HÃNG LUẬT HEVA

HÃNG LUẬT HEVA Tham gia tố tụng - Tư vấn - Đại diện - Dịch vụ pháp lý khác!

SỰ KIỆN VÀ SỰ XUNG ĐỘT TRONG QUYỀN LỢI LÀ MỘT TRÙ LIỆU SẴN CÓ CỦA LUẬT PHÁPVấn đề một nền luật pháp phải đặt ra trước mộ...
24/03/2026

SỰ KIỆN VÀ SỰ XUNG ĐỘT TRONG QUYỀN LỢI LÀ MỘT TRÙ LIỆU SẴN CÓ CỦA LUẬT PHÁP

Vấn đề một nền luật pháp phải đặt ra trước một sự kiện luôn là phải xem rằng sự kiện đó rơi vào trường hợp nào và việc xử lý nó có phạm vào các tiêu chuẩn có tính nguyên lý hay không. Vụ việc khách đi xe đe doạ đánh tài xế trong khi tài xế đăng đoạn phim cảnh này lên mạng, đặt ra một xung đột quyền lợi quan trọng giữa quyền riêng tư, bảo mật của khách hàng và quyền được bảo vệ của người tài xế.

Đã nhiều lần tôi nhắc lại một dạng án lệ của nước Anh thời hiện đại, một nhân viên mật vụ tiết lộ kế hoạch của cơ quan chính phủ Anh tại LHQ vì các hành động (bí mật nhà nước) của cơ quan này đang đe doạ tới một trật tự pháp lý hàng đầu là trật tự công cộng và lợi ích cộng đồng (quốc tế). Đây là một tình thế pháp lý điển hình cho xung đột giữa quyền bảo mật, và hiệu lực của bảo mật trước chính phạm vi và yêu cầu tiêu chuẩn phá vỡ nó nếu đáp ứng được đòi hỏi cơ bản nhất đã được dự trù trước. Và nữ mật vụ đưa thông tin cho các tờ báo công bố đã được toà án trả tự do và tuyên rằng cô không phạm tội.

Luật pháp sáng rõ và nghiêm minh chính là ở điểm này, rằng nó phải có thể dự báo trước và định hướng một khuôn mẫu hành vi mà trong tình cảnh đó không ai sẽ có xu hướng hành động khác đi, hoặc nếu có chỉ là ngoại lệ do thiếu nhận thức hoặc các sức ép, mối ràng buộc khác mà không thể thực hiện trong khả năng của họ.

Trong các vụ án, chúng ta đòi hỏi xác quyết tính chuẩn mực về quy trình như tiêu chuẩn cơ bản nhất của công lý, gọi là công lý thủ tục. Và nếu có vi phạm bất kể điều gì liên quan trong chứng cứ, thu thập hoặc xác minh, đánh giá hoặc các hành động tiến hành các thủ tục này, đều sẽ làm vô hiệu cả chứng cứ và chứng minh - vì rằng sự hợp pháp là yêu cầu chuẩn mực đầu tiên của chứng cứ và chứng minh trong nền pháp quyền văn minh. Yêu cầu bảo vệ hình ảnh, quyền lợi khác như gia đình hay các vấn đề liên quan ngoài vụ án đối với ngay cả nghi can, bị cáo cũng được luật pháp bảo vệ dựa trên giới hạn tác động của nguyên tắc về sự công bằng.

Nếu một người thu thập chứng cứ không hợp pháp (giả dụ ghi âm khi chưa được phép), nếu sử dụng chúng có thể sẽ bị tố ngược lại về hành vi lén thu thập trái phép thông tin, dữ liệu hoặc xâm phạm nhân nhân, riêng tư của người khác, chỉ trừ một số trường hợp ngoại lệ trong công bố hoặc mục đích thu thập, và phải đảm bảo đồng thời việc giao nộp hoặc cung cấp cho một bên có thẩm quyền xử lý (trên cơ sở luật pháp đã ấn định chúng là một trường hợp được làm thay vì không có trong các ấn định của luật).

Một bên hoàn toàn có thể bị huỷ hoại vì việc công bố không đúng hoặc không tuân thủ các tiêu chuẩn quy trình của việc xử lý. Giả dụ khi khách hàng sử dụng một dịch vụ, thường sẽ có quy chuẩn ứng xử để ngăn chặn các hành vi lạm dụng hoặc gây tổn thất ác ý hoặc kể cả vô ý, nhằm bảo vệ tất cả các bên thay vì chỉ một bên. Bởi khi phải kiện tụng, bên có hành vi trước phải chứng minh sự hợp lý trong yêu cầu kiện tụng cùng việc sử dụng bằng chứng nào là hợp pháp hoặc có lợi hay không.

Nếu rằng, ngay từ đầu các bằng chứng được tự công bố bởi một bên, hoàn toàn có thể gây hại nghiêm trọng cho một bên thứ ba (không xuất hiện hoặc xuất hiện ngay trong khung cảnh, thời điểm đó), hoặc bản thân chúng xâm phạm vào các quyền lợi được xem là cơ bản khác của người bị tố công khai trên phương tiện đại chúng, rõ ràng đó là việc vượt quá sự tương xứng của động cơ và sự tổn thất thực tế. Ngăn chặn một hành vi vi phạm vi cảnh hoàn toàn cá nhân, lại đồng thời có thể làm nhục hoặc biến họ trở thành tội đồ thậm chí như tên quái vật, đó rõ ràng là lựa chọn chưa chuẩn mực trong tình huống mà luật đã đưa ra các lựa chọn khác.

