04/12/2019
BÀN VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
_______________________________
Một khi bạn, với tư cách cá nhân, dùng tiền để mua bán, trao đổi với một cá nhân/tổ chức khác về một vật, chính là bạn vừa mua bán, trao đổi một hoặc nhiều quyền dân sự gắn liền với vật đó. Tiến trình từ khi bạn quyết định cho đến khi có được quyền dân sự gắn với vật mục tiêu, chính là thỏa thuận dân sự. Thỏa thuận dân sự có thể dùng lời nói hoặc mô tả những lời nói thành văn bản hoặc làm hành vi cụ thể.
Lựa chọn cách thỏa thuận (lời nói, hợp đồng, bằng hành vi cụ thể) phụ thuộc vào cách nhìn của từng người về mức độ lớn bé, giá trị nhiều ít của các quyền gắn liền với vật định mua bán/ trao đổi. Nếu bạn chọn niềm tin về người, rằng giống như bạn, họ có cùng trí nhớ và cùng giữ chữ tín, thực hiện đúng những gì đã trao đổi thì mọi văn bản/hợp đồng tạo ra không cần thiết nữa.
Thế nhưng, bạn có chút nghi ngờ về trí nhớ của mình và người, lúc này, lúc khác hoặc tin rằng cái lẽ “vô thường” tồn tại. Nên “Hợp” cái sự “đồng ý” của cả hai, ghi lại bằng chữ vào giấy thành Hợp Đồng là điều cần thiết. Có vậy, cả hai có cái để nhắc mình không quên, tránh hiểu nhầm và không tranh cãi về sau.
Bởi cái lẽ “vô thường” tồn tại, nó không chỉ khiến sự vật đổi thay theo năm tháng, mà còn vận cả vào trong cái “ý” của con người. Nên việc một bên, trước thì “đồng ý” nay “thay lòng đổi dạ” không tuân cũng lẽ thường. Người muốn theo, người thì không, dẫn đến bất đồng, nên tranh chấp hợp đồng.
Đã tranh chấp thì ý định cuối của người tranh là xác định mình đúng, người khác sai. Muốn phân định thì chọn tiêu chí làm chuẩn để đối chiếu, từ đó đưa ra phán quyết. Tranh nhau Hợp đồng dân sự thì dùng Bộ Luật Dân Sự để phân định.
Bộ Luật Dân Sư có 689 điều, điều 3 xem ra quan trọng nhất. Bởi, nó quy định các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Các điều luật khác có quy định chi tiết thế nào, phức tạp đến đâu thì cũng tuân theo điều này mà khai triển. Vậy, so gì thì so, cũng phải đối chiếu nội dung hợp đồng với điều 3 trong Bộ luật dân sự.
Khi so sánh, để khách quan, cần có tinh thần trung lập của người quan sát. Người tranh là người trong cuộc, thường dùng hiểu biết sẵn có của mình tại thời điểm ký Hợp đồng, đinh ninh rằng nó hẳn đã trùng với điều luật rồi. Vậy khi so, gặp điều luật nào không lợi, thì khó lòng chấp nhận. Đôi khi, họ cố diễn giải khác, bóp cho nguyên nghĩa điều luật méo đi một chút mới thỏa lòng.
Dùng quan điểm của mình làm chủ là chủ quan. Vì xưa, dùng cái chủ quan mà quyết, nay gặp chuyện không ưng, nên ngưng dùng cái chủ quan xưa để xét lại hợp đồng. Nếu không thể thoát xác như tề thiên đại thánh thì hãy mượn cái chủ quan của người khác, giúp mình khách quan hơn khi xem và xét lại cái hợp đồng đã ký có hợp luật hay không.
Có khách quan, mới biết được cái ý của người “xưa thuận, nay đổi” là dựa vào đâu và dựa vào khi nào. Biết từ rất lâu, không nói, giờ nói thì đâu có trung theo cái sự thực nữa. Từ đó, nhận ra, tự mình và người có trung thực với nhau hay không ngay khi ký Hợp đồng.
So sánh sai thì nhận biết sai. Quyết định từ nhận biết sai thì kết quả không hạp ý mình là điều tất xảy ra. Vậy, khi so sánh, cũng nên theo trình tự nhân-quả mà làm. Cái nào có trước là nhân, cái được tạo từ nhân là quả.
Trong Hợp đồng, đâu ai đánh máy ngược từ chỗ ký tên hai bên đi ngược về cái tiêu đề hợp đồng. Nên bắt đầu cái tiêu đề làm mốc khởi đầu, so dần với Bộ Luật Dân Sự cho đến cuối hợp đồng mới thôi. Hợp Luật là các câu chữ mang nghĩa trùng với điều luật; không trùng nghĩa thì trái luật.
Cả Hợp Đồng thì nhiều chữ, nhiều nghĩa, khi so, thấy cái nào không hợp thì bỏ qua bên, giữ cái còn lại để làm theo. Bỏ ý gì cũng có thể thay thế hoặc bàn bổ sung. Nhưng bỏ mấy ý sau đây thì hợp đồng xem như vô hiệu.
Đó là, Ai (bên A, quyền, nghĩa vụ đính kèm), làm gì (mua bán/trao đổi ), với Ai (bên B, quyền, nghĩa vụ đính kèm), về Cái gì (cái vật mua bán /trao đổi với, cái giá, các tính chất, đặc điểm của vật đó), làm như thế nào (cách thanh toán, cách giao nhận), Ở đâu (địa điểm thanh toán, bàn giao vật), Khi nào (thời hạn thanh toán, bàn giao vật).
