Tư vấn miễn phí Luật Đất đai, Thừa kế, Di chúc

Tư vấn miễn phí Luật Đất đai, Thừa kế, Di chúc Tư vấn pháp lý miễn phí các lĩnh vực dân sự, đất đai, thừa kế, di chúc

21/04/2026

Ông ngoại tôi có mảnh đất hơn 3 sào. Ông tôi có 5 người con (4 con gái con bà cả, 1 con trai con bà hai – sau này ông tôi ly hôn với bà hai và sống với bà cả là bà ngoại tôi, cậu tôi là con bà hai thì theo sống cùng mẹ ở nơi khác). Năm 1983, dì út tôi lấy chồng và dọn về ở cùng ông bà ngoại tôi. Khi còn sống, ông tôi vẫn nói mảnh vườn đó chia cho cậu tôi và dì tôi mỗi người một nửa nhưng ông không viết thành di chúc. Năm 1987, ông ngoại tôi mất, năm 1993, dì tôi sang tên bìa đỏ cả mảnh vườn đó cho dì mà không có phần của cậu tôi (lúc này các anh chị em của dì tôi không ai được biết, vì bà ngoại tôi còn sống nên các con không để ý vườn đất). Năm 2014, bà ngoại tôi mất, năm 2017, các anh chị em của mẹ tôi mới bàn đến việc chia vườn cho cậu tôi để cậu về làm tròn nghĩa vụ thờ cúng ông bà thì mới biết dì tôi đã sang tên bìa đỏ tên của dì. Vậy tôi xin hỏi:

1. Việc dì tôi sang tên bìa đỏ vào năm 1993 (sau khi ông tôi mất 6 năm) có đúng pháp luật không?

2. Nếu bây giờ một trong những người con của ông ngoại tôi khởi kiện thì theo pháp luật sẽ được giải quyết như thế nào?

Trả lời:

1. Ông ngoại của bạn sống cùng bà ngoại của bạn trên tài sản tranh chấp, theo Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 thì tài sản này được xác định là tài sản chung của hai ông bà. Năm 1987, ông ngoại của bạn chết, không để lại di chúc. Tuy dì út của bạn sống cùng ông, bà ngoại bạn từ năm 1983 nhưng trên cơ sở dữ liệu bạn cung cấp không có căn xác định ông, bà ngoại của bạn đã tặng cho/để lại thừa kế mảnh đất trên cho dì út của bạn. Do đó, năm 1993 (sau khi ông ngoại của bạn chết 6 năm và không để lại di chúc), dì út của bạn thực hiện thủ tục sang tên bìa đỏ mảnh đất trên, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi không có sự đồng ý của tất cả những người thừa kế của ông ngoại của bạn là không đúng quy định của pháp luật.

2. Trường hợp một trong những người con của ông ngoại của bạn khởi kiện thì Toà án sẽ thụ lý vụ án nếu việc khởi kiện đảm bảo về nội dung và hình thức theo quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 và không thuộc các trường hợp bị trả lại đơn khởi kiện quy định tại Điều 192 BLTTDS năm 2015.

Ông, bà ngoại của bạn là đồng sở hữu quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên. Năm 1987, ông ngoại của bạn chết. Theo quy định tại Điều 623, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Tòa án nhân dân tối cao "Hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành BLTTDS và Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về thi hành Luật TTHC" và tham khảo Phần I Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của TAND tối cao thì đối với trường hợp người để lại di sản thừa kế chết trước ngày 10/9/1990 mà hiện nay Tòa án mới thụ lý, giải quyết tranh chấp thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản thừa kế là 30 năm đối với bất động sản kể từ ngày 10/9/1990. Do đó, ông ngoại của bạn chết năm 1987 thuộc trường hợp mở thừa kế trước ngày 10/9/1990 thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế của ông ngoại của bạn được tính từ ngày 10/9/1990, đến nay (tháng 11/2022) là 32 năm nên thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế đối với phần di sản thừa kế của ông ngoại của bạn trong khối tài sản chung của ông, bà ngoại của bạn đã hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế. Do đó, phần di sản của ông ngoại của bạn trong thửa đất trên sẽ thuộc về người quản lý di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 623 BLDS năm 2015.

