Luật sư Trần Thanh Diệp

Luật sư Trần Thanh Diệp Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Luật sư Trần Thanh Diệp, Criminal lawyer, TP Hanoi, Hanoi.

CHUYỆN NGHỀDạo gần đây công việc khá nhiều nên tôi cũng ít chia sẻ với mọi người về những vụ án mình đang tham gia. Cuối...
23/05/2026

CHUYỆN NGHỀ
Dạo gần đây công việc khá nhiều nên tôi cũng ít chia sẻ với mọi người về những vụ án mình đang tham gia. Cuối tuần ngồi xem lại hồ sơ, tôi muốn kể một câu chuyện mà sau buổi hoà giải vừa rồi, thật sự khiến tôi suy nghĩ rất nhiều.

Tôi đang bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho một nguyên đơn là người đã lớn tuổi. Năm 1993, ông nhận chuyển nhượng một thửa đất bằng giấy viết tay, có xác nhận của chính quyền địa phương thời điểm đó. Giá chuyển nhượng hai bên thoả thuận là 47 triệu đồng, bên bán xác nhận đã nhận 44,5 triệu đồng, còn lại 2,5 triệu sẽ thanh toán khi hoàn tất thủ tục sang tên. Sau khi mua bán, bên bán giao đất, gia đình nguyên đơn về ở ổn định từ đó đến nay. Hơn 30 năm qua, họ dựng nhà, trồng cây, sinh sống công khai trên mảnh đất ấy như bao gia đình khác, không tranh chấp với ai, cũng chưa từng nghĩ sẽ có ngày phải ra Toà để đòi lại quyền lợi cho chính mình.

Điều khiến tôi có nhiều cảm xúc nhất là tại buổi hoà giải vừa rồi, chính bị đơn đã thừa nhận việc mua bán đất năm 1993 là có thật. Thừa nhận đã nhận tiền, đã giao đất và cũng thừa nhận nguyên đơn đã nhiều lần tìm đến để yêu cầu hoàn tất thủ tục sang tên trong suốt nhiều năm qua. Nguyên đơn kể rằng vì nghĩ tình nghĩa cũ, vì không muốn kiện tụng nên ông vẫn kiên nhẫn chờ đợi. Đến năm 2023, ông cùng con trai và hai người hàng xóm tiếp tục mang sang 40 triệu đồng để thanh toán khoản 2,5 triệu còn lại theo giá trị quy đổi hiện tại. Phần tiền còn dư xem như chút tình cảm và thiện chí sau mấy chục năm qua lại với nhau. Bị đơn đã trực tiếp nhận số tiền này.

Ông cũng chia sẻ thêm hiện tuổi đã cao, sức khoẻ không còn như trước, điều ông mong mỏi nhất lúc này là hoàn tất được thủ tục sang tên để ổn định pháp lý cho tài sản, sau này còn thực hiện việc lập di chúc, phân chia rõ ràng cho con cháu, tránh phát sinh tranh chấp về sau. Một mong muốn rất bình thường của một người đã đi gần hết cuộc đời, nhưng lại phải chờ đợi suốt nhiều năm chỉ vì thủ tục chưa được phía bên kia hợp tác thực hiện.

Nhưng rồi sau khi nhận tiền, việc sang tên vẫn không được thực hiện. Tại buổi hoà giải, bị đơn tiếp tục yêu cầu nguyên đơn phải đưa thêm 300 triệu đồng nữa thì mới đồng ý ký giấy tờ. Ngồi nghe người đàn ông lớn tuổi ấy trình bày, tôi thật sự thấy chạnh lòng. Hơn 30 năm sử dụng ổn định một mảnh đất, cứ nghĩ mọi chuyện rồi sẽ được giải quyết bằng sự thiện chí và tình nghĩa, nhưng cuối cùng vẫn phải đi kiện để yêu cầu người khác thực hiện đúng điều họ đã cam kết từ rất lâu.

Có những vụ án, đọc hồ sơ thì chỉ thấy vài tờ giấy mua bán cũ và một tranh chấp dân sự thông thường. Nhưng khi trực tiếp nghe người dân kể lại hành trình của họ, mới hiểu phía sau đó là rất nhiều mệt mỏi, là sự nhẫn nhịn kéo dài suốt hàng chục năm và cả cảm giác bất lực khi quyền lợi chính đáng của mình không được tôn trọng.

Trước yêu cầu phía bị đơn tiếp tục đòi thêm 300 triệu đồng mới chịu sang tên, nguyên đơn không thể chấp nhận. Bởi lẽ, giao dịch đã được xác lập từ năm 1993, tiền đã nhận, đất đã giao và gia đình nguyên đơn đã sinh sống ổn định hơn ba thập kỷ. Đến hôm nay, việc tiếp tục đưa ra những yêu cầu vượt quá thoả thuận ban đầu không còn là câu chuyện tình cảm hay thiện chí nữa.

Vụ án sẽ được đưa ra xét xử vào ngày 19/6 tới đây. Sau buổi hoà giải, điều khiến tôi suy nghĩ nhiều nhất không chỉ là câu chuyện pháp lý, mà còn là câu chuyện về sự tử tế và cách con người đối xử với nhau trong những cam kết đã được xác lập từ rất lâu. Bởi suy cho cùng, đã nhận tiền, đã giao đất và đã để người khác sinh sống ổn định suốt hơn 30 năm thì điều tối thiểu cần có là sự tôn trọng lời hứa của chính mình.

Luật sư Diệp.





