M&T LAW FIRM

M&T LAW FIRM LUẬT M&T HỖ TRỢ DỊCH VỤ PHÁP LÝ - CHIA SẺ VÀ CUNG CẤP TÀI LIỆU MIỄN PHÍ CHO NGƯỜI HÀNH NGHỀ LUẬT

Luật M&T hỗ trợ khách hàng xử lý vướng mắc hồ sơ cấp sổ lần đầu🔥🔥🔥 **o    **o  **o
27/02/2025

Luật M&T hỗ trợ khách hàng xử lý vướng mắc hồ sơ cấp sổ lần đầu🔥🔥🔥
**o **o **o

💼Công tác xử lý hso chuyển mục đích và cấp lại sổ cho khách hàng tại 02 quận, huyện Long Biên và Khoái Châu🔥🔥 **o  **o  ...
24/02/2025

💼Công tác xử lý hso chuyển mục đích và cấp lại sổ cho khách hàng tại 02 quận, huyện Long Biên và Khoái Châu🔥🔥
**o **o **o **o

Buổi sáng mưa lạnh, gió rét nhưng luật sư vẫn hết mình với công việc🧰🧰Xử lý hồ sơ cho anh khách tại quận Bắc Từ Liêm , H...
19/02/2025

Buổi sáng mưa lạnh, gió rét nhưng luật sư vẫn hết mình với công việc🧰🧰
Xử lý hồ sơ cho anh khách tại quận Bắc Từ Liêm , Hà Nội….
**o **o **o

Luật sư đi xử lý hồ sơ đất đai cho khách hàng tại Sóc Sơn, Hà Nội **o      **o
14/02/2025

Luật sư đi xử lý hồ sơ đất đai cho khách hàng tại Sóc Sơn, Hà Nội
**o **o

Hoàn thành hồ sơ thừa kế sang tên cho khách hàng tại Thanh Xuân, Hà nội….Cảm ơn khách hàng đã tin tưởng sự dụng dvu của ...
13/02/2025

Hoàn thành hồ sơ thừa kế sang tên cho khách hàng tại Thanh Xuân, Hà nội….
Cảm ơn khách hàng đã tin tưởng sự dụng dvu của M&T LAW FIRM😅😅
**o
**o

Vụ người đàn ông Quảng Nam cưới cùng lúc 2 cô gái vì có bầu, luật sư nói gì? -----------Câu chuyện người đàn ông Quảng N...
12/02/2025

Vụ người đàn ông Quảng Nam cưới cùng lúc 2 cô gái vì có bầu, luật sư nói gì?
-----------

Câu chuyện người đàn ông Quảng Nam cưới hai vợ vì đều có bầu cùng lúc đang đặt ra những vấn đề pháp lý liên quan đến Luật Hôn nhân và gia đình. Luật sư nói gì?
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, luật sư Thảo Nguyên, Công ty Luật FDVN (Đoàn luật sư TP Đà Nẵng), cho rằng dù không phạm luật nhưng vẫn có những lấn cấn nhất định về phạm trù ứng xử, đạo đức.

Đính hôn cùng lúc 2 người nhưng chưa kết hôn thì có phạm luật?
Theo luật sư Thảo Nguyên, hiện nay theo quy định tại khoản 5, điều 3 và các quy định khoản 2, điều 5 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì đính hôn chưa được xem là kết hôn.

Hoạt động này chưa phải là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.

Luật sư Nguyên cho rằng hành vi của anh N. và hai người phụ nữ đính hôn với anh, có hoạt động chung sống với nhau không được xem là các hành vi bị cấm theo quy định pháp luật.

“Trong nhiều mối quan hệ xã hội, nhiều hành vi có tác động tiêu cực và gây ra những bức xúc nhưng pháp luật lại chưa điều chỉnh. Khi đó, phạm trù đạo đức sẽ được xét đến.

Có nhiều vấn đề về luật thì không cấm nhưng người Việt chúng ta có những chuẩn mực đạo đức, cách thức ứng xử nhất định. Đây là điều cần thiết để định hình giá trị mỗi cá nhân” – luật sư Thảo Nguyên nêu quan điểm.

Cũng theo luật sư Nguyên, ở phương diện cha mẹ và con cái thì luật ghi nhận quyền và nghĩa vụ của cha mẹ với con (đứa trẻ được sinh ra khi chưa đăng ký kết hôn) mà không dựa trên kết quả của hôn nhân được đăng ký.

Tại khoản 2, điều 68 Luật Hôn nhân và gia đình nêu con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ – đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha mẹ của mình.

Do đó, việc chăm sóc, nuôi dưỡng con của người làm cha, làm mẹ được thực hiện theo các quy định của pháp luật về dân sự và hôn nhân gia đình.