Bà ngoại của bạn chết năm 2014 nên nay những người con của ông bà ngoại của bạn chỉ có thể yêu cầu chia thừa kế đối với phần di sản của bà ngoại của bạn trong thửa đất trên. Nếu bà ngoại của bạn cũng không để lại di chúc thì phần di sản này sẽ được chia thừa kế theo pháp luật.

21/04/2026

Sổ hồng có ghi chú: là người đại diện của những người thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản trên đất có được giao dịch mua bán hoặc sang tên đổi chủ được không?

Câu trả lời:

Trước ngày 10/12/2009 (thời điểm Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có hiệu lực), “sổ hồng” là cách gọi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Sau thời điểm trên, “sổ hồng” là chỉ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Đây là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 5 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì: “Trường hợp nhiều người được thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà những người được hưởng thừa kế có văn bản thỏa thuận chưa phân chia thừa kế và đề nghị cấp một Giấy chứng nhận cho người đại diện đối với toàn bộ diện tích đất, tài sản gắn liền với đất để thừa kế thì cấp một Giấy chứng nhận cho người đại diện đó…Trên Giấy chứng nhận ghi thông tin của người đại diện …, dòng tiếp theo ghi "Là người đại diện của những người được thừa kế gồm:..””. Như vậy, các đồng thừa kế có quyền sử dụng, định đoạt phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của mình theo quy định của pháp luật về chế độ sở hữu chung. Người đại diện thừa kế đứng tên trên “sổ hồng” chỉ có thể thực hiện giao dịch mua bán nhà đất hoặc sang tên đổi chủ khi được sự đồng ý (thể hiện qua văn bản ủy quyền hợp pháp) của tất cả những người thừa kế nhà đất đó.

21/04/2026

Ngày 16/4/2006, gia đình tôi có mua mảnh đất diện tích 1000m². Lúc mua thì người chồng đã mất năm 1996, chỉ có vợ và 05 người con đã trưởng thành. Bên bán lập biên bản họp gia đình thống nhất bán đấtnhà và tài sản trên đất với giá 20 triệu đồng và được 05 người con của bên bán đều ký thỏa thuận và được xã xác nhận, nhưng người mẹ do không biết chữ và bệnh nặng nên không ký vào biên bản, nhưng có nhiều người làm chứng về việc bà đồng ý bán cho bố tôiSau đó, bố tôi đã thanh toán số tiền 20 triệu đồng và làm giấy mua bán mà đại diện là con trai trưởng ký và nhận tiềnSau đó người mẹ và các con chuyển đi sinh sống ở mảnh đất khác, gia đình tôi tiếp quản mảnh đất và ở ổn định trên đất cho đến hiện nayĐến năm 2012, người mẹ bên bán chết, năm 2021, người con gái thứ ba của bà khởi kiện bố tôi đòi lại đấtlý do bà mẹ không ký vào biên bản và bà không ký vào biên bản thống nhất họp gia đình bán cho bố tôi; biên bản thống nhất họp gia đình bán không phải là thủ tục mua bánNay bà khởi kiện yêu cầu giao dịch vô hiệu. Tôi muốn hỏi việc khởi kiện đó đúng hay saiviệc người con ký vào biên bản thống nhất họp gia đình đã được giám định là chữ ký của người con thứ ba. Như vậy, gia đình tôi có mất đất không? Việc áp dụng pháp luật để giải quyết như thế nào?

Câu trả lời:

Bố của bạn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/4/2006. Trong câu hỏi bạn không nêu rõ đất khi chuyển nhượng đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa; đồng thời cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của gia đình bạn chưa được thực hiện đúng quy định tại khoản 2 Điều 124, khoản 2 Điều 689 Bộ luật Dân sự năm 2005 (hợp đồng phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật).

Năm 2021, một người con của người bán khởi kiện bố bạn yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do người mẹ không ký vào biên bản thống nhất họp gia đình có nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bố bạn.

