Luật sư vì Cộng đồng

Call Directions Website Contact the business

Luật sư vì Cộng đồng Chung tay - Vì một nền pháp lý công bằng là một Luật sư tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé để xã hội này được công bằng hơn.

Sẵn sàng tư vấn miễn phí cho người có hoàn cảnh khó khăn, người khuyết tật, phụ nữ và người già...

🎯SỰ KHÁC NHAU GIỮA GIÁM HỘ VÀ ĐẠI DIỆN🎯Giám hộ và đại diện là hai chế định được quy định rõ trong Bộ Luật dân sự 2015 ( ...
14/07/2026

🎯SỰ KHÁC NHAU GIỮA GIÁM HỘ VÀ ĐẠI DIỆN🎯
Giám hộ và đại diện là hai chế định được quy định rõ trong Bộ Luật dân sự 2015 ( Mục 4 Chương III về giám hộ và Chương IX về đại diện).
👉Về khái niệm:
- Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
- Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
=> Như vậy, về bản chất giám hộ và đại diện là 2 khái niệm hoàn toàn khác nhau, giám hộ là thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ. Còn đại diện là nhân danh và vì lợi ích hợp pháp của người được đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
Người giám hộ có thể đồng thời là đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật. Còn người đại diện chưa chắc đã là người giám hộ.
👉Về căn cứ xác lập:
- Đối với giám hộ:Phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
- Đối với đại diện: Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền; theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.
👉Về phạm vi thực hiện:
* Đối với người giám hộ:
- Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ;
- Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;
- Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
* Đối với đại diện:
Người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện theo căn cứ sau đây:
- Quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
- Điều lệ của pháp nhân;
- Nội dung ủy quyền;
- Quy định khác của pháp luật.
👉Về đối tượng:
* Người được giám hộ bao gồm:
- Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ;
- Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ;
- Người mất năng lực hành vi dân sự;
- Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
* Trường hợp đại diện
+ Đại diện theo pháp luật của cá nhân
- Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
- Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định.
- Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện.
- Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
+ Đại diện theo pháp luật của pháp nhân
- Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ;
- Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật;
- Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án.
+ Đại diện theo ủy quyền
- Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
- Các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân.
- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện.
👉Về trường hợp chấm dứt:
* Việc giám hộ chấm dứt trong trường hợp sau đây:
- Người được giám hộ đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Người được giám hộ chết;
- Cha, mẹ của người được giám hộ là người chưa thành niên đã có đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình;
- Người được giám hộ được nhận làm con nuôi.
* Đại diện chấm dứt trong các trường hợp sau:
+ Đại diện theo ủy quyền
- Theo thỏa thuận;
- Thời hạn ủy quyền đã hết;
- Công việc được ủy quyền đã hoàn thành;
- Người được đại diện hoặc người đại diện đơn phương chấm dứt thực hiện việc ủy quyền;
- Người được đại diện, người đại diện là cá nhân chết; người được đại diện, người đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại;
- Người đại diện không còn đủ điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 134 của Bộ luật dân sự;
- Căn cứ khác làm cho việc đại diện không thể thực hiện được.
+ Đại diện theo pháp luật:
- Người được đại diện là cá nhân đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã được khôi phục;
- Người được đại diện là cá nhân chết;
- Người được đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại;
- Căn cứ khác theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc luật khác có liên quan.
--------------------------------------------------------------------------
Công ty Luật TNHH Bảo Tín⚖️⚖️⚖️
🕍Trụ sở: Số 48, ngõ 169 phố Tây Sơn, phường Kim Liên, thành phố Hà Nội.
🏢Văn phòng giao dịch: Số 33 phố Mạc Thái Tổ, phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội.
🌐Website: http://luatbaotin.com.vn/
☎️Call: 0963. 28 92 72 - 0915. 98 83 83
📩Email: [email protected]

⚖️ TÌNH THẾ CẤP THIẾT: GÂY THIỆT HẠI ĐỂ NGĂN CHẶN THIỆT HẠI LỚN HƠN CÓ PHẢI PHẠM TỘI?🎯Trong thực tế cuộc sống, không phả...
03/07/2026