Dùng mạng xã hội để “đòi công lý”, coi chừng phạm luật
Trong vụ việc của người đàn ông Quảng Nam lấy cùng lúc hai người phụ nữ vì có bầu, luật sư Thảo Nguyên cho rằng đang có những dấu hiệu lạm dụng mạng xã hội.

Không chỉ người trong cuộc, việc thông tin, hình ảnh đời tư từng người được chia sẻ, phát tán với tốc độ chóng mặt đang tạo ra một môi trường rất xấu trong việc dùng mạng xã hội.

“Hiện nay có thực tế là một số mâu thuẫn, vướng mắc trong đời sống chưa được giải quyết thỏa đáng thì một số người muốn nương nhờ đến sự phán xét của mạng xã hội. Họ mượn mạng xã hội làm nơi phán xử hoặc đòi công lý với sự tương tác ảo từ số đông cộng đồng mạng.

Tuy nhiên, quyền nhân thân đối với hình ảnh cá nhân của từng cá nhân được pháp luật bảo vệ, có quy định rõ ràng. Do vậy việc chia sẻ, bày tỏ quan điểm dựa trên các thông tin cá nhân của người khác cần cẩn trọng và ứng xử phù hợp” – nữ luật sư phân tích.

Viện dẫn điều 32 Bộ luật Dân sự 2025, luật sư Thảo Nguyên cho biết cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.

Do đó nếu sử dụng thông tin, hình ảnh cá nhân của người khác khi chưa được sự đồng ý có thể bị coi là hành vi không phù hợp quy định pháp luật và có thể bị xử lý vi phạm hành chính.

“Mỗi hành vi, hoạt động của các cá nhân có tính riêng tư nhưng khi lựa chọn cách thức chia sẻ, ứng xử với mạng xã hội cần những lựa chọn phù hợp với các chuẩn mực về cả đạo đức và pháp luật để tránh những hệ lụy tiêu cực” – luật sư Thảo Nguyên nói.

Mạng xã hội đang đi quá đà
Theo luật sư Thanh Trà, Đoàn luật sư TP Đà Nẵng, việc phơi bày, bới móc thông tin đời tư (như trong câu chuyện cộng đồng mạng phát tán loạt ảnh, thông tin gia đình anh N., chị D., chị L. ở Quảng Nam) là hành vi phạm luật rõ ràng, sẽ bị xử lý.

Nghị định 52/2013/NĐ-CP giải thích thông tin cá nhân là các thông tin gồm: tên, tuổi, địa chỉ nhà riêng, số điện thoại, thông tin y tế, số tài khoản, thông tin về các giao dịch thanh toán cá nhân và những thông tin khác mà cá nhân mong muốn giữ bí mật.

Việc sử dụng hình ảnh, thông tin cá nhân của người khác để đăng tải lên mạng xã hội mà không có sự đồng ý của người có hình ảnh là xâm phạm đến quyền cá nhân, có thể bị phạt tiền lên đến 20 triệu đồng theo quy định tại nghị định 15/2020/NĐ-CP sửa đổi khoản 37 điều 1 nghị định 14/2022/NĐ-CP.

“Đối với trường hợp khác, người dùng mạng xã hội, cộng đồng mạng mà nhân các câu chuyện, các sự kiện lợi dụng không gian mạng để xúc phạm nhân phẩm, danh dự người khác một cách nghiêm trọng thậm chí còn có thể bị xử lý hình sự về tội làm nhục người khác.

Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 cũng nêu người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10 – 30 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm tù, tùy mức độ vi phạm có thể bị xử phạt cao nhất đến 5 năm tù” – luật sư Thanh Trà viện dẫn.

Link bài báo ở phần bình luận.
--------------

📧 Email: [email protected]
☎️ Đường dây nóng: 0336547534



🌟 Đặc điểm các tranh chấp về nhà đất 🌟🏠 Nhà ở và đất đai là bất động sản có giá trị lớn và ý nghĩa đặc biệt với đời sống...
12/02/2025

🌟 Đặc điểm các tranh chấp về nhà đất 🌟
🏠 Nhà ở và đất đai là bất động sản có giá trị lớn và ý nghĩa đặc biệt với đời sống mỗi cá nhân, gia đình. Tranh chấp về nhà đất phát sinh trên nhiều lĩnh vực và thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều cấp, ngành khác nhau.

🔎 Các loại tranh chấp nhà đất phổ biến:
1️⃣ Nhà ở:
🏡 Nhà thuộc sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu Nhà nước.
🏡 Nhà gắn với quyền sử dụng đất hợp pháp.
🏡 Nhà trên đất chưa có quyền sử dụng hợp pháp.

2️⃣ Đất đai:
🌾 Đất canh tác, đất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản.
🌳 Đất xây dựng công trình kiến trúc, cây lâu năm.

⚖️ Đặc điểm nổi bật của tranh chấp nhà đất:
🔷 Tính phức tạp và quyết liệt:
Xuất phát từ việc thay đổi chế độ sở hữu đất đai qua nhiều thời kỳ.
Hệ quả từ quản lý nhà đất yếu kém, chưa đáp ứng được chính sách quản lý và nhu cầu thực tế của người dân.