CHÍNH THỨC ÁP DỤNG TỪ HÔM NAY (15/05/2026): ĐIỂM MỚI QUAN TRỌNG VỀ DẠY THÊM NGOÀI TRƯỜNG GIÁO VIÊN CẦN BIẾT!Chào các bạn...
15/05/2026

CHÍNH THỨC ÁP DỤNG TỪ HÔM NAY (15/05/2026): ĐIỂM MỚI QUAN TRỌNG VỀ DẠY THÊM NGOÀI TRƯỜNG GIÁO VIÊN CẦN BIẾT!
Chào các bạn, hôm nay ngày 15/05/2026, Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức có hiệu lực. Văn bản này sửa đổi, bổ sung cho Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT – quy chế vốn đã quen thuộc với việc buộc các cơ sở dạy thêm phải lập Hộ kinh doanh và công khai học phí từ năm 2025. Dưới góc độ pháp lý, tôi xin khẳng định: Bộ Giáo dục không cấm dạy thêm chính đáng, nhưng cơ chế quản lý từ hôm nay sẽ chặt chẽ, minh bạch hơn hơn với một số điểm mới cần lưu ý như sau:

1. Nghĩa vụ báo cáo bắt buộc của Giáo viên công lập:Căn cứ theo nội dung sửa đổi tại Điều 3 Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT, giáo viên đang giảng dạy tại các cơ sở giáo dục công lập khi tham gia dạy thêm ngoài nhà trường thì ngoài việc báo cáo bằng văn bản với Hiệu trưởng trường mình đang công tác về môn học, địa điểm, hình thức, thì còn phải giải trình rõ mối quan hệ với chủ thể đứng tên đăng ký kinh doanh cơ sở dạy thêm. Đồng thời, thầy cô phải báo cáo cụ thể thời gian tham gia dạy thêm trước khi bắt đầu và cập nhật kịp thời khi có thay đổi đối với các nội dung đã báo cáo. Quy định này nhằm phòng ngừa tối đa tình trạng "xung đột lợi ích". Hiệu trưởng cần nắm được tổng thời gian dạy ngoài của giáo viên để đảm bảo thầy cô không bị quá tải, dẫn đến việc "cháy giáo án" trên lớp chính khóa nhưng lại dồn hết tâm huyết cho lớp dạy thêm.

2. Trách nhiệm thiết lập đường dây nóng của Sở GD&ĐT: Nhằm tăng tính thực thi cho các quy định trên, Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT đã bổ sung trách nhiệm của Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh/thành phố tại Điều 5 Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT. Theo đó, Sở GD&ĐT phải thiết lập và công khai niêm yết số điện thoại đường dây nóng trên Cổng thông tin điện tử của Sở Giáo dục và Đào tạo hoặc tại trụ sở cơ quan Sở Giáo dục và Đào tạo để tiếp nhận, xử lí các kiến nghị, phản ánh về hoạt động dạy thêm, học thêm trên địa bàn quản lí.

3. Quy định chi tiết hơn về vai trò của UBND cấp Xã: Trách nhiệm của UBND cấp xã được quy định chi tiết hơn tại Điều Điều 7 Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT, cụ thể: Chịu trách nhiệm quản lý, hướng dẫn và kiểm tra toàn bộ hoạt động dạy thêm, học thêm trên địa bàn; Thiết lập và niêm yết công khai số điện thoại đường dây nóng tại trụ sở hoặc Cổng thông tin điện tử để tiếp nhận, xử lý hoặc kiến nghị xử lý vi phạm; Theo dõi, kiểm tra và phối hợp giám sát các cơ sở dạy thêm ngoài nhà trường về: thời giờ làm việc, an ninh trật tự, an toàn vệ sinh môi trường và phòng chống cháy nổ theo đúng thẩm quyền.

4. Để các cơ sở dạy thêm không bị phạt "oan" trong các đợt thanh tra sắp tới, Luật sư xin nhắc lại các quy định nền tảng đã có hiệu lực từ năm 2025 và tiếp tục được thực thi nghiêm ngặt:
Thứ nhất: Mọi tổ chức, cá nhân dạy thêm ngoài trường có thu tiền đều phải vận hành dưới hình thức Hộ kinh doanh hoặc Doanh nghiệp.
Thứ hai: Phải công khai thường xuyên trên website hoặc niêm yết tại trụ sở về môn học, thời lượng, danh sách giáo viên và mức học phí trước khi tuyển sinh (theo đúng Mẫu số 02 tại Phụ lục kèm theo Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT).
Thứ ba: Giáo viên không được phép dạy thêm ngoài nhà trường có thu tiền đối với những học sinh mà mình đang được nhà trường phân công phụ trách giảng dạy trong kế hoạch giáo dục của năm học đó.

Từ những thay đổi quan trọng trên, tôi có một số lưu ý ngắn gọn như sau:
Đối với các Thầy/Cô giáo: Việc bổ trợ kiến thức ngoài giờ cho học sinh là nhu cầu chính đáng. Tuy nhiên, để bảo vệ uy tín và hồ sơ thi đua của mình, thầy cô hãy chủ động lập văn bản báo cáo gửi Hiệu trưởng ngay trong tuần này. Hãy nhớ kê khai thật minh bạch thông tin về môn dạy, lịch trình và đặc biệt là mối quan hệ với chủ cơ sở dạy thêm để tránh các rủi ro pháp lý không đáng có.