Vấn đề trong vụ việc tài xế và khách hàng nảy sinh một câu hỏi về tính xung đột giữa quyền bí mật của khách hàng và người lái xe, rằng trong tình huống nào thì được công bố các bằng chứng (như ghi hình) để bảo vệ mình và quy trình nào được ưu tiên sử dụng và có phải là các yêu cầu tiên quyết phải thực hiện trước hay không trong tính cần thiết của sự kiện? Việc phải giải quyết về pháp lý trong bối cảnh như vậy, người ta phải xem xét liệu rằng việc công khai có đang vượt quá các ràng buộc hoặc vi phạm tiêu chuẩn về công khai các bằng chứng tạm thời hay không.

Một nền pháp lý và với mong muốn truy cầu tính pháp quyền luôn phải là giải quyết các xung đột một cách thoả đáng bằng các cơ chế hợp lý mang tính tiêu chuẩn thống nhất của nó, và cộng đồng chứa nó cũng nên bàn thảo nhiều hơn trong các góc độ lý tính từ các khía cạnh lẽ công bằng hơn là cảm thức về sự tức giận trả đũa dựa vào tính bất lợi tạm thời của một bên tạm được xem là yếu thế hơn.

Trong đời sống dân sự, việc thoả thuận và cam kết bảo mật thông tin trước các xung đột là một cơ chế giải quyết hữu hiệu, nó khắc phục và ngăn chặn hai vấn đề: sự quá tải của hệ thống tư pháp cho những việc mà dân sự hoàn toàn giải quyết được, và giúp các bên có thể tìm được tiếng nói hoà bình mà không bên nào gánh chịu tổn thất không đáng có khác ngoài các nội dung được thoả thuận (vì vậy, giữ kín bằng chứng cũng là một mục tiêu chiến lược trong thương lượng và hoà giải dân sự mà xã hội sẽ dần phải tiến đến sau này).

TƯ DUY HÀNH CHÍNH HOÁ VÀ TUỲ TIỆN TRƯỚC CÁC CHUẨN MỰC PHÁP LÝ VÀ CÔNG LÝThủ tục hành chính hoá vốn đã là một cản trở hoạ...
09/03/2026

TƯ DUY HÀNH CHÍNH HOÁ VÀ TUỲ TIỆN TRƯỚC CÁC CHUẨN MỰC PHÁP LÝ VÀ CÔNG LÝ

Thủ tục hành chính hoá vốn đã là một cản trở hoạt động nghề ngay trong tố tụng, đó là việc phải đăng ký luật sư bằng một thủ tục gồm các đầu mục tài liệu mà chỉ sau khi nộp tới cơ quan giải quyết và được chấp thuận mới được tham gia. Trong khi đó, về nguyên tắc quyền bào chữa hay bảo vệ bởi luật sư phải là quyền liên tục và đương nhiên, theo nghĩa rằng nếu không có sự xuất hiện ngay lập tức của luật sư thì các thủ tục khác sẽ không thể bắt đầu (như lấy lời khai, điều tra…), trừ khi người bị thẩm vấn hoặc mời làm việc từ chối luật sư.

Trước đó không lâu, đã xuất hiện một bước hạ cấp tính chất và phẩm vụ nghề luật sư như một yếu tính của công lý, tức sự phổ quát và dựa trên tính hiệu lực toàn thể của nó trên phạm vi quốc gia, đó là việc quy định chủ tịch UBND tỉnh có quyền cấp chứng chỉ hành nghề luật sư tại địa phương mà luật sư tập sự hoặc có đăng ký thường trú. Việc hành chính hoá thủ tục nghề luật sư và đưa xuống cấp tỉnh (một cơ quan hành chính địa phương) vốn đã đe doạ nghiêm trọng tới khả năng hành nghề và địa vị công lý trong vai trò của họ, và có nguy cơ làm xói mòn các trụ cột của cấu trúc tư pháp.

Nay táo bạo hơn, một lần nữa, nghề luật sư, đòi hỏi sự độc lập và phổ quát về công lý trước luật pháp, lại bị hành chính hoá bởi một cơ quan hành chính cấp xã với cấp được xem là thấp nhất trong tổ chức hành chính ở địa phương. Điều kỳ dị này cho thấy nhận thức pháp lý của những người tạo lập chính sách và xây dựng các nguyên tắc của luật lệ không có bất kể tư duy nào về pháp lý và triết lý cần có để tạo nên sự bền vững và tính thông sáng của luật pháp. Đây là một sự tuỳ tiện trong đề xuất và xây dựng chính sách, khi chỉ xem một yếu tính của cấu trúc tư pháp ngang bằng như một hộ kinh doanh thông thường.

Nếu một luật sư có thể tham gia kiện tới Bộ trưởng hoặc các vấn đề chính sách quốc gia, thử hình dung khi họ khởi kiện hoặc bảo vệ một người trước chính Chủ tịch tỉnh, và hoặc sau đây là UBND xã (vốn là nơi mà luật sư thường xuyên va chạm nhiều nhất), sẽ tạo ra tình thế xung đột lợi ích như thế nào? Hoặc họ phải từ chối tham gia bảo vệ, hoặc họ gặp nguy cơ rủi ro nghề nghiệp khi thường xuyên bị kiểm tra bởi cả cấp xã và cấp tỉnh vì đối lập/xung đột lợi ích?