🔷 Yêu cầu cao về kỹ năng:
Cần thấu hiểu, điều tra, thu thập chứng cứ, xác định rõ thẩm quyền.
Đảm bảo hòa giải giữa các bên, xử lý đúng pháp luật.

📜 Quy định pháp luật liên quan:
Các quy định thay đổi theo từng thời kỳ lịch sử.
Người hành nghề cần lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp với từng thời điểm tranh chấp để giải quyết đúng đắn.
**o


**o



Liên hệ công việc:
Sđt: 0336547534
Email: [email protected]

[ MỖI NGÀY MỘT BẢN ÁN] – Hủy án phúc thẩm vì Tòa phúc thẩm cho rằng Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/04/2003 không ...
12/02/2025

[ MỖI NGÀY MỘT BẢN ÁN] – Hủy án phúc thẩm vì Tòa phúc thẩm cho rằng Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/04/2003 không thể được áp dụng để giải quyết vụ án là chưa đúng pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]Ông Võ Tấn H1-bà Đào Thị Bạch K là vợ-chồng (theo giấy chứng nhận kết hôn số 105, quyển số 1/2002, ngày 16/12/2002 do Ủy ban nhân dân phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp).
Ông Võ Tấn H1-bà Đào Thị Bạch K có tài sản chung là thửa đất số 501, tờ bản đồ số 16, diện tích là 1.708m2 tọa lạc tại xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 668250 ngày 05/04/2012 do Ủyban nhân dân huyện C cấp, do bà Đào Thị Bạch K đứng tên).
[2]Theo sự thừa nhận của các đương sự, thì vào khoảng giữa năm 2019, ông Võ Tấn H1-bà Đào Thị Bạch K (bên bán) và bà Nguyễn Thị Hồng H (bên mua) thỏa thuận với nhau về việc mua-bán thửa đất số 501 nói trên nội dung chính của sự thỏa thuận như sau:
-Giá tiền mua-bán là 3.900.000.000 đồng;
-Bên mua đặt cọc trước 2.000.000.000 đồng; số tiền còn lại là 1.900.000.000 đồng, bên mua sẽ trả, chậm nhất là ngày 31/12/2019.
Sự giao dịch nói trên giữa hai bên thực hiện bằng lời nói, không lập thành văn bản.
[3] Trong thực tế, việc thực hiện giao dịch nói trên đã xảy ra như sau:
-Vào ngày 04/09/2019, bà Nguyễn Thị Hồng H đặt cọc bằng cách giao trực tiếp cho ông Võ Tấn H1 số tiền mặt là 32.000 Euro. Hai bên đồng ý với tỷ giá (so với đồng Việt Nam) là 1 Euro = 25.400 đồng và thừa nhận rằng số tiền 32.000 Euro bằng với 812.800.000 đồng. So với thỏa thuận ban đầu (đặt cọc 2.000.000.000 đồng) thì bà Nguyễn Thị Hồng H còn phải giao tiếp số tiền là (2.000.000.000 đồng– 812.800.000 đồng) = 1.187.800.000 đồng; ông Võ Tấn H1 có viết giấy biên nhận cho bà Nguyễn Thị Hồng H về sự việc này;
-Sau đó, vào ngày 09/09/2019, bà Nguyễn Thị Hồng H giao thêm (bằng cách chuyển khoản vào tài khoản của bà Đào Thị Bạch K) cho ông Võ Tấn H1-bà Đào Thị Bạch K số tiền 1.186.938.816 đồng.
Như vậy, tính cho đến ngày 09/09/2019, bà Nguyễn Thị Hồng H đã đặt cọc cho ông Võ Tấn H1-bà Đào Thị Bạch K tổng cộng là 2.000.000.000 đồng theo như sự thỏa thuận ban đầu giữa hai bên đương sự.
[4] Sau khi việc đặt cọc hoàn thành, giữa hai bên đương sự phát sinh tranh chấp làm cho việc ký kết hợp đồng mua-bán đất không thực hiện được; hai bên đương sự đưa ra những lý do hoàn toàn khác nhau (để biện minh cho việc hợp đồng mua-bán đất không thực hiện được), như sau:
-Bà Nguyễn Thị Hồng H cho rằng ranh giới của thửa đất số 501 đã bị lấn chiếm; xe container không thể ra-vào được (sẽ không thực hiện được yêu cầu về hoạt động sản xuất-kinh doanh của đương sự);
-Ông Võ Tấn H1-bà Đào Thị Bạch K cho rằng bà Nguyễn Thị Hồng H là người đã thay đổi ý định, không tiếp tục mua đất nữa, trong khi thời hạn thực hiện hợp đồng vẫn còn (đến ngày 31/12/2019 là hạn cuối cùng).
[5]Xét thấy, giao dịch mua-bán đất giữa hai bên đương sự không được xác lập bằng văn bản và cũng không có bằng chứng rõ ràng nào khác để có thể xác định rằng ai là người có lỗi làm cho hợp đồng không được thực hiện. Giao dịch giữa hai bên đương sự đã dừng ở giai đoạn “Đặt cọc” và cho đến ngày nay, thời hạn để thực hiện hợp đồng đã hết.