Đối với các Cơ sở dạy thêm: UBND cấp xã từ hôm nay sẽ siết chặt việc kiểm tra liên ngành tại địa bàn. Các chủ cơ sở cần rà soát lại ngay hồ sơ đăng ký kinh doanh, bảng niêm yết học phí theo Mẫu số 02, cũng như các điều kiện về an toàn phòng cháy chữa cháy và trật tự địa phương để đảm bảo trung tâm vận hành đúng luật.

Đối với các bậc Phụ huynh: Vai trò giám sát của quý vị hiện đã có địa chỉ tiếp nhận rõ ràng. Nếu phát hiện con em mình bị o ép học thêm hoặc trung tâm mập mờ về học phí, quý vị hãy mạnh dạn phản ánh qua số điện thoại đường dây nóng được niêm yết công khai tại UBND cấp xã hoặc Sở Giáo dục địa phương để được bảo mật và xử lý kịp thời.

Luật sư Diệp.

Nghị định 109/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 18/05: Tăng mạnh mức phạt vi phạm chế độ một vợ, một chồng lên đến 10 triệu đồng...
14/05/2026

Nghị định 109/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 18/05: Tăng mạnh mức phạt vi phạm chế độ một vợ, một chồng lên đến 10 triệu đồng

Chào các bạn, là một Luật sư đã đồng hành cùng khá nhiều cặp đôi trong các vụ án ly hôn, tôi thường nghe các chị vợ uất ức hỏi: "Thưa Luật sư, chồng tôi đi với bồ mang cả đống tiền nhà đi cho gái, sao luật pháp chỉ phạt có vài triệu đồng? Như vậy có quá nhẹ nhàng với họ không?".
Từ ngày 18/05/2026, Chính phủ chính thức áp dụng Nghị định 109/2026/NĐ-CP, nâng mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng lên tối đa 10.000.000 đồng thay vì 5.000.000 đồng như quy định tại Nghị định 82/2020/NĐ-CP trước đây. Nhiều người nói mức phạt này vẫn "chưa thấm vào đâu". Nhưng dưới góc độ của một người làm luật, tôi muốn các bạn hiểu đúng: 10 triệu đồng hành chính chỉ là phát súng mở màn cho một cái giá đắt hơn gấp trăm lần phía sau. Để tôi kể cho các bạn nghe một câu chuyện thực tế tại Tòa mà tôi từng trực tiếp bảo vệ quyền lợi cho khách hàng.

Cách đây không lâu, tôi nhận hồ sơ của chị H. Chồng chị là anh T, ngoại tình và ra ngoài thuê chung cư sống như vợ chồng với một cô gái trẻ. Khi bị phát hiện, anh T thách thức: "Giỏi thì đi báo công an, cùng lắm phạt vài triệu tôi nộp phạt, chứ cô không có quyền quản tôi!". anh T nghĩ có tiền là giải quyết được tất cả. Nhưng anh T đã phạm phải sai lầm và cái giá phải trả không nhỏ.
Theo hướng dẫn của tôi, chị H không đánh ghen, không làm ầm ĩ. Chị lẳng lặng phối hợp cùng cơ quan chức năng lập biên bản vi phạm hành chính, đồng thời thuê Thừa phát lại lập vi bằng toàn bộ tin nhắn, tài khoản ngân hàng anh T chu cấp cho nhân tình. và kết cục cuộc hôn nhân đó là:
Anh T và cô nhân tình bị xử phạt hành chính mức kịch khung 5.000.000 đồng theo quy định cũ tại Nghị định 82/2020/NĐ-CP. Anh T hí hửng nộp phạt vì nghĩ số tiền quá nhỏ.
Tuy nhiên, Tại phiên tòa ly hôn sau đó, quyết định xử phạt hành chính 5 triệu tưởng như "nhỏ nhặt" kia lại chính là chứng cứ pháp lý đanh thép chứng minh anh T "vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng", lối sống không lành mạnh, không đủ tư cách đạo đức để nuôi dạy con cái. Chị H toàn quyền nhận nuôi 2 đứa trẻ. Đồng thời dù nguyên tắc tài sản chung vợ chồng là chia đôi, nhưng Luật Hôn nhân và Gia đình quy định rất rõ: Tòa án sẽ xét đến "yếu tố lỗi của mỗi bên trong việc vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng". Với vết nhơ hành chính và chứng cứ chu cấp cho bồ, Hội đồng xét xử đã phán quyết chị H hưởng 70% khối tài sản chung bao gồm cả căn nhà chung cư. anh T ngậm ngùi ra đi với phần tài sản ít ỏi còn lại.

Vụ án của anh T xảy ra khi mức phạt tiền cũ còn áp dụng. Còn hiện tại, chỉ còn vài ngày nữa – chính xác là từ ngày 18/05/2026, khi Nghị định 109/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, mức phạt hành chính cho hành vi này sẽ tăng gấp đôi, lên đến 10.000.000 đồng. Nếu ai đó còn giữ tư duy chủ quan "nộp vài triệu là xong" như anh T, thì hãy tỉnh ngộ trước khi quá muộn. Tờ biên bản phạt tiền 10 triệu của Nghị định mới không chỉ đau hơn về mặt kinh tế, mà nó sẽ là "chiếc vé thông hành" đưa người vi phạm vào vòng lao lý nhanh hơn. Bởi vì theo Điều 182 Bộ luật Hình sự, cấu thành của Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng yêu cầu người vi phạm "Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm".