Các ý trên có đủ, thì hợp đồng có nghĩa, để hai bên làm theo sau đó. Ai, Làm gì, Cái Gì là quan trọng hơn mấy cái còn lại. Theo văn phạm tiếng Việt, câu mà không có chủ ngữ, vị ngữ thì đâu mô tả về việc nào. Vậy có gì để bàn! Nghĩ tương tự, trong hợp đồng mua bán, bên mua - bên bán không có, tiền không giao nhận, vật mua bán không tồn tại thì đâu có hiệu lực thực hiện cho cả hai.
Giả sử, người mua đã chuyển và người bán đã nhận tiền. Vậy là Ai và Làm gì đã có. Việc còn lại chỉ xét có hay không tồn tại "Cái gì" - “Vật mua bán”.
“Vật mua bán” chiếu theo sự quản lý của cơ quan nhà nước, quy định trong luật mà phân thì có 02 loại: cho phép mua bán và cấm mua bán. Vật cụ thể và có giá trị lớn thì càng có quy định cụ thể trong Luật. Có vậy, những người tham gia giao dịch tài sản này yên tâm, có cái để làm chứng dùng tranh phần đúng - sai về sau. Chứ tự hai bên trao đổi, dùng "vầng trăng" làm chứng như "Romeo và Juliet" đã từng thì về sau, tranh chấp ở tòa, "chị Hằng" biết khi nào mới nhận được giấy triệu tập mà đến Tòa làm chứng cho cả hai bên.
Chiếu theo Bộ luật dân sự mà tìm thì vật chỉ quy định chung theo nhóm: bất động sản (đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, tài sản khác gắn đất đai, công trình xây dựng) và động sản (là những gì không phải là bất động sản). Cứ nhìn thực tế mà ngẫm thì đất đai, nhà, công trình xây dựng là vật “bất động”, dùng hai bàn tay mà đếm cũng không đủ; huống chi là vật “động”.
Thế nên, Luật quy định riêng, chi tiết cho từng loại vật nhiều dạng, đương nhiên có. Cụ thể: Đất đai thì có Luật Đất Đai; Nhà ở thì có Luật Nhà ở; Công trình xây dựng thì có Luật Xây dựng; Tiền thì có Luật Ngân hàng, Luật các tổ chức tín dụng…
Vậy mua bán, trao đổi một vật trong giao dịch dân sự mà chỉ dựa Bộ Luật Dân Sự để so thì đâu đủ xác định một vật, có tồn tại hay không tại thời điểm giao dịch. Tra cứu luật chuyên ngành quy định về vật cụ thể đem mua bán và trao đổi là việc phải làm.
Dùng Luật chuyên ngành so với vật mục tiêu mà hai bên thỏa thuận và mô tả trong Hợp đồng nhằm kết luận sự tồn tại của vật mua bán/trao đổi. Nếu tồn tại, 03 yếu tố quan trọng đã có thì xét tiếp các yếu tố còn lại. Nếu không tồn tại, như đã diễn giải ở trên, hai bên đâu có gì để quan hệ với nhau từ lúc ký, cũng như lúc hiện tại đang xét.
Nếu vật không tồn tại, mà một hoặc cả hai tưởng tượng là có để mua
bán/trao đổi, thì quan hệ phát sinh từ cái ‘tưởng tượng” của từng bên. Sự “tưởng tượng” là kết quả từ các thông tin qua mắt thấy, tai nghe, như nguyên liệu tạo ra một tượng, một hình trong tâm trí mà suy, mà tưởng. Có tượng, có hình, có ảnh trong đầu, thì ta mới tin là có. Nếu tâm trí trống rỗng thì sẽ xác quyết là không có.
“Tưởng tượng” là kết quả thì phần nhiều nguyên nhân tạo ra, chính là hình ảnh, âm thanh nạp vào đầu qua mắt và lỗ tai. Thời công nghệ số, hình ảnh và âm thanh đâu chỉ chứa mỗi trên giấy, trên băng đĩa, mà còn cả trên mạng thông tin, theo đó mà tìm.
Thông tin trong hình ảnh và âm thanh chứa hoặc ý định thật toàn bộ (1) hoặc không thật toàn bộ (2) hoặc có cái thật - giả (3) của người tạo ra. Vậy, không vội kết luận ngay mà cần thu thập thêm thông tin, đủ để loại dần đến khi chỉ còn một kết luận duy nhất. Bởi, có một kết luận sẽ tạo niềm tin chắc chắn, làm hành trang “phượt” trên các cung đường “tố tụng” mà điểm đến là lẽ phải đang chào đón vào một ngày không xa. Có từ 02 kết luận đồng thời trở lên thì biết lẽ phải nằm phương nào mà đi.
Tới đây, bạn đọc thấy rằng, một khi vướng tranh chấp Hợp đồng dân sự thì cũng lắm thứ để nghĩ. Các cách hiểu và làm ở trên, là việc người viết, khi hành nghề thường áp dụng. Nay viết ra để bạn đọc tham khảo thêm. Bàn về Hợp đồng dân sự, đâu phải đôi dòng ở trên là đủ. Bạn đọc nào quan tâm về đề tài này, phải tra cứu nhiều hơn nữa. Bạn cứ hỏi “ngài” Google thì chắc sẽ toại nguyện đôi ba phần.
________________________________
Hồ Chí Minh, ngày 04.12.2019
Luật sư Nguyễn Hữu Thống