Trao quyền kiểm tra và cấp phép cho một đơn vị cấp thấp có tính địa phương, là đang tạo ra một công cụ quyền uy mà chúng sẽ là thứ được sử dụng để ngăn chặn hoặc triệt tiêu chính những vấn đề mà đáng ra phải là thiết chế ngăn chặn sự lạm quyền của các cơ quan này. Giao phó cho một “vệ binh” cấp xã với quyền năng kiểm tra hành nghề của luật sư, sẽ nghiễm nhiên biến thiết chế luật sư trở thành một con tin và công cụ, lệ thuộc vào chính những cấu trúc đúng ra phải bị kiểm soát và giám sát ngược lại từ chính vai trò như một thành tố công lý để xây dựng nhà nước pháp quyền hiện đại thực sự của nó.

Các mô hình trên thế giới, tạo ra sự độc lập của luật sư thông qua một cơ chế riêng biệt: hoặc do Toà án tối cao cấp chứng chỉ, hoặc do một cơ chế tương đương Bộ tư pháp đứng ra cấp chứng chỉ và rà soát đạo đức luật sư, hoặc được tự trị thông qua đoàn luật sư toàn quốc để được cấp phép hoạt động. Trong khi đó, chúng ta đang đảo ngược và đe doạ tới chính yếu tính công lý của một trong các cấu trúc quan trọng nhất của lĩnh vực và hệ thống tư pháp mà nhân loại phải mất hàng ngàn năm mới đạt được sự tiến bộ vững vàng như ngày nay. Sự văn minh ngày càng đòi hỏi sự độc lập, chúng ta lại xoay ngược xu thế là dồn tất cả vào sự giản tiện và buộc vào sự lệ thuộc ngày càng cao độ hơn.

Điều này tồn tại vì tư duy quản lý theo cung cách xin cho và kiểm soát kiểu hợp tác xã, nó không mang bất kể tư duy pháp lý hay triết lý nào về luật lý hay công lý như thường có trong một xã hội văn minh và phát triển. Nó đang biến thiết chế luật sư, tréo ngoe và dị thường thay, trở nên là một hộ kinh doanh tạp hoá đặt tại cấp xã, để dễ dàng hoá thân họ thành một con tin tiềm năng trong kiểm soát thay vì hiển nhiên là một giá đỡ của công lý trong đời sống thực tại.

LUẬT PHÁP VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG TÍNH RÀNG BUỘC CỦA NÓĐiều cơ bản của cơ bản là, điều mà Lincoln đã nói cách đây tính theo hàn...
08/01/2026

LUẬT PHÁP VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG TÍNH RÀNG BUỘC CỦA NÓ

Điều cơ bản của cơ bản là, điều mà Lincoln đã nói cách đây tính theo hàng trăm năm, rằng luật pháp là đạo đức tối thiểu, đạo đức là luật pháp tối đa. Luật pháp, dù theo hệ thống nào, cũng đều đặt đạo đức như mái vòm để giới hạn và định hướng một hành vi nhất định, càng phát triển và văn minh người ta càng thấy sức nặng và tính đi trước trong điều chỉnh đạo đức lớn hơn luật pháp, đặc biệt với giới chính trị gia và người của công chúng. Bất cứ lĩnh vực nào cũng đều có “nền đạo đức” của nó để tạo lập hành lang nghiêm ngặt cho mọi hoạt động mà người đứng trong đó chịu sự điều chỉnh. Như trong hoạt động nghiên cứu khoa học, yêu cầu liêm chính (tức là đạo đức) còn cao hơn tính chi phối của luật pháp thực chất đối với chuyên môn của họ.

Rousseau từng viết trong Khế ước xã hội về vấn đề đạo đức theo một cách tương đồng với Lincoln, với nhấn mạnh rằng khi luật pháp của một xã hội mất đi hiệu lực của nó thì đạo đức chính là cứu cánh (cuối cùng) để vãn hồi các trụ cột của công lý, lúc này vốn đang rơi vào khủng hoảng và suy thoái. Mặc dù trong cuốn Dân trị và Chính quyền, tôi đã không đứng về lập luận này mà đứng trên lập trường đối diện để phản bác cơ sở từ bản chất của tình trạng mà ông đặt ra trong diễn ngôn của mình.

Cụm từ “đạo đức xã hội” là một thuật ngữ pháp lý chung được xây dựng như nền móng bao quát trong đạo luật dân sự, bản văn vốn đóng vai như đạo luật gốc (được dân luật định danh là bản hiến pháp của đời sống dân sự) và nhờ đó thiết lập nền tảng cho những đạo luật chuyên ngành khác xây dựng dựa trên và xoay quanh triết lý cốt lõi của bản văn được xem như trung tâm luận này.

Bất cứ ngành nghề nào trong mọi cấu trúc cũng đều có một bộ quy chế (quy tắc ứng xử) đạo đức chuyên biệt và đặc thù, từ bác sĩ, luật sư, giáo viên, thẩm phán hoặc công chức… và người hoạt động trong địa hạt nghệ thuật thuộc vào phạm trù dành cho công chúng, vì vậy vấn đề đạo đức và tiêu chuẩn đánh giá còn mang xu hướng nghiêm ngặt và trực tiếp hơn trong phạm vi quán chiếu, vốn được mở rộng hơn các lĩnh vực khác trong xã hội.