Nói cách khác: Lần thứ nhất ngoại tình bị lập biên bản: Phạt tiền 10 triệu đồng. Lần thứ hai tiếp tục tái diễn hoặc không chấm dứt: Truy cứu trách nhiệm hình sự, đối diện với án tù từ 1 đến 3 năm. Luật pháp sinh ra không chỉ để phạt tiền, luật pháp sinh ra để định tội và bảo vệ người yếu thế. Mức phạt 10 triệu đồng của năm 2026 không phải là cái giá mua lại sự chung thủy, nó là lời cảnh báo nghiêm khắc của Nhà nước trước hành vi vi phạm này.
Do đó, tôi khuyên thật các chị em nếu chẳng may rơi vào hoàn cảnh của chị H, thay vì khóc lóc gào thét hay đi đánh ghen để rồi tự biến mình từ "nạn nhân" thành "tội phạm", các chị hãy nhớ:
Thứ nhất: Không nhắn tin chửi bới, không đe dọa. Giữ nguyên hiện trạng các tài khoản mạng xã hội của đối phương.
Thứ hai: Thu thập chứng cứ hợp pháp, nhờ Thừa phát lại lập vi bằng tin nhắn, hình ảnh. Nếu phát hiện họ ở chung, hãy báo công an địa phương kiểm tra hành chính để có biên bản xử phạt theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP.
hãy biến những nỗi đau tinh thần thành vũ khí pháp lý sắc bén nhất, bảo vệ trọn vẹn quyền nuôi con và phần tài sản mà bạn xứng đáng được nhận.

Luật sư Diệp.

NGHỊ ĐỊNH 147/2026/NĐ-CP: “GỠ NÚT THẮT” CHO HÀNG LOẠT DỰ ÁN TỒN ĐỌNG, NHƯNG CŨNG ĐẶT RA BÀI TOÁN PHÁP LÝ MỚI VỀ GIÁ ĐẤTS...
10/05/2026

NGHỊ ĐỊNH 147/2026/NĐ-CP: “GỠ NÚT THẮT” CHO HÀNG LOẠT DỰ ÁN TỒN ĐỌNG, NHƯNG CŨNG ĐẶT RA BÀI TOÁN PHÁP LÝ MỚI VỀ GIÁ ĐẤT

Sau nhiều năm hàng loạt dự án bất động sản bị “treo”, đình trệ hoặc mắc kẹt trong vòng xoáy thanh tra – điều chỉnh quy hoạch – xác định nghĩa vụ tài chính, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định 147/2026/NĐ-CP để hướng dẫn thực hiện Nghị quyết 29/2026/QH16 về cơ chế đặc thù tháo gỡ các dự án tồn đọng kéo dài. Đây được xem là một trong những động thái pháp lý quan trọng nhất của giai đoạn hậu Luật Đất đai 2024, bởi lần đầu tiên Nhà nước chấp nhận cơ chế vừa xử lý sai phạm, vừa tháo gỡ để dự án tiếp tục vận hành thay vì “đóng băng” vô thời hạn.

Một trong những nội dung đáng chú ý nhất của Nghị định 147 là hướng dẫn cách xác định giá đất và nghĩa vụ tài chính đối với các dự án được điều chỉnh mục đích sử dụng đất sang đất ở theo Điều 11 Nghị quyết 29/2026/QH16.

Vì sao vấn đề này từng là “điểm nghẽn” lớn nhất của nhiều dự án?

Trong thực tế nhiều năm qua, không ít dự án rơi vào tình trạng được giao đất với mục đích thương mại, dịch vụ hoặc đất sản xuất; sau đó được điều chỉnh quy hoạch sang đất ở; hoặc được cấp giấy chứng nhận, xác định thời hạn sử dụng đất không đúng quy định. Khi cơ quan thanh tra, kiểm toán hoặc điều tra vào cuộc, vấn đề lớn nhất thường phát sinh là phải xác định lại giá đất và tính lại nghĩa vụ tài chính như thế nào? Nếu áp dụng theo giá đất hiện tại, doanh nghiệp có thể phải nộp bổ sung số tiền cực lớn, khiến dự án gần như không còn khả năng tiếp tục. Ngược lại, nếu “hợp thức hóa” toàn bộ theo mức cũ thì nguy cơ thất thoát ngân sách nhà nước lại rất lớn.

Chính sự giằng co này khiến nhiều dự án không thể cấp sổ cho người dân; không thể tiếp tục triển khai; ngân hàng không giải ngân;nhà đầu tư không dám tham gia còn người mua nhà thì bị mắc kẹt quyền lợi suốt nhiều năm.

Vậy, Nghị định 147 đang giải quyết theo hướng nào?
Theo Điều 5 Nghị định 147/2026/NĐ-CP, thời điểm xác định giá đất và nghĩa vụ tài chính sẽ được tính tại thời điểm UBND cấp tỉnh ban hành quyết định cho phép điều chỉnh mục đích sử dụng đất hoặc quyết định cho phép điều chỉnh mục đích sử dụng đất và thời hạn sử dụng đất trong giấy chứng nhận không đúng quy định. Điểm đáng chú ý là Nghị định đưa ra công thức xác định phần tiền phải nộp bổ sung: TBS = T1 – T2
Trong đó:
T1 là tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm điều chỉnh;
T2 là tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất theo mục đích sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điển Nhà nước đieuf chỉnh GCN được cấp.

Nói cách khác, Nhà nước không “xóa sai phạm”, nhưng cũng không tính lại toàn bộ từ đầu theo hướng triệt tiêu khả năng tồn tại của dự án. Đây là điểm thể hiện khá rõ tinh thần của Nghị quyết 29/2026/QH16 tháo gỡ để đưa đất đai vào sử dụng hiệu quả, nhưng không hợp pháp hóa sai phạm và vẫn phải bảo đảm nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.