Mặt khác, việc đặt cọc số tiền 32.000 Euro của bà Nguyễn Thị Hồng H cho ông Võ Tấn H1 vào ngày 04/09/2019 đã vi phạm Điều 22 của Pháp lệnh Ngoại hối năm 2013, cụ thể như sau:
“Điều 22. Quy định hạn chế sử dụng ngoại hối:
Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng N”.
Như vậy, giao dịch đặt cọc giữa hai bên đương sự đã vi phạm điều cấm của pháp luật; việc đặt cọc giữa hai bên đương sự là vừa để bảo đảm việc giao kết và vừa để bảo đảm việc thực hiện hợp đồng mua-bán đất, nhưng trong thực tế, không có căn cứ pháp luật để buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng.
[6] Với những chứng cứ và tình tiết của vụ án phân tích nói trên, Tòa án cấp giám đốc thẩm xét thấy có căn cứ xác định rằng việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng H, là đúng pháp luật; kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ pháp luật.
Tuy nhiên, cách tuyên án của Tòa án cấp sơ thẩm (về việc buộc ông Võ Tấn H1 và bà Đào Thị Bạch K phải trả lại số tiền đặt cọc 2.000.000.000 đồng) sẽ gây hiểu nhầm về mặt pháp lý, cụ thể như sau:
-Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên án rằng: “….1.2/Buộc ông Võ Tấn H1 và bà Đào Thị Bạch K có nghĩa vụ liên đới hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Hồng H số tiền 2.000.000.000 đ (Hai tỷ đồng), bao gồm 32.000 (Ba mươi hai ngàn) Euro và 1.186.938.816 đ (Một tỷ một trăm tám mươi sáu triệu chín trăm ba mươi tám ngàn tám trăm mười sáu đồng)….”.
Cách tuyên án nói trên là không rõ ràng về mặt pháp lý (đương sự phải trả lại số tiền 2.000.000.000 đồng hay phải trả lại số tiền bao gồm 32.000 Euro và 1.186.938.816 đồng) và không đúng theo những văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam. Vì vậy, Tòa án cấp giám đốc thẩm điều chỉnh lại cách tuyên án tại Tiểu mục 1.2 Mục 1 Phần “Quyết định” của bản án sơ thẩm như sau:
-“1.2/Buộc ông Võ Tấn H1 và Đào Thị Bạch K có nghĩa vụ liên đới trả lại cho bà Nguyễn Thị Hồng H số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng)”.
[7] Về việc xác định hiệu lực của Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/04/2003:
Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/04/2003 do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành, nhằm để hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp Dân sự; Hôn nhân và Gia đình.
Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là, cho đến ngày hôm nay, Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP còn hiệu lực pháp luật hay không?
Xét về nguyên tắc, luật chỉ hướng đến tương lai, không hồi tố. Nhưng bên cạnh đó, pháp luật còn mang tính “Kế thừa”, nhất là trong lĩnh vực pháp luật về Dân sự.
Cho đến ngày hôm nay, về mặt pháp lý, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào tuyên bố hủy bỏ Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/04/2003 để thay thế bằng một văn bản quy phạm pháp luật nào khác. Mặt khác, xét về nội dung, những hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán-Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/04/2003 về việc giải quyết “Tranh chấp hợp đồng dân sự có đặt cọc”, vẫn đúng so với những điều luật tương ứng tại Bộ luật Dân sự năm 2015 hiện hành.
Vì vậy, việc Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng Nghị quyết số 01/2003/NQ HĐTP ngày 16/04/2003 không thể được áp dụng để giải quyết vụ án này, là chưa đúng pháp luật.
[Nguồn: Quyết định GĐT số: 07/2024/DS-GĐT ngày 8/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]

Liên hệ:
Số điện thoại: 0336547534
Email: [email protected]

**o



**o

Thời tiết HaNoi mưa bay giá rét nhưng Lsu vẫn hết mình với công việc, tiến hành giải quyết vướng mắc pháp lý cho khách h...
12/02/2025

Thời tiết HaNoi mưa bay giá rét nhưng Lsu vẫn hết mình với công việc, tiến hành giải quyết vướng mắc pháp lý cho khách hàng 💼

Việc hỏi về tranh chấp lối đi chung là gì? Khi có tranh chấp xảy ra thì phải xử lý như thế nào?------Tình huống pháp lý:...
12/02/2025