Tuy vậy, trong vụ việc đổ bể chương trình biểu diễn, trình diễn nghệ thuật (âm nhạc) vừa rồi, không tồn tại dạng giao dịch vì lợi ích của người thứ ba trong tính chất pháp lý như một vài quan điểm đã đưa ra. Trong trường hợp này, các giao dịch là độc lập về chủ thể giao kết, nhưng quyền và nghĩa vụ liên đới cũng như lệ thuộc theo kiểu bắc cầu (đan chéo) các quyền lợi và nghĩa vụ với nhau trong tương quan chung (mục đích và dịch vụ tại thời điểm cuối cùng - buổi trình diễn). Tại đây, như đã phân tích, có hai loại hợp đồng song vụ song hành mà chúng là điều kiện làm phát sinh hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của nhau (tức điều kiện làm giao dịch có hiệu lực hoặc có thể thực hiện được hay không trên thực tế).

Khán giả trả tiền gián tiếp cho nghệ sĩ để họ biểu diễn cho khán giả thưởng thức hình thức nghệ thuật (âm nhạc và trình diễn thị giác) - nhà tổ chức nhận tiền và chịu trách nhiệm tổ chức buổi trình diễn sao cho thành công theo kịch bản đã soạn trước - nghệ sĩ nhận tiền từ nhà tổ chức (nhưng là từ nguồn tiền của chính khán giả đã trả trước đó) và sẽ trình diễn cho khán giả thụ hưởng lợi ích thay vì cho nhà sản xuất (vì họ không trả tiền để xem nghệ sĩ trình diễn). Do vậy, hợp đồng trình diễn chỉ có thể thực hiện (vào thời điểm sau cùng vốn đã được công bố từ trước) khi hợp đồng với các nghệ sĩ được thực hiện, ngược lại sẽ phá vỡ mục đích và khả năng thực hiện hợp đồng của nhà sản xuất với khán giả.

Trong hợp đồng giữa đơn vị tổ chức với nghệ sĩ sẽ có quy định về các trường hợp trì hoãn, thay thế hoặc huỷ bỏ việc trình diễn vì lý do nghệ sĩ không tham gia (do thể chất, tinh thần) hoặc không đảm bảo được yêu cầu chuyên môn (hay vấn đề đạo đức nảy sinh khi nghệ sĩ này vướng vào rắc rối cá nhân khác), nghĩa là nhân tố “nghệ sĩ” chính là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng giữa nhà sản xuất và những người mua vé. Và trong hợp đồng này với nghệ sĩ, cũng sẽ luôn có điều khoản về các lý do tương tự trước việc có đảm bảo hay không việc nghệ sĩ tham gia, mà nếu vi phạm thoả thuận sẽ phát sinh trách nhiệm với họ một cách hiển nhiên.

Để dễ hình dung hơn, có một tình huống pháp lý khá cơ bản và tương đồng để làm ví dụ minh hoạ, đó là một cầu thủ A ký hợp đồng với một câu lạc bộ bóng đá B, sau đó được bán sang đội bóng C: khi này CLB B và CLB C ký hợp đồng (số 1) chuyển nhượng cầu thủ A với điều kiện D; và đồng thời cầu thủ A sẽ ký hợp đồng (số 2) với CLB C để đá cho đội này trong thời hạn 5 năm, trong đó có điều khoản ràng buộc làm phát sinh quyền hưởng lợi ích cho CLB C với điều kiện E. Có thể E và D là các điều kiện trùng nhau hoặc khác nhau nhưng sẽ có phần giao nhau nhất định (như A chấn thương ngay năm đầu tiên thì CLB C không được nhận 70% phí còn lại cùng khoản 10% hợp đồng dựa trên phong độ cầu thủ, ngược lại nếu A thăng hoa và mang về cúp vô địch mùa giải quốc nội hoặc khu vực, CLB C sẽ được thanh toán toàn bộ số phí hợp đồng chuyển nhượng cộng thêm việc hưởng 20% tiền thưởng hoặc một con số cụ thể nào đó). Đây chính là một tình huống tương đồng với hoạt động trình diễn nghệ thuật trong điều kiện phát sinh hiệu lực giao dịch giữa các bên.

Một số lập luận cho rằng đánh giá đạo đức trong vụ việc đổ vỡ buổi trình diên là vượt ngoài phạm vi, là một tư duy không chỉ hạn hẹp về pháp lý mà còn bước hụt chân trước chính sự đòi hỏi nền tảng của một cộng đồng văn minh thực sự. Nếu luật pháp không bao chứa trong nó công lý đặt trên nền móng đạo đức và các cơ sở thiết yếu của nó, làm sao luật pháp là một hệ thống đại diện cho khoa học và lẽ công bằng, vốn được minh định và đảm bảo trong chính luật pháp? Không chỉ vi phạm về nghĩa vụ với khía cạnh luật pháp, nó cũng đồng thời phá hỏng các trụ cột đạo đức cơ bản, nếu các loại hành vi như vậy không bị lên án và phê phán đúng mức, cộng đồng dung dưỡng nó hẳn không thể đi thêm bất cứ bước nào trong nhận thức về văn minh và nhân bản trước chính con người.