Một điểm rất đáng chú ý: Không hoàn trả phần chênh lệch đã nộp dư
Nghị định 147 cũng quy định rõ nếu số tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất mà doanh nghiệp đã nộp trước đây lớn hơn số phải nộp theo cách tính mới thì Nhà nước không hoàn trả phần chênh lệch. Đây là quy định sẽ tạo ra khá nhiều tranh luận trong thời gian tới. Bởi trên thực tế, có những doanh nghiệp từng chấp nhận nộp tiền rất cao để dự án được tiếp tục triển khai, trong khi nay cơ chế tính mới lại có thể dẫn đến mức nghĩa vụ tài chính thấp hơn.

Tuy nhiên, Nhà nước lựa chọn hướng không truy thu toàn bộ theo cách cực đoan nhưng cũng không hoàn tiền phần đã nộp vượt. Có thể hiểu đây là giải pháp mang tính “dung hòa lợi ích” nhằm tránh phát sinh thêm gánh nặng ngân sách và hạn chế khiếu kiện ngược.

Điều đáng quan tâm nhất: Chính sách này không áp dụng đại trà cho mọi sai phạm
Nhiều người hiện đang hiểu nhầm rằng Nghị quyết 29 và Nghị định 147 là cơ chế “hợp thức hóa sai phạm đất đai”. Thực tế không phải vậy. Nghị quyết 29 chỉ áp dụng cho các dự án, công trình tồn đọng kéo dài; vi phạm xảy ra trước ngày 01/08/2024; phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và không có yếu tố tham nhũng, trục lợi. Đặc biệt, cơ chế này chủ yếu áp dụng cho dự án, công trình quy mô lớn, không áp dụng cho các trường hợp nhà ở riêng lẻ hay vi phạm xây dựng thông thường của người dân
Nói cách khác đây là cơ chế “cứu dự án”, không phải “miễn trách nhiệm” cho mọi vi phạm đất đai. Các tổ chức, cá nhân vi phạm vẫn có thể bị: xử lý kỷ luật; xử lý hành chính; thậm chí xử lý hình sự nếu có dấu hiệu tham nhũng, cố ý làm trái hoặc thất thoát tài sản nhà nước.

Đây là bước chuyển từ tư duy “đóng băng sai phạm” sang “xử lý để phát triển” Trong nhiều năm, thực tế cho thấy không ít dự án dù có sai phạm nhưng đã xây dựng dang dở; có người dân sinh sống; có ngân hàng cho vay; có nhà đầu tư thứ cấp tham gia; thậm chí đã hình thành cả khu dân cư. Nếu tiếp tục để các dự án này “treo” vô thời hạn, hệ quả không chỉ là thất thoát nguồn lực đất đai mà còn kéo theo tranh chấp dân sự; nợ xấu ngân hàng; khiếu kiện tập thể; và mất niềm tin của thị trường.

Vì vậy, Nghị quyết 29 và Nghị định 147 cho thấy Nhà nước đang chuyển sang hướng tiếp cận thực tế hơn: sai phạm vẫn phải xử lý, nhưng dự án đủ điều kiện thì cần được tháo gỡ để tiếp tục vận hành. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất sắp tới sẽ nằm ở khâu thực thi. Bởi nếu mỗi địa phương hiểu khác nhau; mỗi cơ quan xác định giá đất khác nhau; hoặc kéo dài việc thẩm định nghĩa vụ tài chính thì chính sách “tháo gỡ” có thể lại tiếp tục biến thành một vòng thủ tục mới khiến dự án tiếp tục đình trệ thêm nhiều năm nữa.

Luật sư Diệp.





QUYẾT ĐỊNH 1037/QĐ-BTC: NGƯỜI DÂN CÓ THỂ ĐƯỢC TÍNH LẠI, HOÀN TRẢ TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐÃ NỘP THỪAThời gian vừa qua, rất nhiề...
09/05/2026

QUYẾT ĐỊNH 1037/QĐ-BTC: NGƯỜI DÂN CÓ THỂ ĐƯỢC TÍNH LẠI, HOÀN TRẢ TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐÃ NỘP THỪA

Thời gian vừa qua, rất nhiều người dân phản ánh tình trạng tiền sử dụng đất tăng mạnh sau khi Luật Đất đai 2024 có hiệu lực, đặc biệt ở các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp, đất vườn sang đất ở trong giai đoạn từ ngày 01/08/2024 đến hết năm 2025.

Có những hộ dân trước đây dự tính chỉ phải nộp vài chục hoặc vài trăm triệu đồng, nhưng khi nhận thông báo nghĩa vụ tài chính thì con số tăng lên gấp nhiều lần do cách xác định giá đất chuyển tiếp tại địa phương. Không ít hồ sơ phải tạm dừng vì người dân không còn khả năng tài chính để tiếp tục thực hiện thủ tục.

Trong bối cảnh đó, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định 1037/QĐ-BTC công bố thủ tục “tính hoặc tính lại tiền sử dụng đất” theo Nghị định 50/2026/NĐ-CP. Đây được xem là một cơ chế tháo gỡ rất đáng chú ý, bởi lần đầu tiên người dân có cơ hội yêu cầu cơ quan nhà nước tính lại tiền sử dụng đất; điều chỉnh nghĩa vụ tài chính, thậm chí hoàn trả phần tiền đã nộp dư nếu có chênh lệch.