⚖️ TÌNH THẾ CẤP THIẾT: GÂY THIỆT HẠI ĐỂ NGĂN CHẶN THIỆT HẠI LỚN HƠN CÓ PHẢI PHẠM TỘI?
🎯Trong thực tế cuộc sống, không phải lúc nào một hành vi gây thiệt hại cũng bị coi là hành vi phạm tội. Có những trường hợp một người buộc phải lựa chọn gây ra một thiệt hại nhất định để ngăn chặn một nguy cơ lớn hơn đang đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, tài sản hoặc các lợi ích hợp pháp khác. Pháp luật hình sự Việt Nam gọi đó là “tình thế cấp thiết” và coi đây là một trong những căn cứ loại trừ tính chất tội phạm của hành vi.
👉Theo Điều 23 BLHS, tình thế cấp thiết được quy định như sau:
“ Điều 23. Tình thế cấp thiết
1. Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.
2. Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.”
🎯Có thể thấy, quy định này thể hiện rõ quan điểm: trong một số hoàn cảnh đặc biệt việc bảo vệ lợi ích lớn hơn của xã hội có thể đòi hỏi phải chấp nhận hy sinh một lợi ích nhỏ hơn. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp gây thiệt hại để “xử lý tình huống khẩn cấp” đều được coi là tình thế cấp thiết. Để được pháp luật bảo vệ, hành vi đó phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định.
+ Phải có sự nguy hiểm đang đe dọa gây thiệt hại ngay tức khắc
Đây là dấu hiệu quan trọng đầu tiên của tình thế cấp thiết. Sự nguy hiểm phải đang tồn tại trên thực tế, đang diễn ra hoặc sắp xảy ra một cách rõ ràng và có khả năng gây thiệt hại ngay lập tức cho các lợi ích được pháp luật bảo vệ. Nguồn gốc của sự nguy hiểm rất đa dạng. Đó có thể là thiên tai, hỏa hoạn, sự cố kỹ thuật, tai nạn giao thông, động vật tấn công hoặc các tình huống khách quan khác. Ví dụ một đám cháy đang lan nhanh sang khu dân cư, một chiếc xe mất phanh đang lao về phía đám đông hoặc một con tàu đang gặp sự cố giữa biển trong điều kiện thời tiết cực đoan đều có thể tạo ra tình thế cấp thiết.
Ngược lại nếu sự nguy hiểm chưa xuất hiện hoặc đã kết thúc thì sẽ không đủ điều kiện áp dụng chế định này. Chẳng hạn, chỉ vì nghe tin có khả năng xảy ra bão trong vài ngày tới mà tự ý hủy hoại tài sản của người khác để phòng ngừa thì không thể coi là hành động trong tình thế cấp thiết.
+ Việc gây thiệt hại là biện pháp duy nhất để khắc phục sự nguy hiểm vì trong tình thế đó không còn cách nào khác
Đây là điều kiện tiên quyết cho thấy sự “cấp thiết” của tình huống. Người thực hiện hành vi phải ở trong hoàn cảnh không còn giải pháp hợp lý nào khác để ngăn ngừa thiệt hại. Nói cách khác, nếu vẫn còn biện pháp khác ít gây thiệt hại hơn mà có thể áp dụng được thì việc lựa chọn gây thiệt hại sẽ không được coi là hành động trong tình thế cấp thiết. Điều này đòi hỏi họ phải cân nhắc tất cả các phương án về khả năng đe dọa ngay tức khắc của sự nguy hiểm. Tuy nhiên, trên thực tế khi có tình thế cấp thiết xảy ra thì không phải ai cũng đủ bình tĩnh để suy xét lựa chọn giải pháp tối ưu. Vì vậy, đánh giá hành vi gây thiệt hại có phải là tình thế cấp thiết hay không phải căn cứ vào tình hình cụ thể lúc xảy ra sự việc và đánh giá khách quan toàn diện.