KẾT QUẢ CỦA THƯƠNG LƯỢNG VÀ HOÀ GIẢI TRONG TRANH CHẤP LÀ THƯỚC ĐO CỦA CÁC HÀNH ĐỘNG PHÁP LÝHEVA LAW FIRM đã đại diện và ...
05/12/2025

KẾT QUẢ CỦA THƯƠNG LƯỢNG VÀ HOÀ GIẢI TRONG TRANH CHẤP LÀ THƯỚC ĐO CỦA CÁC HÀNH ĐỘNG PHÁP LÝ

HEVA LAW FIRM đã đại diện và thực hiện thành công việc thương lượng cho thân chủ trong các vụ việc dân sự mà hai bên đều tưởng chừng không thể hoà giải được.

Một vụ việc mà khách hàng (cá nhân) có xung đột lợi ích trong vấn đề chất lượng dịch vụ với bên cung ứng dịch vụ (thể thao, sức khoẻ), đã gặp bất lợi và bị đặt vào tình huống bị động trước phản ứng của cơ sở cung cấp dịch vụ. Tuy vậy, sau khi được HEVA LAW FIRM đại diện, với đánh giá và các hành động pháp lý và chiến lược có hệ thống, bên cơ sở kinh doanh đã phải tiến hành hoà giải và xin lỗi, bồi thường đối với khách hàng (là thân chủ của hãng luật chúng tôi). Chỉ trong vòng chưa đầy 20 ngày, các lộ trình hoà giải và thực hiện bồi thường đã được thực hiện đầy đủ từ phía có nghĩa vụ và trách nhiệm trong thiếu sót liên quan tới chất lượng dịch vụ của mình. Cơ sở kinh doanh vừa phải đưa ra lời xin lỗi và vừa phải thực hiện bồi thường, bồi hoàn các khoản chi phí liên quan mà hãng luật đã đưa ra. Vụ việc đã được khép lại với sự đồng thuận về phương án giải quyết đảm bảo mọi vấn đề và quyền lợi của cả hai bên trong sự việc. Đây là kết quả đến từ nỗ lực có hệ thống của các hành động pháp lý chuẩn mực và liên tục của hãng luật chúng tôi trong việc đại diện cho khách hàng của mình.

Vụ việc thứ hai, hãng luật chúng tôi đại diện cho bị đơn (một doanh nghiệp, hoạt động trong lĩnh vực đặc thù về y tế), vụ án đã được xét xử sơ thẩm và có kháng cáo của bị đơn, kháng nghị của VKSND cấp trên (cấp tỉnh) với bản án sơ thẩm để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, với tranh chấp phát sinh từ giao dịch, hợp đồng hợp tác liên doanh (góp vốn) với một pháp nhân (doanh nghiệp) khác. Hãng luật HEVA được mời và tham gia khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. Tuy vậy, với các hành động pháp lý gấp rút trước khi phiên xử được mở, tại phiên toà phúc thẩm, chúng tôi đã thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ và buộc nguyên đơn phải tiến hành thương lượng để đạt được kết quả hoà giải ngay tại phiên toà này. Mức thoả thuận giảm được lên tới gần 1.4 tỷ, tương đương một nửa số tiền mà bị đơn phải thanh toán theo bản án sơ thẩm, đồng thời giảm được một khoản án phí đáng kể cho cả hai bên khi hoà giải thành. Mặc dù thời gian dành cho việc tiếp cận hồ sơ và xử lý tình huống thực sự hạn chế, chúng tôi vẫn đã tiến hành các biện pháp đủ mạnh về pháp lý để buộc nguyên đơn phải chấp thuận sự hoà giải thay vì phải đối mặt với các hệ quả tiêu cực, rắc rối và phức tạp hơn nếu họ từ chối.

KINH NGHIỆM CẦN ĐƯỢC THAM CHIẾU

Nên tham vấn hoặc nhờ luật sư đại diện ngay khi tiến hành bất cứ một giao dịch hoặc hành động nào, dù giá trị giao dịch là bao nhiêu, vì vấn đề không hẳn giới hạn trong giá trị con số, mà sẽ bao gồm không giới hạn các tổn thất hay thiệt hại mà họ phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý sau đó.

Trong mọi tranh chấp, thương lượng và hoà giải luôn là mục tiêu và thành quả ưu tiên cho mọi nỗ lực pháp lý của luật sư. Và điều này cần được thực hiện bằng mọi biện pháp hợp pháp và mọi tình huống, thời điểm có thể. Luôn cân nhắc đến lợi ích đạt được so với việc nếu tiến hành xử lý các xung đột đến cùng, để tư vấn cho khách hàng về sự lựa chọn cần được ưu tiên. Cũng cần nhớ một nguyên tắc rằng, hoà giải nên có cầu nối từ một bên thứ ba đủ tin tưởng và uy tín để đảm nhận, trong đó luật sư và các thiết chế có ảnh hưởng tới một trong các bên nên là các chủ thể được uỷ thác.

Trong thương lượng và hoà giải vào thời điểm quyết định, luôn cần định mức cụ thể và các kế hoạch thực hiện tương đối chính xác và rõ ràng để có thể đạt được thoả thuận ngay lập tức, nó không nên bị kéo dài hoặc mô tả mở hồ, bởi điều đó phá huỷ thiện chí và các khả năng hoà giải thực sự giữa hai bên. Vấn đề trọng tâm trong mọi cuộc thương lượng và hoà giải luôn là các bên đạt được lợi ích gì tối đa cùng lúc, và cũng đồng thời tránh được các tổn hại đến mức tối thiểu có thể chấp nhận được. Nguyên lý cây gậy và củ cà rốt luôn cần được đặt là kim chỉ nam của mọi hành động nếu muốn có đủ sức mạnh cho việc buộc các bên “phải ngồi vào bàn đàm phán”.

