19/11/2025
Người sử dụng lao động chi trả tiền lương cho người lao động trong những ngày không làm việc cho mình
雇主应向劳动者支付在未工作的时间的薪资
Sau khi nghiên cứu bài viết “Bàn về tiền lương những ngày người lao động không được làm việc do bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật” của tác giả Phương Thảo - Ngô Minh Quang được đăng ngày 28/8/2025, tôi có quan điểm về tiền lương mà người sử dụng lao động là Công ty Cổ phần B phải trả cho người lao động là ông ĐTT - nhân viên pháp lý trong vụ việc.
本文通过研究2025年8月28日芳草 – 吴明光发表的《论劳动者因雇主违法单方终止劳动合同而未能工作的薪资问题》,对B股份公司应支付给劳动者——法律专员ĐTT先生的薪资问题,笔者提出如下观点。
Theo bối cảnh vụ việc, người lao động (NLĐ) sau khi bị người sử dụng lao động (NSDLĐ) đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì đã được nhận vào làm việc tại một doanh nghiệp khác, dẫn đến NSDLĐ từ chối trả tiền lương cho NLĐ là có cơ sở vì các lẽ sau:
根据案件背景,劳动者在被雇主违法单方终止劳动合同后,已经被另一家公司录用。因此,雇主拒绝向劳动者支付薪资,是有一定依据的,具体理由如下:
Một là, theo quy định tại khoản 1 Điều 42 Bộ luật Lao động 2012 (nay là Điều 41 Bộ luật Lao động 2019) thì: “1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.”. Theo đó, nghĩa vụ mà NSDLĐ phải thực hiện đầu tiên là nhận lại NLĐ cùng với việc chi trả tiền lương, chế độ bảo hiểm (bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội) cho những ngày không được làm việc cũng như cộng với ít nhất 02 tháng lương theo hợp đồng lao động; tuy nhiên, điểm lưu ý tại khoản 1 này ở chỗ phúc lợi tiền lương và chế độ bảo hiểm mà NLĐ đáng lẽ ra được hưởng nếu được làm việc.
一,根据《2012年劳动法》第42条第1款(现为《2019年劳动法》第41条第1款)的规定:“一、应依原先缔结劳动合同接受劳工复职;给付劳工不得工作期间内之薪资、缴付社会保险、医疗保险、失业保险,并另加上一笔至少相当劳动合同上薪资的 2个月金额”。据此,雇主违法单方终止劳动合同时应承担的义务一是接受劳动者复职;二是支付其在未能工作的期间应得的薪资、社会保险、医疗保险以及至少两个月的合同薪资。然而,这意味着,该条款所指的薪资与保险待遇,是劳动者在若继续工作情况下本应享有的利益。
Hai là, như đã trình bày ở trên, chế độ tiền lương, chế độ bảo hiểm phải xác định là những thiệt hại mà NLĐ phải chịu tổn thất trong quãng thời gian bị đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật. Tuy nhiên, sau đó NLĐ đã chủ động tìm kiếm việc làm và đã được nhận vào làm việc tại một doanh nghiệp mới, khi làm việc tại doanh nghiệp mới thì NLĐ đã được chi trả chi tiền lương, chế độ bảo hiểm. Điều này vô hình trung giảm thiểu hậu quả thiệt hại mà NSDLĐ gây ra cho NLĐ khi chấm dứt Hợp đồng lao động trái luật. Ngoài ra, nguyên tắc chung của pháp luật dân sự về bồi thường là bồi thường theo tổn thất thực tế, trở lại vấn đề thì hậu quả NLĐ không được trả tiền lương, chế độ bảo hiểm do không được làm việc chấm dứt kể từ khi NLĐ đã làm công việc tại chỗ mới, do đó NLĐ chỉ yêu cầu NSDLĐ chi trả tiền lương, chế độ bảo hiểm đối với những ngày “không được làm việc” tính tới thời điểm trước khi làm việc tại chỗ mới.
二,如上所述,薪资及保险待遇应被视为劳动者因雇主违法终止合同而遭受的损失。然而,在被终止劳动合同后,劳动者主动寻找新工作,并被另一家企业录用,自入职新单位后,获得新的薪资和保险待遇。从这一角度来看,原雇主所需承担的赔偿范围仅限于劳动者未能工作的那段期间,而非其重新获得稳定收入后的时间段。此外,按照民法中的损害赔偿一般原则,赔偿应基于实际损失, 也就是说,自劳动者开始在新公司工作起,其经济损失已停止,无法继续以未获薪资和保险待遇的名义索取赔偿。
Ba là, xét tới yếu tố lẽ công bằng, NLĐ đã chủ động tìm kiếm cơ hội việc làm, giúp cho thiệt hại thực tế được khắc phục nên yêu cầu NSDLĐ phải bồi thường tới thời điểm khởi kiện dù đang đi làm là không phù hợp với tinh thần pháp luật cả về lao động nói riêng và dân sự nói chung.
三,从衡平法的角度进行分析,当劳动者主动寻找并成功获得新工作,从而减轻了自身的损失时,如果其要求雇主赔偿至起诉日,即便已在新单位任职,也不符合劳动法和民法的立法精神。
Bốn là, thực tiễn xét xử đã có Quyết định giám đốc thẩm số 11/2024/LĐ-GĐT ngày 30/7/2024 “V/v Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh1, theo đó Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã hủy Bản án Lao động sơ thẩm số 80/2023/LĐ-ST ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Đức T với bị đơn là Công ty Cổ phần hàng tiêu dùng M vì lý do Bản án sơ thẩm đã không thu thập đầy đủ chứng cứ, đánh giá chứng cứ về việc người lao động T đã đi làm chỗ khác, dẫn tới gây ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty Cổ phần Hàng tiêu dùng M. Dù rằng Quyết định giám đốc thẩm số 11/2024/LĐ-GĐT không phải là “Án lệ” nhưng có thể làm nguồn tham khảo trong công tác giải quyết vụ việc liên quan tới tiền lương, chế độ phúc lợi của NLĐ cũng như bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho NSDLĐ trong vấn đề lao động.
四,在司法实践中,对类似问题已有可参考案例,越南胡志明市高级人民法院于2024年7月30日作出的第11/2024/LĐ-GĐT号再审决定(关于“单方终止劳动合同纠纷”),撤销了胡志明市X郡人民法院于2023年8月24日作出的第80/2023/LĐ-ST号劳动一审判决。该再审判决认为,一审法院未充分收集、评估关于劳动者T已在其他地点就业的证据,从而导致被告——M消费品股份公司的合法权益未得到有效保障。尽管该再审决定目前尚未被正式确立为“判例法”,但其对于处理涉及违法终止劳动合同所引发赔偿义务的案件具有重要的参考价值。
Như vậy, để bảo đảm tính công bằng, khách quan trong quá trình giải quyết vụ án cũng như bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho NSDLĐ và NLĐ thì NLĐ chỉ được yêu cầu NSDLĐ thanh toán tiền lương cho những ngày chưa làm việc ở Công ty mới.
综上所述,为了保障案件处理的公平性与客观性,同时兼顾雇主与劳动者双方的合法权益,劳动者仅能要求雇主支付其在任职于新公司工作之前尚未工作的那段时间的薪资。
Trên đây là quan điểm của tác giả, rất mong nhận được sự góp ý của bạn đọc.
以上分析为笔者个人观点,欢迎各位读者批评指正以求共进。
Nguồn借鉴: Tạp chí toà án法院杂志, Công bố bản án 判决公告