Điểm đáng chú ý là thủ tục lần này được thiết kế theo hướng rất đơn giản. Người dân không còn phải chuẩn bị quá nhiều hồ sơ như trước. Theo quy định công bố kèm Quyết định 1037, hồ sơ cơ bản chỉ cần một văn bản đề nghị tính hoặc tính lại tiền sử dụng đất. Sau khi tiếp nhận:
- UBND cấp xã sẽ xác định hạn mức đất;
- cơ quan thuế sẽ thực hiện việc tính toán lại nghĩa vụ tài chính;
- trường hợp phát sinh chênh lệch thì cơ quan có thẩm quyền sẽ xử lý theo hướng điều chỉnh hoặc hoàn trả theo quy định.
Người dân hiện có thể thực hiện theo các bước cơ bản sau:

Bước 1: Rà soát hồ sơ của mình có thuộc diện được xem xét hay không. Thông thường sẽ là các trường hợp: chuyển mục đích sử dụng đất; cấp giấy chứng nhận; phát sinh tiền sử dụng đất trong giai đoạn từ 01/08/2024 đến trước 01/01/2026.

Bước 2: Chuẩn bị văn bản đề nghị tính hoặc tính lại tiền sử dụng đất. Đây là tài liệu quan trọng nhất trong hồ sơ.

Bước 3: Nộp hồ sơ tại cơ quan tiếp nhận hoặc thông qua Cổng dịch vụ công trực tuyến nếu địa phương đã triển khai.

Bước 4: Theo dõi quá trình xử lý của cơ quan thuế và cơ quan địa phương để nhận thông báo điều chỉnh nghĩa vụ tài chính hoặc hoàn trả tiền chênh lệch (nếu có).

Dưới góc nhìn thực tiễn, người dân cần đặc biệt lưu ý một số vấn đề quan trọng.
Thứ nhất, đây là thủ tục theo yêu cầu. Cơ quan nhà nước không tự động rà soát và hoàn tiền cho tất cả trường hợp. Nếu người dân không chủ động nộp đề nghị thì hồ sơ có thể vẫn giữ nguyên theo thông báo cũ.
Thứ hai, cần lưu ý mốc thời gian áp dụng. Không phải mọi trường hợp đều được tính lại, mà chủ yếu áp dụng đối với các hồ sơ phát sinh trong giai đoạn chuyển tiếp của Luật Đất đai mới (từ ngày 01 tháng 8 năm 2024 đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2026 theo quy định tại khoản 10 Điều 4 Nghị quyết số 254/2025/QH15).
Thứ ba, nên ưu tiên nộp hồ sơ trực tuyến hoặc lưu lại đầy đủ giấy tiếp nhận, biên nhận hồ sơ để tránh phát sinh tranh chấp về thời điểm nộp đơn hoặc thời hạn giải quyết.
Cuối cùng, người dân cũng cần hiểu rằng Quyết định 1037/QĐ-BTC không có nghĩa là “xóa tiền sử dụng đất” hay ai cũng được giảm nghĩa vụ tài chính. Bản chất của cơ chế này là tạo điều kiện để rà soát lại các trường hợp phát sinh nghĩa vụ tài chính chưa phù hợp trong giai đoạn chuyển tiếp của Luật Đất đai 2024.

Đây là một động thái tích cực nhằm tháo gỡ áp lực tài chính cho người dân, đồng thời hạn chế tình trạng hồ sơ đất đai bị tồn đọng kéo dài như thời gian vừa qua.

Luật sư Diệp.





NGHỊ ĐỊNH 131/2026: SỬ DỤNG KINH PHÍ TỪ QUỸ BẢO TRỢ TRẺ EM CHO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN LÀ BỊ HẠI Những ngày gần đây, dư lu...
08/05/2026

NGHỊ ĐỊNH 131/2026: SỬ DỤNG KINH PHÍ TỪ QUỸ BẢO TRỢ TRẺ EM CHO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN LÀ BỊ HẠI

Những ngày gần đây, dư luận liên tục chứng kiến các vụ việc đau lòng liên quan đến trẻ em: từ bạo hành trẻ tại gia đình, cơ sở giữ trẻ, đến các vụ bạo lực học đường gây thương tích nghiêm trọng, thậm chí ảnh hưởng lâu dài đến tâm lý và sức khỏe của nạn nhân.
Điểm chung của nhiều vụ việc là: sau khi sự việc xảy ra, câu hỏi cấp bách nhất thường không phải “xử lý người gây ra hành vi như thế nào”, mà là “lấy đâu ra tiền để cứu chữa cho đứa trẻ ngay lúc này?”

Trong thực tiễn tố tụng, không hiếm trường hợp trẻ phải nhập viện cấp cứu nhưng gia đình không đủ khả năng tạm ứng viện phí; trong khi người gây thiệt hại thì bỏ trốn, không có khả năng bồi thường hoặc vụ án còn đang trong quá trình điều tra. Có những trường hợp, việc điều trị bị chậm trễ chỉ vì thiếu tiền trong “giờ vàng” cấp cứu.

Chính trong bối cảnh đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 131/2026/NĐ-CP ngày 6/4/2026 (có hiệu lực từ ngày 25/5/2026) quy định chi tiết khoản 3 Điều 160 Luật Tư pháp người chưa thành niên về việc sử dụng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em cho người chưa thành niên là bị hại. Đây có thể xem là một bước tiến rất đáng chú ý trong cơ chế bảo vệ trẻ em bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe do hành vi phạm tội gây ra, với cách tiếp cận rõ ràng: ưu tiên cứu chữa trẻ em trước, xử lý trách nhiệm tài chính sau.