Với những thông tin bạn đưa ra có thể xác định mặc dù người mẹ không ký vào biên bản họp gia đình nhưng thông qua người làm chứng và việc cả gia đình người bán đã chuyển đi nơi khác sinh sống, tự nguyện giao đất cho gia đình bạn, gia đình bạn đã sinh sống ổn định trên đất; người mẹ cho đến khi chết không có khiếu nại, tranh chấp gì cho thấy người mẹ đã đồng ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bố của bạn.

Trường hợp đất khi chuyển nhượng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hình thức của hợp đồng không đúng quy định của pháp luật thì căn cứ các quy định tại các tiểu mục a và b Mục 2.3 Phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/4/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình để xem xét việc công nhận hoặc tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Trường hợp chỉ có hình thức của hợp đồng không đúng quy định của pháp luật thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của gia đình bạn vẫn được công nhận do các bên đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ (bên chuyển nhượng đã nhận đủ tiền và giao đất; bên nhận chuyển nhượng đã trả đủ tiền và nhận đất) theo quy định tại Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015.

21/04/2026

Ông ngoại tôi mất lúc bác trai tôi 4 tuổi, mẹ tôi 2 tuổi. Bà ngoại ở vậy nuôi 2 người con (bác và mẹ tôi). Năm 1958 mẹ tôi đi lấy chồng. Bà ngoại ở với bác trai tôi trên mảnh vườn diện tích 1500m2 do ông ngoại tôi để lại và không có di chúc. Năm 1959 bác lấy vợ sinh được 6 người con. Bác dâu mất năm 1979. Năm 1981, bác trai lấy vợ hai sinh thêm được 2 người con (Tổng là 8 người con). Năm 2004, bác trai làm sổ đỏ đứng tên bác và vợ sau của bác (lúc này 6 anh chị em con bác cả và bà ngoại tôi đều không biết vì bà đang sống với bác nên không để ý). Năm 2014, bà ngoại tôi mất. Năm 2016, bác trai mất và không để lại di chúc. Hiện nay bác dâu hai và con trai út của bác đang sống trên mảnh vườn chung này và anh út đang có ý định làm nhà. Tôi xin hỏi:

1. Việc bác trai lập sổ đỏ đứng tên bác trai và vợ sau của bác năm 2004 khi bà ngoại tôi còn sống có đúng luật không?

2. Việc anh út làm nhà trên mảnh đất này khi chưa phân chia tài sản có được không?

3. Nếu bây giờ một trong những người con của bác khởi kiện thì sẽ phân chia tài sản như thế nào?

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp thì diện tích 1.500 m² đất (vườn) có nguồn gốc của ông ngoại bạn chết để lại, không có di chúc. Theo quy định tại Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới", do đó, diện tích đất trên là tài sản chung của ông ngoại và bà ngoại bạn; cụ thể tải sản của ông ngoại bạn là ½ = 750m², tài sản của bà ngoại bạn là ½ = 750m². Trong trường hợp cả ông ngoại và bà ngoại bạn chết không để lại di chúc; nếu không có cơ sở nào cho thấy ông ngoại và bà ngoại bạn đã tặng cho ai phần tài sản của ông, bà là mảnh đất nêu trên thì diện tích đất của ông, bà ngoại bạn được xác định là di sản thừa kế của ông, bà ngoại bạn; di sản thừa kế của ông, bà ngoại bạn được phân chia theo pháp luật.

Trường hợp một trong những người con của bác bạn khởi kiện thì sẽ phân chia tài sản như sau:

Theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, những người được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật của ông bà ngoại bạn là bố, mẹ của ông, bà ngoại bạn (nếu còn sống), bác trai bạn và mẹ bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông, bà ngoại bạn. Một trong những người con của bác trai bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bác nên có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế do cha đẻ để lại. Những người được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật của bác trai bạn là bác dâu thứ hai và 08 người con của bác trai bạn.