Hy vọng rằng chúng tôi luôn có thể xử lý tối ưu được quyền lợi của quý khách hàng khi tin tưởng và uỷ thác, hợp tác cùng hãng luật chúng tôi.

(HEVA LAW FIRM)

HAI TỒN TẠI ĐẾN TỪ KỸ THUẬT LẬP PHÁP VÀ THỰC TẾ ÁP DỤNG CHO ĐIỀU LUẬT CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI SỨC KHOẺ CỦA...
14/10/2025

HAI TỒN TẠI ĐẾN TỪ KỸ THUẬT LẬP PHÁP VÀ THỰC TẾ ÁP DỤNG CHO ĐIỀU LUẬT CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI SỨC KHOẺ CỦA NGƯỜI KHÁC

Đối với tội cố ý gây thương tích hay gây tổn hại sức khoẻ cho người khác hiện nay có hai vấn đề về pháp lý đang tồn tại như một thách thức lớn, xuất phát từ thiếu khuyết trong kỹ thuật lập pháp và, sau đó, cách áp dụng điều luật trong giải quyết trước thực tế đang dẫn đến các sai lầm trong tinh thần chuẩn mực mà đáng ra nó phải đảm bảo, điều đe doạ tới tính nghiêm minh và sự ngăn chặn kịp thời đúng nghĩa của nó.

Hai vấn đề đó cụ thể như sau.

+ đầu tiên là việc bỏ qua yếu tố tổn hại sức khoẻ với ý nghĩa về tinh thần, một khía cạnh quan trọng đối với sức khoẻ không thể tách rời khỏi yếu tố thể chất vật lý (sinh học). Nếu một hành vi đe doạ tấn công hoặc đã có các hành vi tấn công, dù không để lại thương tích trên cơ thể nạn nhân, chúng diễn ra trong một thời gian dài, gây sang chấn hoặc rối loạn tâm lý hay hành vi nghiêm trọng cho người bị tấn công, tức các tổn hại sức khoẻ về mặt tinh thần đã thực sự hiện hữu - hậu quả của hành vi nguy hiểm đã hoàn thành, nhưng điều này không được thiết kế minh định trong điều luật về tội cố ý gây thương tích hay tổn hại sức khoẻ cho người khác. Trong Bộ luật Dân sự, chúng ta có các điều luật về bồi thường tổn thất tinh thần, và trong Bộ luật Hình sự có một số tội danh đã quy định cấu thành cơ bản dựa trên yếu tố rối loạn hành vi hay tâm thần của nạn nhân, tuy nhiên, đối với tội cố ý gây thương tích hay gây tổn hại sức khoẻ của người khác, chúng lại bị gạt qua trong tác động của tội phạm. Chúng ta cần nhớ rằng, sức khoẻ thể chất không thể tách rời sức khoẻ tâm lý (tinh thần) của một con người. Trong khi đó điều luật hiện tại được thiết lập chủ yếu đặt nặng vào tổn hại cơ thể có tính vật chất để làm căn cứ truy cứu. Điều này tạo nên một lỗ hổng rất lớn về lập pháp trong việc bảo vệ quyền bất khả xâm phạm của cá nhân. Nếu một điều luật không thể tính đến việc ngăn chặn các tổn hại về tâm lý hay trạng thái tinh thần, nó có thực sự bảo vệ sức khoẻ của một người cụ thể nào đó chỉ trong vấn đề thể chất sinh học?

+ tiếp theo, yếu tố về hiểu và áp dụng trên thực tế đối với tổn hại thể chất đang bị viện dẫn và giải thích thực sự sai lầm. Khi trong các truy cứu loại tội này, các cơ quan tiến hành tố tụng luôn yêu cầu thương tích giám định về cơ thể phải lớn hơn 0%, trong khi điều luật không có giới hạn tối thiểu về thương tích (dưới 11%), và một cách đồng thời, tổn hại sức khoẻ như đã vừa nêu, bao gồm trong đó sức khoẻ tinh thần như thành tố đời sống không thể bị xem nhẹ hay tách khỏi việc bảo vệ chỉ dành cho yếu tố thể chất đối với riêng cơ thể sinh học (vật lý). Hiện nay, điều luật được áp dụng theo thông lệ với tỷ lệ giám định thương tích là điều kiện bắt buộc, nhưng ngay chính điều luật được thiết kế cũng đã cùng lúc nêu ra: (i) không có giới hạn tối thiểu về tổn hại, nên không thể yêu cầu giám định thương tổn phải > 0%; và (ii) điều luật đã nêu một cấu trúc bảo vệ đồng thời, ngoài thương tổn thể chất còn bao hàm quy phạm “gây tổn hại sức khoẻ” - quyền bất khả xâm phạm về thân thể đối với cả cơ thể lẫn đời sống tinh thần. Cả hai nội dung này đều bác bỏ việc giải thích và áp dụng điều luật theo xu hướng đòi hỏi cấu thành vật chất với tổn thương cơ thể phải là một số nguyên dương (> 0%).