Việc hỏi về tranh chấp lối đi chung là gì? Khi có tranh chấp xảy ra thì phải xử lý như thế nào?
------
Tình huống pháp lý: : Chào Luật sư, Gia đình tôi và hàng xóm có sử dụng chung một cổng đi vào nhà. Tuy nhiên, hiện nay nhà hàng xóm đã lấn chiếm diện tích đất và tuyên bố đó là đất nhà họ không cho gia đình tôi sử dụng. Giờ tôi không biết phải xử lý vấn đề trên như thế nào để có thể đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình tôi. Tôi mong Luật sư giải đáp thắc mắc nêu trên giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Tranh chấp lối đi chung giữa các hộ liền kề xảy ra tương đối phổ biến, tuy nhiên nhiều người còn lúng túng không biết giải quyết tranh chấp này thế nào. Bài viết dưới đây của M&T LAW FIRM sẽ giúp bạn đọc hiểu sâu hơn về tranh chấp lối đi chung và cách giải quyết.
1. Tranh chấp lối đi chung là gì?
Khác với lối đi qua, lối đi chung hiện nay chưa được quy định cụ thể trong văn bản pháp luật nào. Tuy nhiên có thể hiểu lối đi chung là phần diện tích đất được cắt ra để các chủ sử dụng đất sử dụng làm lối đi ra đường giao thông công cộng.
Tranh chấp lối đi chung là cách gọi để chỉ các mâu thuẫn về việc mở lối đi chung hay mâu thuẫn do lấn, chiếm đất giữa các chủ sử dụng đất liền kề. Đây là các tranh chấp thuộc lĩnh vực đất đai nhưng ít ai biết, về bản chất các tranh chấp này vẫn có những điểm khác nhau, do đó cách giải quyết tranh chấp cũng khác nhau.
* Trường hợp tranh chấp về mở lối đi chung:
Lối đi chung được hình thành từ phần diện tích đất do người sử dụng đất phía ngoài tự dành ra hoặc theo thỏa thuận hoặc chuyển nhượng cho người phía trong để có lối ra đường công cộng (giống với lối đi qua).
Hoặc, lối đi chung do các chủ sử dụng đất cắt một phần đất của mình tạo nên, đồng thời lối đi chung tạo thành ranh giới sử dụng đất giữa các thửa đất liền kề (thường gọi là đường đi chung hoặc ngõ đi chung).
Có thể thấy, việc mở lối đi chung là quyền của người sử dụng đất tự dành ra/theo thỏa thuận/chuyển nhượng một phần diện tích đất để làm lối đi chung. Như vậy, đây được coi là tranh chấp dân sự, trường hợp đương sự lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp là khởi kiện thì có quyền khởi kiện tại Tòa án.
* Trường hợp tranh chấp do lấn, chiếm đất giữa các chủ sử dụng đất liền kề:
Hầu hết các vụ việc xảy ra do hành vi lấn, chiếm đất giữa những người sử dụng đất liền kề trên thực tế là tranh chấp đất đai.
Theo khoản 47 Điều 3 Luật Đất đai 2024, khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP, tranh chấp về lối đi do hành vi lấn, chiếm giữa những người sử dụng đất liền được xác định là tranh chấp đất đai (tranh chấp trong việc xác định ai là người có quyền sử dụng đất).
2. Giải quyết tranh chấp lối đi chung thế nào?
Cách giải quyết tranh chấp lối đi chung đối với các trường hợp tranh chấp đất đai và tranh chấp liên quan đến đất đai là khác nhau. Cụ thể cách giải quyết tranh chấp lối đi chung như sau:
- Hòa giải tranh chấp đất đai:
* Tự hòa giải hoặc thông qua hòa giải ở cơ sở
Tại khoản 1 Điều 235 Luật Đất đai 2024 quy định:
"1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải, hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở, hòa giải theo quy định của pháp luật về hòa giải thương mại hoặc cơ chế hòa giải khác theo quy định của pháp luật."
Từ ngày 1/8/2024, Luật Đất đai bổ sung hình thức hòa giải theo quy định của pháp luật về hòa giải thương mại hoặc cơ chế hòa giải khác theo quy định của pháp luật. Đây là các cách thức giải quyết được Nhà nước khuyến khích nhưng kết quả giải quyết không bắt buộc các bên phải thực hiện mà phụ thuộc vào sự thiện chí của các bên.
* Bắt buộc hòa giải tại UBND cấp xã
Tại khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024 quy định:
"2. Trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai quy định tại Điều 236 của Luật này, các bên tranh chấp phải thực hiện hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp."
Theo các quy định nêu trên, nếu các bên tranh chấp không hòa giải được nhưng muốn giải quyết tranh chấp thì phải gửi đơn đến UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất để hòa giải; nếu không hòa giải sẽ không được khởi kiện hoặc gửi đơn đề nghị UBND cấp huyện, cấp tỉnh giải quyết.
Lưu ý: Hòa giải là phương thức giải quyết bắt buộc đối với tranh chấp đất đai. Điều này cũng có nghĩa, đối với tranh chấp liên quan đến đất đai (tranh chấp mở lối đi chung) thì không bắt buộc phải thực hiện hòa giải.
- Đề nghị UBND cấp huyện, cấp tỉnh giải quyết
Theo khoản 2 Điều 236 Luật Đất đai 2013, tranh chấp mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 137 Luật Đất đai 2024 thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết:
+ Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND cấp có thẩm quyền (nếu tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân với nhau thì nộp tại UBND cấp huyện).
Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.
+ Khởi kiện tại Tòa án nơi có đất tranh chấp theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Khởi kiện tại Tòa án nhân dân
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 236 Luật Đất đai 2013, các tranh sau đây thì đương sự được khởi kiện tại Tòa án nhân dân gồm:
+ Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 137 Luật Đất đai.
+ Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 137 Luật Đất đai. Theo đó, để được khởi kiện tranh chấp đất đai phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
Người khởi kiện có quyền khởi kiện.
Tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo loại việc.
Tranh chấp chưa được giải quyết.
Tranh chấp đã được hòa giải tại UBND cấp xã.
Trên đây là giải đáp về vấn đề tranh chấp lối đi chung. Mọi vướng mắc liên quan đến đất đai, bạn đọc vui lòng liên hệ qua thông tin dưới đây để được M&T LAW FIRM hỗ trợ cụ thể.
SĐT: 0336547534
Gmail: [email protected]