Tuy nhiên, theo thông tin bạn đưa ra thì ông ngoại bạn chết trước năm 1958 (năm mẹ bạn đi lấy chồng), bà ngoại bạn chết năm 2014. Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10/9/1990 (người có tài sản chết trước ngày 10/9/1990) thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được thực hiện theo quy định tại Điều 36 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế, cụ thể là: Thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10/9/1990. Như vậy, tính đến thời điểm hiện nay thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với phần tài sản của ông ngoại bạn để lại đã hết. Nếu trước khi Tòa án ra bản án sơ thẩm không có ai yêu cầu áp dụng quy định về thời hiệu thì Tòa án sẽ chia toàn bộ di sản thừa kế của ông bà ngoại bạn theo pháp luật theo thủ tục chung. Trường hợp có người yêu cầu áp dụng quy định về thời hiệu thì Tòa án chỉ chia thừa kế đối với phần tài sản của bà ngoại bạn để lại (1/2 khối di sản thừa kế), phần di sản của ông ngoại bạn thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản là bác dâu thứ hai và anh trai út bạn (Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015). Do dữ liệu bạn không nêu rõ khoảng thời gian 07 người con khác của bác trai bạn sinh sống trên mảnh vườn trên trong khoảng thời gian bao lâu, nếu có căn cứ thì những người này cũng được xem xét xác định là có công quản lý di sản do ông ngoại bạn để lại và được hưởng một phần công sức quản lý di sản này theo quy định tại Điều 618 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thời điểm năm 2004, di sản của ông ngoại bạn chưa được phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật; do đó, việc bác trai bạn làm thủ tục để được cấp sổ đỏ đứng tên bác và vợ sau (vợ hai) của bác mà không được sự đồng ý của bà ngoại bạn và những người thừa kế của ông ngoại bạn (trong đó có mẹ bạn) là vi phạm quy định của pháp luật, việc anh út nhà bác bạn làm nhà trên mảnh đất này khi chưa phân chia di sản cũng là vi phạm pháp luật.

Khi phân chia di sản thừa kế, Tòa án sẽ tính cho gia đình bác bạn công sức tôn tạo, bảo quản di sản và giá trị tài sản gia đình bác bạn đã tạo dựng trên đất. Trường hợp có thể chia bằng hiện vật thì gia đình bác bạn có thể được ưu tiên nhận phần đất có nhà, công trình gia đình bác bạn đã xây dựng để bảo đảm ổn định cuộc sống, nếu không thể chia bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật.

21/04/2026

Trước đây ba tôi có vợ và 05 người con, đến năm 1990 vợ của ba tôi mất. Năm 1993, ba tôi cưới mẹ tôi nhưng không đăng ký kết hôn, trong thời gian chung sống ba mẹ tôi có mua đất và mẹ tôi là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vậy tài sản đó có được tính là tài sản riêng của mẹ tôi hay không? Nếu sau này ba tôi mất thì 05 người con của ba tôi có được chia tài sản đó không?

Trả lời:

Xác định quan hệ hôn nhân giữa ba mẹ bạn
Ba mẹ bạn chung sống từ năm 1993 cho đến nay vẫn không đăng ký kết hôn. Vậy căn cứ Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, các điểm b, c khoản 3 của Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình thì ba mẹ bạn không được pháp luật công nhận là vợ chồng, thửa đất ba mẹ bạn mua không phải là tài sản chung vợ chồng của ba mẹ bạn.

Xác định quyền sử dụng đất có phải là tài sản riêng của mẹ bạn không

Thửa đất được ba mẹ bạn nhận chuyển nhượng trong thời gian ba mẹ bạn đang chung sống, nhưng mẹ bạn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, cần xem xét công sức đóng góp của ba bạn và mẹ bạn vào việc tạo lập thửa đất. Nếu không có tài liệu chứng minh ba bạn có đóng góp vào việc nhận chuyển nhượng đất thì đây là tài sản riêng của mẹ bạn. Trường hợp có căn cứ chứng minh ba bạn có góp tiền vào việc nhận chuyển nhượng đất thì quyền sử dụng đất này sẽ là tài sản chung theo phần giữa ba mẹ bạn (phần của mỗi người tương đương tỷ lệ đóng góp của người đó).