Hơn thế, cách đây nhiều năm trước mà tôi đã từng nêu ra thiếu khuyết của nó, có một yếu tố cũng liên quan tới kỹ thuật lập pháp, khi điều luật luôn quy định tỷ lệ thương tích là một số nguyên, và do vậy, khi tính ra thương tích với con số thập phân sẽ áp dụng quy tắc làm tròn. Tuy vậy, vấn đề pháp lý ngay trong Bộ luật Hình sự đã quy định, không ai bị truy cứu một hành vi không được BLHS quy định và BLTTHS luôn đề cao nguyên tắc không làm bất lợi cho bị can, bị cáo, mà rõ ràng khi tiến hành quá trình tính toán và làm tròn, tham chiếu theo một ấn định từ Thông tư của Bộ Y tế về cách tính tỷ lệ tổn thương cơ thể để tạo ra một số nguyên - nó tạo nên xung đột pháp lý và có chiều hướng bẻ gãy cùng lúc cả hai nguyên tắc cốt lõi vừa nêu trong tham chiếu và áp dụng. Như thế, việc lập pháp để dẫn đến cách làm tròn số cho tỷ lệ tổn thương cần được sửa lại, theo hướng không bỏ trống khoảng cách trong điều luật như hiện tại khi giữa các khoản (khung định tội) luôn chênh nhau 1 đơn vị (từ 11-30%; từ 31-60%; từ 61% trở lên) - nếu một người gây thương tích 30.5%, sẽ áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo để chuyển xuống khung 1, hay nguyên tắc làm tròn số để đẩy sang khung 2 của tội này, và vốn tỷ lệ này nằm ngoài nội hàm của điều luật? Vấn đề đã thực sự phức tạp và đầy thách thức về phẩm chất công lý.

Tội cố ý gây thương tích hay gây tổn hại sức khoẻ cho người khác, nên được thiết kế lại và cần được hướng dẫn thống nhất ngay trong chính điều luật thay vì phải cần tới các văn bản dưới luật để giải thích tinh thần của nó một lần nữa. Như đã từng được tôi đưa ra bàn luận trước đây, điều luật về loại tội danh này cần được phân nhóm chi tiết hơn các dạng hành vi, từ đó ngăn chặn được các hành vi đeo bám, gây hấn và khiêu khích, đe doạ tấn công hoặc các hành vi trấn áp (bạo lực tinh thần kéo dài) mà không gây tổn hại thể chất. Những loại hành vi này, xét trong bản chất, chúng thực sự nguy hiểm cho sự an toàn thân thể và đời sống cũng như tính mạng của người khác. Sự đeo đám hay thường xuyên gây hấn, đe doạ… không gây nên các thương tích cho thể chất, nhưng có ảnh hưởng tiêu cực cho người bị đe doạ, chúng tạo nên sự sợ hãi và cảm giác về sự bất an thường trực một khi không bị ngăn chặn bằng một sự truy cứu nghiêm minh từ luật pháp, ít nhất thông qua xử phạt hành chính cùng lệnh cấm tiếp xúc và giữ khoảng cách (đủ an toàn) với người từng bị đe doạ, hoặc phải bị truy tố hình sự nếu cho thấy hành vi của kẻ đó rõ ràng là táo tợn và mang khả năng thực tế về một sự tấn công.

ĐỘNG CƠ TÂM LÝ CHÍNH ĐÁNG CÓ THỂ ĐƯỢC BẢO VỆVụ việc này có một trong các dấu hiệu khá điển hình đối với thực tế hoàn cản...
02/10/2025

ĐỘNG CƠ TÂM LÝ CHÍNH ĐÁNG CÓ THỂ ĐƯỢC BẢO VỆ

Vụ việc này có một trong các dấu hiệu khá điển hình đối với thực tế hoàn cảnh để xem xét về mặt tội danh. Tại đây, đầu tiên, rõ ràng có dấu hiệu bạo lực kéo dài đối với cả người phụ nữ và những đứa con của họ, yếu tố thứ hai là sự đe doạ giết cả ba người bọn họ (1 người lớn và 2 trẻ em), vốn gánh chịu trực diện các hành vi bạo lực mà chưa có cách nào tìm được hỗ trợ từ trước đó.

Tội phạm này được thực hiện dựa trên hội chứng phụ nữ bị bạo hành (battered woman syndrome). Đã có nhiều trường hợp tương tự trên thế giới về các quyết định của toà án (bồi thẩm đoàn) có lợi hoàn toàn cho bị cáo.

Rõ ràng điều này cho thấy động lực tâm lý ngăn chặn việc giết người có thể xảy ra là hoàn toàn hiện hữu mà không phải một loại mục đích giả định biện minh - người đối diện với tình thế luôn hiểu rõ hơn rằng những hậu quả này là có tính hiện thực khi đối chiếu với các sự bạo hành kéo dài mà không thuyên giảm hay chấm dứt.

Sự lo sợ về tâm lý có thể được giải thích bằng một động cơ hiện hữu trong vấn đề bảo vệ tính mạng không chỉ của bản thân họ, mà còn ở sinh mệnh hai đứa trẻ. Đây là yếu tố có thể xem xét động cơ chuyển tội danh về giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hay tình thế cấp thiết, hoặc trong tinh thần bị kích động mạnh, hoặc ngộ sát do mất kiểm soát tạm thời.