Theo Nghị định, kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em chỉ được sử dụng đối với người chưa thành niên là bị hại bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe cần phải cứu chữa kịp thời nhưng người bồi thường chưa thể thực hiện nghĩa vụ ngay. Các trường hợp này bao gồm người có trách nhiệm bồi thường thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, không có khả năng tài chính, bỏ trốn, đã chết hoặc chưa xác định được. Điểm đáng chú ý là cơ chế này không mang bản chất “miễn trách nhiệm” cho người gây thiệt hại, mà là cơ chế Nhà nước và hệ thống bảo trợ trẻ em đứng ra hỗ trợ khẩn cấp để bảo đảm trẻ được cấp cứu, điều trị trong giai đoạn nguy cấp nhất.

Về mức hỗ trợ, Điều 5 Nghị định 131/2026/NĐ-CP quy định kinh phí hỗ trợ được xác định theo chi phí khám bệnh, chữa bệnh thực tế trong giai đoạn cấp cứu, không bao gồm chi phí theo yêu cầu và phần đã được bảo hiểm y tế chi trả (nếu có), nhưng tối đa không quá 100 lần mức lương cơ sở cho mỗi trường hợp. Với mức lương cơ sở hiện nay, số tiền hỗ trợ có thể lên tới khoảng hơn 230 triệu đồng.

Nghị định cũng thiết kế thủ tục theo hướng rút gọn để bảo đảm tính kịp thời.Theo quy định, người đại diện của người chưa thành niên là bị hại sẽ lập Giấy đề nghị hỗ trợ gửi đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi trẻ đang điều trị. Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận đề nghị, cơ sở y tế có trách nhiệm xác nhận tình trạng cấp cứu và gửi hồ sơ đến cơ quan công an đang thụ lý vụ việc để xác nhận.
Hồ sơ đề nghị tạm ứng kinh phí cơ bản gồm:
Giấy đề nghị hỗ trợ;
Văn bản xác nhận của UBND cấp xã hoặc cơ quan công an tùy từng trường hợp;
Giấy đề nghị tạm ứng chi phí khám chữa bệnh;
Các tài liệu liên quan đến việc điều trị cấp cứu của nạn nhân.

Một điểm rất quan trọng là Nghị định xác định rõ: các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải thực hiện cấp cứu theo đúng quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh ngay cả khi chưa có tạm ứng từ Quỹ Bảo trợ trẻ em. Điều này có ý nghĩa đặc biệt trong thực tiễn vì “giờ vàng” cấp cứu thường quyết định trực tiếp đến khả năng sống còn hoặc phục hồi của trẻ. Sau khi người chưa thành niên hết tình trạng cấp cứu. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, cơ sở khám chữa bệnh sẽ gửi hồ sơ thanh toán và bảng kê chi phí điều trị đến Quỹ Bảo trợ trẻ em để thực hiện việc thanh toán theo quy định.

Quy định này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh nhiều vụ bạo hành trẻ em, bạo lực học đường thời gian qua cho thấy hậu quả có thể trở nên nghiêm trọng hơn chỉ vì việc cấp cứu hoặc chuyển viện bị chậm trễ.
Ở chiều ngược lại, việc Quỹ Bảo trợ trẻ em hỗ trợ chi phí trước không đồng nghĩa với việc người gây thiệt hại được miễn trách nhiệm. Khi có đủ điều kiện thi hành, người có nghĩa vụ bồi thường vẫn phải hoàn trả lại khoản kinh phí mà Quỹ hoặc ngân sách nhà nước đã chi trả thay theo quy định pháp luật. Đây là điểm giúp chính sách vừa bảo đảm tính nhân văn, vừa giữ được nguyên tắc trách nhiệm dân sự và công bằng trong xử lý hậu quả vụ án.

Nếu nhìn rộng hơn, Nghị định 131/2026 không đơn thuần là một cơ chế hỗ trợ tài chính. Đây là bước chuyển đáng chú ý trong tư duy bảo vệ trẻ em trong hoạt động tư pháp: thay vì để nạn nhân tự xoay xở rồi mới giải quyết trách nhiệm sau tố tụng, Nhà nước chủ động tạo một “lưới an sinh khẩn cấp” để can thiệp ngay trong thời điểm trẻ cần được cứu chữa nhất. Trong bối cảnh các vụ xâm hại, bạo hành trẻ em và bạo lực học đường đang ngày càng gây nhiều lo ngại trong xã hội, việc bổ sung một “lá chắn tài chính” để bảo đảm trẻ được cứu chữa ngay lập tức là điều cần thiết.

Bởi trong rất nhiều vụ việc, đôi khi điều quyết định không nằm ở bản án tuyên sau cùng, mà nằm ở việc đứa trẻ đó có được cứu chữa kịp thời trong những giờ đầu tiên hay không???

Luật sư Diệp.