Quyền thừa kế của 05 người con của ba bạn với người vợ trước

- Nếu thửa đất là tài sản riêng của mẹ bạn, 05 người con của ba bạn với người vợ trước không có quyền thừa kế đối với tài sản này.

- Nếu thửa đất là tài sản chung theo phần của ba mẹ bạn thì phần tài sản của ba bạn là di sản khi ba bạn mất. Phần tài sản đó sẽ được chia thừa kế theo pháp luật sau khi trừ đi công sức gìn giữ, bảo quản tài sản và các khoản nghĩa vụ của ba bạn (nếu có). Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì những người thừa kế thuộc hàng thứ nhất của ba bạn gồm có: bố mẹ của ba bạn, 05 người con của ba bạn với người vợ trước và những người con của ba bạn và mẹ bạn (trong đó có bạn).

21/04/2026

Năm 2000, bố tôi mất có tài sản chung với mẹ tôi là 01 mảnh đất và không để lại di chúc. Hàng thừa kế thứ nhất có mẹ tôi, tôi và bà nội tôi. Hiện tại mẹ tôi là người quản lý di sản và bà nội tôi còn sống. Nếu từ giờ tới năm 2030 (thời điểm hết thời hiệu khởi kiện chia di sản) mà bà nội tôi mất và cô chú tôi muốn được chia phần tài sản bà nội tôi thừa kế từ bố tôi thì thời hiệu khởi kiện chia di sản cho cô chú tôi được tính từ thời điểm bố tôi mất hay tính từ thời điểm bà tôi mất?

Trả lời:

Xác định di sản thừa kế và hàng thừa kế của bố bạn:
- Năm 2000, bố bạn mất, không để lại di chúc. Theo các Điều 650 và 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì di sản của bố bạn sẽ được chia thừa kế theo pháp luật. Hàng thưa kế thứ nhất gồm: Mẹ bạn, bạn, bà nội bạn.

- Mảnh đất là tài sản chung của bố mẹ bạn nên phần tài sản của bố bạn là 50% mảnh đất. Phần tài sản này sau khi trừ đi công sức gìn giữ, bảo quản tài sản của mẹ bạn sẽ là di sản thừa kế của bố bạn. Phần di sản này sẽ được chia đều cho 03 người thừa kế ở hàng thứ nhất, mỗi người được hưởng 1/3 tổng giá trị di sản.

Xác định thời điểm tính thời hiệu khởi kiện chia kỷ phần thừa kế bà nội bạn được hưởng từ bố bạn

Theo Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế. Theo khoản 1 Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Như vậy, thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của bố bạn là 30 năm kể từ năm 2000 (năm bố bạn mất). Sau năm 2030, nếu chưa chia di sản trên, thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế sẽ hết, Toà án sẽ không giải quyết chia thừa kế nếu có bên yêu cầu áp dụng thời hiệu.

- Trường hợp bà nội bạn mất trước năm 2030 nhưng trước đó di sản của bố bạn đã được chia và bà bạn đã được hưởng 01 kỷ phần thì kỷ phần đó trở thành di sản của bà bạn để lại và được chia theo pháp luật nếu bà không để lại di chúc. Cô chú của bạn có quyền khởi kiện yêu cầu chia phần tài sản mà bà nội bạn đã được nhận từ bố bạn trong thời hạn 30 năm kể từ khi bà nội bạn qua đời.

- Trường hợp bà nội bạn mất trước năm 2030 nhưng trước đó di sản của bố bạn chưa được chia, bà bạn chưa được nhận kỷ phần thừa kế của bố bạn thì cô chú của bạn phải yêu cầu chia di sản thừa kế của bố bạn để xác định kỷ phần của bà nội bạn được hưởng và xác định những người được nhận kỷ phần thừa kế của bà nội bạn. Lúc này, thời điểm tính thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế là thời điểm bố bạn mất.

Address

A11 Bà Hom
Ho Chi Minh City
700000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tư vấn miễn phí Luật Đất đai, Thừa kế, Di chúc posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category