**o

[MỖI NGÀY MỘT BẢN ÁN] – Hủy án phúc thẩm vì phạt cọc khi hợp đồng CNQSDĐ không thể ký kết theo hợp đồng đặt cọc do lỗi c...
11/02/2025

[MỖI NGÀY MỘT BẢN ÁN] – Hủy án phúc thẩm vì phạt cọc khi hợp đồng CNQSDĐ không thể ký kết theo hợp đồng đặt cọc do lỗi của hai bên là không có sơ sở

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Hồ sơ vụ án thể hiện các đương sự trong vụ án được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp quyền sử dụng đất, cụ thể:

+ Tại GCNQSDĐ số 5401141304 do Ủy ban nhân dân tỉnh Cần Thơ (cũ) cấp ngày 13/5/2002 cho ông Hồ Phước Thành: đất ở có diện tích 147,7m2 thuộc thửa đất số 112, tờ bản đồ số 45; nhà ở có tổng diện tích xây dựng 141,7m2. Ông Hồ Phước Thành chuyển nhượng toàn bộ nhà, đất cho ông Nguyễn Hải V và ông V đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận KN, thành phố Cần Thơ cập nhật, chỉnh lý ngày 05/9/2018. Ngày 11/10/2018, tại Văn phòng Công chứng Cửu Long, ông Nguyễn Hải V ký “Hợp đồng thuê nhà” cho bà Võ Kim L thuê toàn bộ nhà, đất trên trong thời hạn 03 năm kể từ ngày 06/9/2018, giá thuê 40.000.000 đồng/tháng.

+ Tại GCNQSDĐ số 04505/QSDĐ do Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ cấp ngày 10/01/2003 cho bà Nguyễn Thị N tổng diện tích 36,3m2 đất thổ cư thuộc thửa 113, 182 tờ bản đồ số 45; đất tại địa chỉ đường 3/2, phường HL, thành phố Cần Thơ. Bà N chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Hải V và ông V đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận KN, thành phố Cần Thơ cập nhật, chỉnh lý ngày 05/9/2018.

+ Tại GCNQSDĐ số CU 291015 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ cấp ngày 01/4/2020 cho ông Dương Chí T diện tích 35,9m2 đất tại thửa số 88, tờ bản đồ số 9. Đất tại địa chỉ khu vực 2, đường Nguyễn Văn Cừ, phường An Khánh, quận KN, thành phố Cần Thơ.

+ Tại GCNQSDĐ số CU 291399 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ cấp ngày 16/3/2020 cho ông Dương Lương T1 diện tích 45,0m2 đất tại thửa số 75, tờ bản đồ số 9. Đất tại địa chỉ khu vực 2, đường Nguyễn Văn Cừ, phường An Khánh, quận KN, thành phố Cần Thơ.

