơn và tôn trọng của con cái đối với cha mẹ mà còn dùng để nhắc nhở con phải hiếu thảo và phụng dưỡng cha mẹ về già hoặc khi cha mẹ ốm đau bệnh tật cũng giống như cha mẹ đã từng nuôi dưỡng con.
Cha mẹ sinh con ra có nghĩa vụ nuôi dưỡng con cái?
Cha mẹ sinh con ra có nghĩa vụ nuôi dưỡng con cái hay không thì căn cứ quy định tại Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ như sau:

Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ
1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.
2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình...
Đối chiếu theo quy định trên, cha mẹ sinh con ra có nghĩa vụ phải nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Bên cạnh đó, không chỉ có nghĩa vụ phải nuôi dưỡng con cái mà cha mẹ còn có nghĩa vụ phải thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội;

Đồng thời, cha mẹ sinh con ra phải là người Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

Và cha mẹ không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Con có nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ hay không?
Quyền và nghĩa vụ của con được quy định tại Điều 70 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

Quyền và nghĩa vụ của con
1. Được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức.
2. Có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình...
Và căn cứ quy định tại Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng
1. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
2. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.
Theo đó, con có nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

Như vậy, con cái phải luôn nhớ rằng "công ơn sinh thành" của cha mẹ là vô bờ bến, cha mẹ sinh con ra đã phải chịu nhiều khó khăn gian khổ để nuôi con lớn từng ngày, do đó, con cái phải luôn ghi nhớ 1 điều rằng "cha mẹ sinh dưỡng" để luôn là người con tốt, hiếu thảo, là người con đáng tự hào của cha mẹ.

10/06/2025

Làm sao để xử lý việc bán phá giá trên sàn thương mại điện tử?
Trên phương diện pháp luật thì hành vi bán phá giá sản phẩm có thể được xác định là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, và bị xử phạt hành chính, nếu rơi vào trường hợp theo quy định tại Điều 45.6 của Luật Cạnh tranh 2018: "Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến loại bỏ doanh nghiệp khác cùng kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó".

Hiện nay, Luật Cạnh tranh 2018 chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về hành vi nêu trên, tuy nhiên theo quy định tại Điều 23.1 của Nghị định 116/2005/NĐ-CP hướng dẫn Luật Cạnh tranh 2004 (đã hết hiệu lực, chỉ để tham khảo) thì giá thành toàn bộ bao gồm chi phí cấu thành giá thành sản xuất hàng hóa, dịch vụ hoặc giá mua hàng hóa để bán lại và chi phí lưu thông hàng hóa.

Address

888/13A Lạc Long Quân, Phường 8, Quận Tân Bình
Ho Chi Minh City

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật sư Nguyễn Bảo Toàn - Đoàn Luật sư Tp. Hồ Chí Minh posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share