Bên cạnh đó, mục đích khi thực hiện hành vi là để loại trừ hoặc giảm nhẹ nguy hiểm đang đe dọa. Nếu hành vi gây thiệt hại xuất phát từ động cơ khác thì dù có ngăn chặn được nguy hiểm đi chăng nữa cũng không được coi là tình thế cấp thiết.
+Thiệt hại gây ra phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
Đây là nguyên tắc cốt lõi của tình thế cấp thiết. Pháp luật chỉ cho phép gây ra một thiệt hại nhỏ hơn nhằm bảo vệ một lợi ích lớn hơn. Để đánh giá so sánh giữa 02 loại thiệt hại cũng cần xem xét khách quan, toàn diện bởi thiệt hại gây ra là có thật còn thiệt hại muốn tránh là cái trừu tượng, vô hình, không thể cân đo đong điếm.
🔹Phân biệt tình thế cấp thiết với phòng vệ chính đáng.
Đây là hai chế định thường bị nhầm lẫn trong thực tiễn. Đối với phòng vệ chính đáng, sự nguy hiểm xuất phát từ hành vi tấn công trái pháp luật của con người và hành vi chống trả hướng trực tiếp vào người đang thực hiện hành vi tấn công. Trong khi đó, đối với tình thế cấp thiết, sự nguy hiểm có thể xuất phát từ thiên nhiên, động vật, sự cố kỹ thuật hoặc nhiều nguồn khác. Hành vi gây thiệt hại thường hướng đến tài sản hoặc lợi ích khác nhằm ngăn chặn một thiệt hại lớn hơn đang đe dọa xảy ra.
🔹 Vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết vẫn có thể bị xử lý hình sự.
Khoản 2 Điều 23 Bộ luật Hình sự quy định người gây thiệt hại vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự nếu thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết. Điều này có thể xảy ra khi người thực hiện lựa chọn biện pháp không cần thiết, gây ra thiệt hại quá lớn so với nguy cơ cần ngăn chặn hoặc lợi dụng hoàn cảnh cấp thiết để thực hiện hành vi trái pháp luật. Do đó, pháp luật không cho phép viện dẫn tình thế cấp thiết một cách tùy tiện. Mọi hành vi đều phải được đánh giá dựa trên hoàn cảnh cụ thể, mức độ nguy hiểm thực tế và sự cân bằng giữa lợi ích được bảo vệ với thiệt hại đã gây ra.
🔎 Tình thế cấp thiết là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ những người buộc phải hành động trong hoàn cảnh đặc biệt để ngăn chặn nguy hiểm cho xã hội. Tuy nhiên, việc nhận định đúng tình thế cấp thiết và ứng xử phù hợp trong giới hạn luật định là yếu tố quan trọng để tránh những hậu quả pháp lý không đáng có.
--------------------------------------------------------------------------
Công ty Luật TNHH Bảo Tín⚖️⚖️⚖️
🕍Trụ sở: Số 48, ngõ 169 phố Tây Sơn, phường Kim Liên, thành phố Hà Nội.
🏢Văn phòng giao dịch: Số 33 phố Mạc Thái Tổ, phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội.
🌐Website: http://luatbaotin.com.vn/
☎️Call: 0963. 28 92 72 - 0915. 98 83 83
📩Email: [email protected]