[2] Theo “Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà, đất” ngày 17/3/2020 giữa bên bán (Bên A) là ông Nguyễn Hải V với bên mua (Bên 😎 là ông Dương Chí T thể hiện nội dung: Bên A bán cho Bên B toàn bộ 01 căn nhà và đất thuộc GCNQSDĐ số 5401141304 do Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ cấp ngày 13/5/2022, chỉnh lý ngày 05/9/2018 (nhà và đất trên thửa 112); phần đất thuộc GCNQSDĐ số 04505/QSDĐ diện tích 36,3m2 tại đường 3/2, phường HL, thành phố Cần Thơ. Giá mua toàn bộ các tài sản theo hợp đồng là 7.700.000.000 đồng. Phương thức thanh toán gồm 05 lần cụ thể:

+ Lần 1: ngày 17/3/2020 bên mua đặt cọc trước 300.000.000 đồng;
+ Lần 2: sau 07 ngày, đến ngày 24/3/2020 bên mua thanh toán tiếp 700.000.000 đồng;
+ Lần 3: ngày 04/4/2020, bên mua thanh toán tiếp 500.000.000 đồng;
+ Lần 4: ngày 20/4/2020 bên mua thanh toán tiếp 3.000.000.000 đồng để bên bán có điều kiện ra Ngân hàng để lấy lại GCNQSDĐ xóa thế chấp và hai bên cùng ra Văn phòng công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng cho bên mua.

“Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà, đất” trên còn ghi rõ: “Tổng cộng số tiền bên mua đưa cho bên bán tiền mặt chỉ được 4.500.000.000 đồng (bốn tỷ năm trăm triệu đồng). Do vậy, bên mua đưa thêm hai lô đất trị giá 3.000.000.000 đồng” “Đặc điểm hai lô đất: Thửa đất số 88+75, tờ bản đồ số 9, tổng diện tích 76,5m2…thuộc Giấy chứng nhận QSD đất số Q118269 do UBND TP Cần Thơ cấp ngày 23/5/2002 (Hiện bên mua đang làm thủ tục tách ra 2 thửa 2 giấy chứng nhận QSD đất). Cùng ngày 20/4/2020 thì bên mua sẽ cùng bên bán ra ký hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng Công chứng giao cho bên bán”.

Ngoài ra, hợp đồng đặt cọc còn ghi trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi bên và thỏa thuận nếu bên bán không thực hiện đúng hợp đồng như đã thỏa thuận và cam kết (đổi ý không bán) thì phải bồi thường gấp đôi số tiền đã nhận. Nếu bên mua không thực hiện đúng hợp đồng thì chịu mất số tiền đã giao cho bên bán…

[3] Theo “Giấy cam kết” cùng ngày 17/3/2020 chỉ có chữ ký của ông T1 và bà A, có nội dung ông Dương Lương T1 cùng bà Nguyễn Thị Thúy A “…Chúng tôi xin cam kết đồng ý chuyển nhượng thửa đất số 75, tờ bản đồ số 09…cho ông Nguyễn Hải V …theo yêu cầu ông Dương Chí T, để thực hiện hợp đồng đặt cọc mua bán nhà, đất ký ký ngày 17/3/2020 giữa ông V và ông T. Chúng tôi xin cam kết làm đúng theo cam kết này…Giấy cam kết được lập thành 02 bản có giá trị ngang nhau, bên ông T 01 bản, bên cam kết 01 bản”. Vụ án đã được Tòa án nhân dân quận KN xét xử sơ thẩm lần thứ nhất ngày 31/3/2021, tuy nhiên tại cấp sơ thẩm không thể hiện phía ông T có cung cấp cho Tòa án “Giấy cam kết” ngày 17/3/2020 trên, ông T chỉ cung cấp “Giấy cam kết” này tại phiên tòa phúc thẩm ngày 19/5/2022 và ông T1 cũng có đơn yêu cầu tham gia tố tụng. Do có tình tiết mới nên Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã xét xử phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm về giải quyết lại theo thủ tục chung.

Đối với “Giấy cam kết” ngày 17/3/2020 trên, ông V xác nhận không nhận được. Cam kết này không có sự chứng kiến hoặc xác nhận của ông V, trong khi hợp đồng đặt cọc ngày 17/3/2020 giữa ông V và ông T không có sự tham gia của ông T1. Các đương sự thỏa thuận ngày 20/4/2020 đến văn phòng công chứng thực hiện việc chuyển nhượng nhưng hồ sơ vụ án thể hiện ngày 03/4/2020, ông T1 mới tặng cho ông T 4,40m2 đất thuộc thửa 75, đến ngày 08/5/2021 ông T1 tiếp tục tặng cho ông T 22,6m2 đất thuộc thửa 75, diện tích còn lại của thửa 75 ông T1 nhập vào thửa 74 (Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý ngày 20/5/2020 đối với vụ án tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa ông T và ông V).

