28/11/2025
Kính gửi: Quý doanh nghiệp trên địa bàn xã Đại Thanh!
Căn cứ Nghị định 181/2025/NĐ-CP ban hành ngày 01/07/2025 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của luật thuế giá trị gia tăng;
Quý doanh nghiệp lưu ý: cuối năm là thời điểm thanh toán công nợ, thu hồi công nợ tăng cao trong khi đó nội dung “Thanh toán không dùng tiền mặt và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt” đã được triển khai và áp dụng từ 01/07/2025, do đó đề nghị Quý doanh nghiệp nghiêm túc tuân thủ và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Dưới đây là một số nội dung đặc biệt cần quan tâm, Thuế cơ sở 14 Thành phố Hà Nội nhắc lại để Quý doanh nghiệp áp dụng:
Theo Luật thuế GTGT số 48/2024/QH15 ngày 26/11/2024, ngoài điều kiện có hóa đơn GTGT (GTGT) mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài, để đáp ứng điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào NNT còn cần phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào. Vậy thanh toán không dùng tiền mặt và chứng từ không dùng tiền mặt là gì?
1. Thanh toán không dùng tiền mặt
Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 52/2024/NĐ-CP quy định về thanh toán không dùng tiền mặt, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt (sau đây gọi là dịch vụ thanh toán) bao gồm: dịch vụ thanh toán qua tài khoản thanh toán của khách hàng và dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng. Trong đó:
Dịch vụ thanh toán qua tài khoản thanh toán của khách hàng là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, chuyển tiền, thu hộ, chi hộ và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng. Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản thanh toán của khách hàng bao gồm:
- Ngân hàng Nhà nước cung ứng các dịch vụ thanh toán cho các khách hàng mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng Nhà nước;
- Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng chính sách cung ứng tất cả các dịch vụ thanh toán quy định tại khoản 1 Điều này;
- Ngân hàng hợp tác xã được cung ứng một số dịch vụ thanh toán quy định tại khoản 1 Điều này sau khi được ghi trong Giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp.
Dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng là việc cung ứng dịch vụ thanh toán, thực hiện giao dịch thanh toán không thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng, bao gồm:
- Thực hiện dịch vụ thanh toán: chuyển tiền, thu hộ, chi hộ;
- Các dịch vụ thanh toán khác không qua tài khoản thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Các tổ chức được cung ứng dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng bao gồm:
- Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng chính sách;
- Ngân hàng hợp tác xã được cung ứng một số dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng sau khi được ghi trong Giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp;
- Quỹ tín dụng nhân dân được cung ứng dịch vụ chuyển tiền, thực hiện nghiệp vụ thu hộ, chi hộ cho thành viên, khách hàng của quỹ tín dụng nhân dân đó sau khi được ghi trong Giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp;
- Tổ chức tài chính vi mô được cung ứng dịch vụ chuyển tiền, thu hộ, chi hộ cho khách hàng của tổ chức tài chính vi mô sau khi được ghi trong Giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp;
- Doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính công ích được cung ứng dịch vụ chuyển tiền, thu hộ, chi hộ sau khi đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 19 Nghị định này và được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản.
Việc cung ứng dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
2. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt
Cũng theo Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ, Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt là chứng từ chứng minh việc thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của Nghị định số 52/2024/NĐ-CP của Chính phủ trừ các chứng từ bên mua nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán, không bao gồm các trường hợp đặc thù theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP.
3. Thời gian áp dụng
Từ ngày 01/7/2025, cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ 05 triệu đồng trở lên đã bao gồm thuế giá trị gia tăng.
Trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ của cùng một nhà cung cấp có giá trị dưới 05 triệu đồng nhưng mua nhiều lần trong cùng một ngày có tổng giá trị từ 05 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP.
4. Sẽ xử lý nghiêm các trường hợp cố tình thanh toán bằng tiền mặt để trốn thuế
Hiện nay, có tình trạng nhiều cơ sở kinh doanh, cá nhân kinh doanh đặc biệt là người bán hàng qua mạng, có biểu hiện vi phạm pháp luật thuế thông qua hình thức thanh toán không minh bạch.
Cụ thể như từ chối thanh toán chuyển khoản, chỉ nhận tiền mặt nhằm tránh để lại dấu vết giao dịch, gây khó khăn trong việc xác minh doanh thu thực tế; hướng dẫn người mua ghi nội dung chuyển khoản sai lệch như “tiền mượn”, “tiền cafe", "trả nợ", "tiền ship”, …nhằm mục đích che giấu giao dịch thương mại thực tế. Thậm chí, có trường hợp người bán chủ động “bày” người mua cách né thuế, như đề nghị không lấy hóa đơn, không chuyển khoản hoặc chuyển khoản cho tài khoản bên thứ ba không liên quan. Điều này đã gây ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế, gây lãng phí nguồn lực, có thể bị lợi dụng để trốn thuế, rửa tiền và các hoạt động vi phạm pháp luật.
Thuế TP Hà Nội khẳng định, theo quy định của pháp luật thuế, doanh thu tính thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh là toàn bộ tiền bán hàng, cung ứng dịch vụ mà người nộp thuế được hưởng, không phân biệt đã thu hay chưa thu được tiền, không phụ thuộc hình thức thanh toán bằng tiền mặt hay chuyển khoản.
Thuế TP Hà Nội khuyến cáo tới NNT trên địa bàn:
- Trường hợp các cơ sở kinh doanh, bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ trực tiếp đến người tiêu dùng có hành vi không nhận thanh toán bằng chuyển khoản mà đề nghị khách hàng thanh toán bằng tiền mặt hoặc ghi nội dung chuyển khoản sai lệch với bản chất giao dịch mua bán;
- Trường hợp NNT có hành vi cố tình thanh toán bằng tiền mặt, có các hành vi vi phạm khác để không xuất hoá đơn, che giấu doanh thu, kê khai thuế không trung thực ,…
Các hành vi nêu trên sẽ được coi là dấu hiệu nghi ngờ cho hành vi che giấu doanh thu để “né” thuế. Theo quy định hiện hành, trường hợp có đủ cơ sở để chứng minh cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp có hành vi trốn thuế thì tùy vào tính chất, mức độ vi phạm mà cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp có thể bị xử phạt hành chính theo Nghị định 125/2020/NĐ-CP hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Các hành vi trốn thuế theo Điều 143 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14
Điều 143. Hành vi trốn thuế
1. Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của Luật này.
2. Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp.
3. Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán.
4. Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế không phải nộp.
5. Sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm, số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế không phải nộp.
6. Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan.
7. Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
8. Cấu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa nhằm mục đích trốn thuế.
9. Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế.
10. Người nộp thuế có hoạt động kinh doanh trong thời gian ngừng, tạm ngừng hoạt động kinh doanh nhưng không thông báo với cơ quan quản lý thuế.
11. Người nộp thuế không bị xử phạt về hành vi trốn thuế mà bị xử phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 141 của Luật này đối với trường hợp sau đây:
a) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế, không nộp hồ sơ khai thuế, nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày nhưng không phát sinh số tiền thuế phải nộp;
b) Nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày có phát sinh số tiền thuế phải nộp và người nộp thuế đã nộp đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế hoặc trước thời điểm cơ quan thuế lập biên bản về hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế.
Trên đây là một số nội dung quan trọng rất mong Quý doanh nghiệp đặc biệt lưu tâm và thực hiện đúng quy định pháp luật của Nhà nước.
Trân trọng!