30/06/2020
VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG CÓ BỊ XỬ LÝ HÌNH SỰ KHÔNG?
Hỏi: Chào Luật sư. Tôi có một câu hỏi mong được Luật sư giải đáp. Tôi và ông B có những mâu thuẫn từ 2 năm trước. Mới đây ông B có qua nhà tôi rồi hành hung tôi. Bị đánh bất ngờ vào bụng, tôi đã phản kháng lại. Tiện có con dao trên tôi đã đâm vào bụng ông B. Sau đó, ông B đã làm đơn gửi lên công an. Tôi được biết khi dám định tỷ lệ thương tật của Ông B là 10%.
Vậy trong trường hợp này, khi tôi phòng vệ mà không may gây thương tích có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không ?
Hiện tôi đang rất bất an, mong Luật sư phản hồi sớm! Tôi cảm ơn!
Trả lời:
*Vượt quá phòng vệ chính đáng
Điều 22 Bộ Luật hình sự năm 2015 có quy định như sau:
Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.
Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này.
Xét thấy, hành vi cầm dao đâm ông B khi bị ông B đấm vào bụng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Vì vậy, bạn sẽ thuộc trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Lúc này bạn sẽ phải chịu trách nhiệm về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015
Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;
b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;
e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;
h) Có tổ chức;
i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
k) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;
m) Có tính chất côn đồ;
n) Tái phạm nguy hiểm;
o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
Mặc dù, tỷ lệ thương tật ở đây dưới 11% nhưng bạn vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì bạn đã sử dụng hung khí nguy hiểm (dao). Tuy nhiên, nếu bạn có thể thỏa thuận với ông B để rút đơn thì vụ án sẽ được đình chỉ vì khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là điều khoản khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Cụ thể như sau:
Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.
Trên đây là tư vấn của đội ngũ Luật Bằng Chứng. Mọi vướng mắc vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật Sư tư vấn trực tuyến 24/7 qua hotline: 0933636555 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Bằng Chứng.