[4] Đối với thửa đất số 75, theo thỏa thuận tại hợp đồng đặt cọc ông T chuyển nhượng lại cho ông V để thanh toán vào giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 112. Tuy nhiên, thời điểm ngày 17/3/2020 ông T không đứng tên chủ sử dụng đất đối với thửa đất số 75. Thực tế thửa đất số 75 là của vợ chồng ông Dương Lương T1, bà Nguyễn Thị Thúy A. Như vậy, đến ngày 20/4/2020 thì ông T vẫn chưa được toàn quyền quyết định chuyển nhượng đối với thửa đất số 75 này. Tại thời điểm giao kết hợp đồng đặt cọc, do ông T không thông báo cho ông V biết trước tình trạng pháp lý của thửa đất số 75 làm cho ông V nhầm tưởng rằng ông T có đầy đủ điều kiện để chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông V. Ông V cũng có lỗi không tìm hiểu kỹ về thửa đất 75 cũng như thỏa thuận, bàn bạc ký kết cụ thể với ông T và ông T1 là chủ sử dụng thửa 75 về cách thức giao dịch chuyển nhượng. Trên thực tế, tại thời điểm bên nguyên đơn và bên bị đơn hẹn đến văn phòng công chứng thì thửa đất số 75 vợ chồng ông T1, bà A vẫn còn đứng tên chủ quyền. Như vậy, ông T có lỗi vi phạm nghĩa vụ thỏa thuận với ông V khi giao kết hợp đồng.

[5] Hợp đồng đặt cọc được ký kết ngày 20/4/2020 giữa ông T và ông V làm cơ sở để hai bên ký kết hợp đồng chuyển nhượng các quyền sử dụng đất cho nhau, ngoài ra ông T và ông V không thỏa thuận ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ai khác (không ký với ông Dương Lương T1, bà Nguyễn Thị Thúy A). Mặt khác, về thỏa thuận phương thức thanh toán đối với việc cấn trừ thửa đất số 75 không rõ ràng, dẫn đến cách hiểu khác nhau giữa bên bán và bên mua do đó, không có căn cứ cho rằng ông V có thực hiện việc thỏa thuận với vợ chồng ông T1. Trường hợp này, ông T không có quyền đơn phương ép buộc ông V phải nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 75 trực tiếp từ ông T1. Nếu ông T, ông T1, bà A muốn ông V nhận chuyển nhượng, thì phải bàn bạc, thỏa thuận và ký kết với ông theo cách thức giải quyết ghi tại mục V (Điều kiện cam kết chung) của Hợp đồng đặt cọc.

[6] Như vậy, các bên không thể ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất như đã thỏa thuận trong Hợp đồng đặt cọc là do lỗi của cả hai bên là ông T và ông V. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm quyết định phạt cọc trong trường hợp này là không có cơ sở, làm ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của bị đơn, cần phải hủy bản án phúc thẩm nêu trên, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự.

[Nguồn: Quyết định GĐT số: 270/2024/DS-GĐT ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]







THÔNG BÁO SỐ 202/TB-VKSTC RÚT KINH NGHIỆM VỤ ÁN HÌNH SỰ HỘI ĐỒNG GIÁM ĐỐC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO HỦY BẢN ÁN PHÚC T...
11/02/2025

THÔNG BÁO SỐ 202/TB-VKSTC RÚT KINH NGHIỆM VỤ ÁN HÌNH SỰ HỘI ĐỒNG GIÁM ĐỐC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO HỦY BẢN ÁN PHÚC THẨM ĐỂ XÉT XỬ LẠI

Ngày 08 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông báo số 202/TB-VKSTC rút kinh nghiệm vụ á hình sự Hội đồng giám đốc thẩm Tòa án nhân dân tối cao hủy Bản án hình sự phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại

NỘI DUNG CẦN RÚT KINH NGHIỆM:

Tòa án phúc thẩm nhận định: “Hành vi gây rối trật tự nơi công cộng của bị cáo Trần Tấn Phúc đã thu hút vào các tội “Giết người” và “Cố ý gây thương tích”. Tòa án sơ thẩm lại xét xử thêm tội “Gây rối trật tự công cộng” là không đúng”. Từ đó, Tòa án phúc thẩm sửa Bản án hình sự sơ thẩm tuyên Trần Tấn Phúc không phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” là không có căn cứ, vì Trần Tấn Phúc đã có hành vi xâm phạm các khách thể khác nhau. Hành vi dùng dao đâm bị hại Long dẫn đến tử vong và đâm bị hại Minh gây thương tích (tỷ lệ tổn thương cơ thể 12%) xâm phạm đến quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe con người. Hành vi tụ tập đông người, la lối, chửi bới, đánh nhau tại khu vực đông dân cư sinh sống và tại bệnh viện xâm phạm đến trật tự chung, gây mất trật tự nơi công cộng, ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt của người dân. Trong vụ án này, các tội danh được cấu thành từ các hành vi độc lập xâm phạm các khách thể khác nhau nên đủ cơ sở để kết án về 03 tội “Giết người”, “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”.
Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án hình sự sơ thẩm, tuyên bố Trần Tấn Phúc không phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và xử phạt Trần Tấn Phúc 20 năm tù về tôi “Giết người” là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp.





Address

Phú Minh, Phúc Diễn, Bắc Từ Liêm
Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when M&T LAW FIRM posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share