LIÊN ĐOÀN LUẬT SƯ VIỆT NAM CÓ VĂN BẢN KIẾN NGHỊ ĐỂ NGHỊ TẠM DỪNG QUY ĐỊNH TẠI NGHỊ ĐỊNH 109/2026/NĐ-CP LIÊN QUAN ĐẾN THẨ...
08/05/2026

LIÊN ĐOÀN LUẬT SƯ VIỆT NAM CÓ VĂN BẢN KIẾN NGHỊ ĐỂ NGHỊ TẠM DỪNG QUY ĐỊNH TẠI NGHỊ ĐỊNH 109/2026/NĐ-CP LIÊN QUAN ĐẾN THẨM QUYỀN CỦA CHỦ TỊCH UBND CẤP XÃ TRONG VIỆC XỬ PHẠT VÀ TƯỚC CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ

Đề nghị của Liên đoàn Luật sư Việt Nam (LĐLSVN) tại Văn bản 197/LĐLSVN-BTV về việc tạm dừng quy định tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP liên quan đến thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp xã trong việc xử phạt và tước Chứng chỉ hành nghề luật sư đang đặt ra những vấn đề pháp lý mang tính nguyên tắc trong hệ thống pháp luật.
Dưới góc độ pháp lý, đây không chỉ là một kiến nghị mang tính bảo vệ quyền lợi nghề nghiệp của luật sư, mà còn là vấn đề liên quan trực tiếp đến tính thống nhất của hệ thống pháp luật, thứ bậc hiệu lực văn bản và thiết kế thẩm quyền trong quản lý nhà nước.

Trước hết, kiến nghị của LĐLSVN có nền tảng pháp lý khá vững. Theo Điều 83 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012), Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về luật sư, đồng thời thẩm quyền cấp và thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư thuộc Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Trong khi đó, theo nguyên tắc tại Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, văn bản dưới luật không được phép quy định trái hoặc làm thay đổi nội dung, thẩm quyền đã được luật định.
Từ đó có thể thấy, việc Nghị định 109/2026/NĐ-CP trao quyền “tước Chứng chỉ hành nghề luật sư” cho Chủ tịch UBND cấp xã là dấu hiệu không phù hợp với thiết kế thẩm quyền trong Luật Luật sư, đồng thời có nguy cơ vi phạm nguyên tắc thứ bậc hiệu lực pháp luật.
Bên cạnh đó, còn tồn tại sự thiếu tương thích giữa chế tài hành chính và cơ chế quản lý nghề nghiệp luật sư. Theo Điều 18 Luật Luật sư và Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam, việc bị tước Chứng chỉ hành nghề đồng nghĩa với việc chấm dứt tư cách luật sư và bị xóa tên khỏi Đoàn Luật sư. Như vậy, một quyết định hành chính từ cấp xã có thể dẫn đến hệ quả rất nghiêm trọng về nghề nghiệp, vượt xa tính chất của một quyết định xử phạt hành chính thông thường. Điều này làm phát sinh sự không đồng bộ giữa cơ chế xử phạt hành chính bên ngoài và cơ chế tự quản nghề nghiệp bên trong của tổ chức luật sư.
Một vấn đề quan trọng khác là nguyên tắc độc lập hành nghề luật sư. Theo Điều 3 và Điều 5 Luật Luật sư, luật sư hành nghề độc lập, chỉ tuân theo pháp luật và đạo đức nghề nghiệp. Tuy nhiên, trong thực tiễn, UBND cấp xã lại thường là chủ thể bị khiếu kiện trong các vụ việc hành chính, đất đai. Nếu chính chủ thể này có quyền tước Chứng chỉ hành nghề của luật sư đang tham gia bảo vệ quyền lợi cho người dân trong các vụ việc liên quan, thì nguy cơ xung đột lợi ích là rất rõ ràng, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến tính độc lập nghề nghiệp và quyền tiếp cận công lý.
Ngoài ra, xét theo Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung 2020), việc xử phạt phải bảo đảm tính tương xứng giữa hành vi vi phạm và hình thức xử phạt. Trong khi đó, việc áp dụng hình thức tước Chứng chỉ hành nghề – một chế tài nghiêm khắc nhất – cho các hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt cấp xã là chưa thật sự tương xứng, dễ dẫn đến mất cân đối trong thiết kế chế tài hành chính.

Ở chiều ngược lại, cũng cần thấy rằng lập luận của LĐLSVN có thể được hoàn thiện hơn nếu làm rõ thêm sự mâu thuẫn về giới hạn thẩm quyền xử phạt của cấp xã, cũng như đề xuất cụ thể hơn về phương án thay thế, ví dụ như giao thẩm quyền này cho cấp tỉnh hoặc Bộ Tư pháp, có sự tham gia ý kiến của tổ chức nghề nghiệp. Đồng thời, cơ chế bảo vệ và bồi thường khi có quyết định sai cũng là một khía cạnh cần được nhấn mạnh để đảm bảo tính an toàn pháp lý.

Nhìn rộng hơn, vấn đề không chỉ nằm ở việc phân quyền cho cấp nào, mà nằm ở cách nhìn nhận vị trí của luật sư trong hệ thống pháp luật. Luật sư không phải là đối tượng quản lý hành chính thông thường, mà là một thiết chế bổ trợ tư pháp, có vai trò bảo vệ quyền con người, quyền công dân và bảo đảm tính công bằng trong tranh tụng. Vì vậy, các quyết định liên quan đến việc chấm dứt hay hạn chế quyền hành nghề của luật sư cần được đặt trong một quy trình thận trọng, có sự kiểm soát chặt chẽ và phù hợp với tính chất đặc thù của nghề nghiệp này.

Tóm lại, kiến nghị của LĐLSVN là có cơ sở pháp lý và xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Vấn đề cốt lõi đặt ra là cần thiết kế lại cơ chế xử lý vi phạm đối với luật sư theo hướng bảo đảm đúng thẩm quyền, đúng cấp độ quản lý và phù hợp với vị trí đặc thù của nghề luật sư trong Nhà nước pháp quyền.

Luật sư Diệp.


Address

TP Hanoi
Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật sư Trần Thanh Diệp posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share