CHÀO TUỔI 13 !!!🎁:Trân trọng cảm ơn các luật sư đồng nghiệp, các trợ lý luật sư Công ty Luật Bảo tín (qua nhiều thế hệ) ...
27/06/2026

CHÀO TUỔI 13 !!!🎁:

Trân trọng cảm ơn các luật sư đồng nghiệp, các trợ lý luật sư Công ty Luật Bảo tín (qua nhiều thế hệ) đã luôn đồng hành, chung sức, chung lòng, đặc biệt bằng lương tâm nghề nghiệp để cùng nhau xây dựng Công ty Luật Bảo Tín ngày càng lớn mạnh và uy tín trong lòng bà con trên mọi miền Tổ quốc.

TRÂN TRỌNG VÀ CẢM ƠN VÌ TẤT CẢ!!!

🎯KHÔNG CÓ GIẤY VAY TIỀN, NGƯỜI VAY LẠI KHÔNG TRẢ NỢ: CÓ KHỞI KIỆN ĐƯỢC KHÔNG?🎯Nhiều người vì tin tưởng bạn bè, người thâ...
26/06/2026

🎯KHÔNG CÓ GIẤY VAY TIỀN, NGƯỜI VAY LẠI KHÔNG TRẢ NỢ: CÓ KHỞI KIỆN ĐƯỢC KHÔNG?🎯
Nhiều người vì tin tưởng bạn bè, người thân hoặc đối tác nên khi cho vay tiền chỉ chuyển khoản không có nội dung, nhắn tin qua điện thoại hoặc thậm chí chỉ thỏa thuận bằng lời nói. Đến khi đòi nợ, người vay liên tục khất lần, chặn liên lạc hoặc phủ nhận việc vay tiền khiến không ít người cho vay rơi vào tình trạng “tiền mất nhưng không biết phải làm gì”.
Thực tế, pháp luật không bắt buộc hợp đồng vay tiền đều phải được lập thành văn bản. Theo Điều 463 và 119 BLDS năm 2015 đã quy định:
“ Điều 463. Hợp đồng vay tài sản
Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”
“ Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự
1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.
2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.”
👉Như vậy, việc không có giấy vay tiền không đồng nghĩa với việc người cho vay mất quyền khởi kiện. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi của mình, người cho vay cần thu thập các tài liệu, chứng cứ chứng minh khoản vay thực sự tồn tại. Những chứng cứ này có thể là tin nhắn, email, lịch sử cuộc gọi, ghi âm cuộc trao đổi, sao kê chuyển khoản ngân hàng có nội dung liên quan đến việc vay tiền hoặc lời khai của những người chứng kiến việc giao nhận tiền. Trong nhiều trường hợp, chỉ một tin nhắn người vay thừa nhận khoản nợ cũng có thể trở thành chứng cứ quan trọng trước Tòa án.
👉Trước khi khởi kiện, người cho vay nên gửi văn bản hoặc tin nhắn yêu cầu thanh toán, nêu rõ số tiền đã vay, thời hạn trả nợ, thời gian đã quá hạn và yêu cầu người vay thực hiện nghĩa vụ trong một thời hạn cụ thể. Đây không chỉ là cơ hội để các bên tự giải quyết tranh chấp mà còn là căn cứ chứng minh người cho vay đã nhiều lần yêu cầu thanh toán nhưng bên vay cố tình không thực hiện.
👉Cũng cần lưu ý rằng, để hợp đồng vay được pháp luật bảo vệ, giao dịch vay phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực theo BLDS năm 2015 như các bên hoàn toàn tự nguyện, có năng lực hành vi dân sự phù hợp, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đối với lãi suất vay, Điều 468 BLDS năm 2015 quy định các bên được quyền thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm. Nếu các bên thỏa thuận mức lãi suất cao hơn thì phần vượt quá sẽ không được pháp luật công nhận và bảo vệ.
👉Trường hợp người vay vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, người cho vay có quyền nộp đơn khởi kiện tại Tòa án khu vực nơi người vay cư trú hoặc làm việc để yêu cầu thanh toán khoản nợ gốc, tiền lãi hợp pháp. Hồ sơ khởi kiện bao gồm đơn khởi kiện, giấy tờ tùy thân của người khởi kiện và toàn bộ tài liệu, chứng cứ chứng minh quan hệ vay tài sản giữa các bên.
👉 Đáng chú ý, không phải mọi trường hợp vay tiền rồi không trả đều bị truy cứu TNHS. Việc người vay mất khả năng thanh toán hoặc chậm trả nợ thông thường chủ yếu là quan hệ dân sự. Tuy nhiên, nếu có căn cứ cho thấy người vay ngay từ đầu đã sử dụng thủ đoạn gian dối để vay tiền, cố tình bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc nhận tiền rồi sử dụng vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến mất khả năng thanh toán thì có thể được xem xét dưới góc độ hình sự về các tội danh như lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của BLHS.
👉Một vấn đề mà nhiều người thường bỏ qua là khả năng thi hành án. Trên thực tế, thắng kiện không đồng nghĩa với việc chắc chắn thu hồi được tiền. Vì vậy, trước khi khởi kiện, người cho vay nên tìm hiểu về tài sản, thu nhập hoặc điều kiện thi hành án của người vay. Nếu người vay không có tài sản hoặc không có nguồn thu nhập để thi hành án thì việc thu hồi khoản nợ trên thực tế sẽ gặp nhiều khó khăn dù đã có bản án có hiệu lực pháp luật.
👉Ngoài ra, khi đòi nợ, người cho vay cần hết sức tỉnh táo và lựa chọn các biện pháp hợp pháp. Việc đe dọa, hành hung, giữ người, tạt sơn, đăng tải thông tin cá nhân nhằm bôi nhọ danh dự hoặc sử dụng các hình thức “đòi nợ thuê” trái pháp luật không những không giúp thu hồi được khoản nợ mà còn có thể khiến chính người cho vay phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Do đó, khi người vay cố tình không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, giải pháp an toàn và hiệu quả nhất vẫn là chủ động thu thập chứng cứ, thực hiện các thủ tục pháp lý cần thiết và yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
--------------------------------------------------------------------------
Công ty Luật TNHH Bảo Tín⚖️⚖️⚖️
🕍Trụ sở: Số 48, ngõ 169 phố Tây Sơn, phường Kim Liên, thành phố Hà Nội.
🏢Văn phòng giao dịch: Số 33 phố Mạc Thái Tổ, phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội.
🌐Website: http://luatbaotin.com.vn/
☎️Call: 0963. 28 92 72 - 0915. 98 83 83
📩Email: [email protected]