Sự bạo hành kéo dài, cộng thêm sự đe doạ giết (nhiều người, trong đó bao gồm trẻ em), mà vốn việc đe doạ nếu có khả năng (được đánh giá dựa trên các điều kiện và tương quan liên quan) trở nên tiềm tàng hoặc thực tế, kẻ đe doạ sẽ bị truy tố hình sự về cả hai loại hành vi này. Yếu tố quan hệ gia đình hay huyết thống không đủ sức mạnh để đưa ra sự bác bỏ rằng khả năng thực tế của lời đe doạ không thể xảy ra, bởi chúng không cho thấy cơ sở vững chắc nếu ta lấy ra một vài ví dụ điển hình về sự việc tương tự.

Việc đánh giá toàn cảnh và nhìn nhận các khía cạnh xung đột lẫn động cơ của tội phạm theo chiều sâu là một vấn đề quan trọng cho cách giải quyết hữu hiệu các hệ quả nặng nề mà chúng gây ra, và cũng đồng thời tạo nên các cơ sở (hệ thống chuyên môn chuyên sâu và chuyên biệt) bảo đảm cho một tương lai tốt hơn trong lựa chọn hành xử từ những người sống trong nó, và trong cả các phán quyết từ hệ thống tư pháp trước các chuẩn mực (khoa học) của công lý.

Cũng giống như gia chủ có quyền hạ gục một tên trộm có vũ khí hoặc có dấu hiệu tấn công chủ nhà mà không phải chịu trách nhiệm hình sự về bất kể hành vi nào khi họ thực hiện quyền tự vệ chủ động này của họ trong không gian và thời gian được xem là bất khả xâm phạm từ bất kỳ kẻ nào, điều sẽ đảm bảo sự an toàn cho mỗi căn nhà ngay từ tường rào của họ thay vì phải đứng trong nhà giam nếu bảo vệ sinh mạng và tài sản của mình trước kẻ xâm phạm.

Cần bàn thêm ngay rằng những kẻ nhậu nhẹt thường xuyên và tỏ ra hung hăng trong hành xử, thường dùng bạo lực trong cuộc sống với người trong gia đình hoặc cả với người khác, cần được kiểm tra sức khoẻ tâm thần và đánh giá mức rối loạn hành vi để được điều trị về mặt tâm lý (nhằm học cách kiểm soát hành vi, đôi khi phải hỗ trợ bằng thuốc cai nghiện) mà chỉ khi hoàn thành việc điều trị trước nhà chuyên môn mới được trở lại các sinh hoạt đời thường và tiếp cận những người mà anh ta phải cam kết không được gây tổn hại hoặc khiến họ lo sợ hay bất an về sự tiếp xúc của họ.

———

CÁC TRƯỜNG HỢP ÁN LỆ TƯƠNG TỰ TRÊN THẾ GIỚI

1. Francine Hughes (Mỹ, 1977)
Sau 13 năm bị chồng (Mickey Hughes) bạo hành thể chất, tinh thần và tình dục, Francine đã châm lửa đốt giường ngủ của chồng khi ông ta đang ngủ say (ngày 9/3/1977, tại Michigan). Bà được bồi thẩm đoàn tha bổng (not guilty by reason of temporary insanity) nhờ lập luận về tình trạng bạo hành tâm lý kéo dài, khiến bà không còn khả năng kiểm soát hành vi. Đây là một trong những vụ đầu tiên sử dụng khái niệm “battered woman syndrome” làm cơ sở bào chữa, dù thuật ngữ này chưa được chính thức hóa lúc đó. Vụ án đã truyền cảm hứng cho phim The Burning Bed (1984) và thay đổi nhận thức xã hội về bạo lực gia đình ở Mỹ.

2. Sara Thornton (Anh, 1990s)
Sara bị chồng (Malcolm Thornton, một người nghiện rượu) bạo hành nghiêm trọng trong 18 tháng (bao gồm đánh đập con gái bà và đe dọa giết). Ngày 12/6/1989, bà đâm chồng đến chết trong lúc cãi vã. Ban đầu bị kết án tù chung thân vì tội giết người (murder), nhưng sau chiến dịch vận động lớn (do Justice for Women dẫn dắt), bà được kháng cáo thành công năm 1995. Tòa án xem xét “battered woman syndrome” như yếu tố làm giảm trách nhiệm (diminished responsibility), dẫn đến xét xử lại và án được giảm xuống (cuối cùng bà được thả sau 8 năm tù). Vụ án này đã thúc đẩy cải cách luật về khiêu khích (provocation) ở Anh.

3. Kiranjit Ahluwalia (Anh, 1989)
Là phụ nữ gốc Ấn, Kiranjit bị chồng (Deepak Ahluwalia) đánh đập, lạm dụng tình dục và tâm lý suốt 10 năm. Ngày 9/5/1989, bà châm lửa đốt chăn ga khi chồng ngủ. Ban đầu bị kết án tù chung thân vì giết người (murder) năm 1989, nhưng sau kháng cáo năm 1992 (dẫn đầu bởi Southall Black Sisters), tội danh được giảm xuống ngộ sát (manslaughter) do “mất kiểm soát tạm thời” (provocation) và ảnh hưởng của “battered woman syndrome”. Bà được thả sau 3,5 năm tù. Vụ án đã thay đổi định nghĩa pháp lý về khiêu khích ở Anh, giúp các nạn nhân bạo hành khác (như Sara Thornton và Emma Humphreys).

Address

Địa Chỉ: Nhà 24 Ngõ 205/37 Xuân Đỉnh, Bắc Từ Liêm
Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when HÃNG LUẬT HEVA posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share