🎯ĐỒNG PHẠM TRONG LUẬT HÌNH SỰ: KHÔNG TRỰC TIẾP THỰC HIỆN HÀNH VI VẪN CÓ THỂ BỊ XỬ LÝ HÌNH SỰ🎯👉Trong nhiều vụ án hình sự,...
19/06/2026

🎯ĐỒNG PHẠM TRONG LUẬT HÌNH SỰ: KHÔNG TRỰC TIẾP THỰC HIỆN HÀNH VI VẪN CÓ THỂ BỊ XỬ LÝ HÌNH SỰ🎯
👉Trong nhiều vụ án hình sự, không phải chỉ người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội mới phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trên thực tế, có những trường hợp nhiều người cùng tham gia, hỗ trợ, xúi giục hoặc tạo điều kiện để tội phạm xảy ra. Khi đó, hành vi có thể được xác định là đồng phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự.
👉Theo quy định của Bộ luật Hình sự, đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Điều này đồng nghĩa, để xác định đồng phạm phải có sự thống nhất ý chí giữa những người cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội và tất cả đều nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội.
👉Trong đồng phạm, pháp luật phân chia thành nhiều vai trò khác nhau gồm: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục và người giúp sức. Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu hoặc chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Người thực hành là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ hoặc thúc đẩy người khác phạm tội. Người giúp sức là người tạo điều kiện về tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
Nhiều người cho rằng bản thân chỉ “đi cùng”, “biết nhưng không can ngăn”, “cho mượn xe”, “cảnh giới giúp” hoặc “hỗ trợ một phần nhỏ” thì sẽ không bị xử lý. Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định việc hỗ trợ đó là cố ý nhằm tạo điều kiện cho hành vi phạm tội xảy ra thì vẫn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm.
👉Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp nhiều người cùng xuất hiện tại hiện trường đều mặc nhiên là đồng phạm. Cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ yếu tố lỗi cố ý, sự bàn bạc, thống nhất ý chí và mức độ tham gia của từng người trong vụ án để xác định trách nhiệm hình sự tương ứng.
Việc phân hóa vai trò đồng phạm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, bởi đây là căn cứ để đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi cũng như quyết định hình phạt đối với từng bị can, bị cáo.
Trong vụ án đồng phạm, không chỉ người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội mới bị xử lý. Chỉ cần cố ý cùng tham gia hoặc tạo điều kiện cho tội phạm xảy ra thì vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
--------------------------------------------------------------------------
Công ty Luật TNHH Bảo Tín⚖️⚖️⚖️
🕍Trụ sở: Số 48, ngõ 169 phố Tây Sơn, phường Kim Liên, thành phố Hà Nội.
🏢Văn phòng giao dịch: Số 33 phố Mạc Thái Tổ, phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội.
🌐Website: http://luatbaotin.com.vn/
☎️Call: 0963. 28 92 72 - 0915. 98 83 83
📩Email: [email protected]

🎯Quy định về giám hộ theo Bộ luật Dân sự năm 2015🎯 👉Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban n...
12/06/2026

🎯Quy định về giám hộ theo Bộ luật Dân sự năm 2015🎯
👉Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được lựa chọn làm người giám hộ (trong trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn là người giám hộ nếu người này đồng ý. Việc lựa chọn người giám hộ phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ).
👉Để thực hiện, bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích của người được giám hộ, pháp luật quy định như sau:
- Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền lựa chọn người giám hộ cho mình khi họ ở tình trạng cần được giám hộ;
- Việc cử, chỉ định người giám hộ cho người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người này;
- Pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám hộ và có điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ thì được làm người giám hộ;
- Việc giám hộ đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được thực hiện theo các nguyên tắc: Việc giám hộ phải được sự đồng ý của người đó nếu họ có năng lực thể hiện ý chí của mình tại thời điểm yêu cầu; người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do Tòa án chỉ định theo sự lựa chọn của người được giám hộ trước khi họ ở tình trạng cần được giám hộ, trường hợp không có người này thì Tòa án chỉ định trong số những người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự, nếu không có những người trên thì Tòa án chỉ định một cá nhân hoặc đề nghị một pháp nhân thực hiện việc giám hộ; người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có quyền, nghĩa vụ theo quyết định của Tòa án trong số các quyền, nghĩa vụ của người giám hộ cho người mất năng lực hành vi dân sự;
- Người thân thích của người được giám hộ có quyền thỏa thuận về việc chọn cá nhân, pháp nhân khác không phải là người thân thích của người được giám hộ làm người giám sát việc giám hộ;
- Việc giám hộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về hộ tịch (kể cả giám hộ đương nhiên); người giám hộ đương nhiên mà không đăng ký việc giám hộ thì vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của người giám hộ. Trường hợp có tranh chấp về giám hộ thì được giải quyết theo thủ tục tố tụng tại Tòa án.
👉Có hai loại giám hộ:
Người giám hộ đương nhiên: Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ; có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ, được xác định theo thứ tự sau đây:
- Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ.
- Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều này thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ.
- Trường hợp không có người giám hộ quy định nêu trên thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.
+ Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau: Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ. Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ. Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.
- Người giám hộ do được cử, chỉ định
Trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ.
Trường hợp có tranh chấp giữa những người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự và người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ.
Trường hợp cử, chỉ định người giám hộ cho người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người này.
Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do Tòa án chỉ định trong số những người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự. Trường hợp không có người giám hộ theo quy định trên, Tòa án chỉ định người giám hộ hoặc đề nghị một pháp nhân thực hiện việc giám hộ.
--------------------------------------------------------------------------
Công ty Luật TNHH Bảo Tín⚖️⚖️⚖️
🕍Trụ sở: Số 48, ngõ 169 phố Tây Sơn, phường Kim Liên, thành phố Hà Nội.
🏢Văn phòng giao dịch: Số 33 phố Mạc Thái Tổ, phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội.
🌐Website: http://luatbaotin.com.vn/
☎️Call: 0963. 28 92 72 - 0915. 98 83 83
📩Email: [email protected]
Trân trọng !

🎯TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC: XÚC PHẠM DANH DỰ, NHÂN PHẨM KHÔNG CHỈ DỪNG LẠI Ở “LỜI NÓI”🎯Trong thời đại mạng xã hội phát tri...
05/06/2026

🎯TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC: XÚC PHẠM DANH DỰ, NHÂN PHẨM KHÔNG CHỈ DỪNG LẠI Ở “LỜI NÓI”🎯
Trong thời đại mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, không ít người vì mâu thuẫn cá nhân, bức xúc nhất thời hoặc muốn thu hút sự chú ý mà công khai chửi bới, nhục mạ, đăng tải hình ảnh, video nhằm hạ thấp danh dự của người khác. Nhiều người cho rằng đây chỉ là “xích mích cá nhân”, “nói cho hả giận” hoặc đơn giản là tranh cãi trên mạng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, hành vi xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm người khác có thể bị xử lý hình sự về tội “Làm nhục người khác” theo Điều 155 Bộ luật Hình sự.
- Về khách thể: Tội phạm này xâm phạm trực tiếp đến quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm của con người được quy định tại Điều 20 Hiến pháp năm 2013: "Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không ai bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm."
- Về mặt khách quan: Hành vi khách quan của tội làm nhục người khác là hành vi xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người khác. Những hình thức biểu hiện của hành vi này rất đa dạng có thể là dùng lời lẽ thô tục, chửi bới, miệt thị, nhạo báng, bêu xấu nhằm hạ thấp giá trị, nhân cách của nạn nhân trước nhiều người. Không chỉ dừng ở lời nói, hành vi làm nhục còn có thể được thực hiện thông qua các cử chỉ, hành động như ép người khác quỳ gối, lột quần áo, ném chất bẩn, quay video phát tán lên mạng xã hội hoặc sử dụng các phương tiện điện tử để xúc phạm công khai.
Hiện nay, nhiều vụ việc livestream chửi bới, đăng bài “bóc phốt”, phát tán clip riêng tư nhằm hạ nhục người khác trên không gian mạng đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, tâm lý và cuộc sống của nạn nhân. Có trường hợp nạn nhân bị khủng hoảng tinh thần, ảnh hưởng công việc, gia đình, thậm chí dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, không phải mọi lời nói thiếu chuẩn mực hay mâu thuẫn đều cấu thành tội phạm. Để bị xử lý hình sự, hành vi xúc phạm phải mang tính nghiêm trọng. Việc đánh giá tính nghiêm trọng được xem xét dựa trên nhiều yếu tố như mức độ xúc phạm, phạm vi lan truyền, thời gian kéo dài của hành vi, môi trường xảy ra sự việc, thái độ của người thực hiện cũng như hậu quả tinh thần đối với nạn nhân.
Đáng chú ý, tội “Làm nhục người khác” là tội phạm có cấu thành hình thức. Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người khác mà không bắt buộc phải có hậu quả xảy ra. Tuy vậy, trên thực tế, hành vi này thường để lại tổn thương rất lớn về tinh thần cho nạn nhân và ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội.
- Về mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Họ nhận thức được việc làm của mình là xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác nhưng vẫn thực hiện hoặc bỏ mặc hậu quả xảy ra.
- Về chủ thể: Người từ đủ 16 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
- Về hình thức xử phạt đối với tội “Làm nhục người khác”: Theo Điều 155 Bộ luật Hình sự, người phạm tội “Làm nhục người khác” có thể bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 05 năm tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi.
Danh dự, nhân phẩm là quyền nhân thân được pháp luật bảo vệ. Một bài đăng, một đoạn livestream hay vài lời xúc phạm trên mạng xã hội tưởng chừng “cho hả giận” nhưng trong nhiều trường hợp hoàn toàn có thể trở thành căn cứ xử lý hình sự.
--------------------------------------------------------------------------
Công ty Luật TNHH Bảo Tín⚖️⚖️⚖️
🕍Trụ sở: Số 48, ngõ 169 phố Tây Sơn, phường Kim Liên, thành phố Hà Nội.
🏢Văn phòng giao dịch: Số 33 phố Mạc Thái Tổ, phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội.
🌐Website: http://luatbaotin.com.vn/
☎️Call: 0963. 28 92 72 - 0915. 98 83 83
📩Email: [email protected]
Trân trọng !

10 TRIỆU TIKTOKER, YOUTUBE ĐỨNG TRƯỚC RANH GIỚI MONG MANH CỦA "LÀM BÁO" VÀ SÁNG TẠO NỘI DUNG (Nđ 174 sắp có hiệu lực)
28/05/2026

10 TRIỆU TIKTOKER, YOUTUBE ĐỨNG TRƯỚC RANH GIỚI MONG MANH CỦA "LÀM BÁO" VÀ SÁNG TẠO NỘI DUNG (Nđ 174 sắp có hiệu lực)

Nghị định 174 sắp có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 đang khiến cộng đồng sáng tạo nội dung đặc biệt quan tâm, nhất là với các quy định liên quan đến chia sẻ thông tin báo chí trên môi trường số.

🎯Thừa kế theo pháp luật dân sự - những điều cần biết🎯Theo quy định tại Điều 649 Bộ luật Dân sự năm 2015: Thừa kế theo ph...
23/05/2026

🎯Thừa kế theo pháp luật dân sự - những điều cần biết🎯
Theo quy định tại Điều 649 Bộ luật Dân sự năm 2015: Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.
1. Các trường hợp thừa kế theo pháp luật
Theo quy định tại Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
- Không có di chúc: Đây là trường hợp theo quy định của pháp luật thì người để lại di sản có năng lực chủ thể trong việc lập di chúc nhưng người này lại không thực hiện quyền lập di chúc, do đó không có di chúc.
- Di chúc không hợp pháp: Người để lại di sản có để lại di chúc nhưng di chúc đó vi phạm các điều kiện có hiệu lực của di chúc do pháp luật quy định. Trường hợp này di chúc bị coi là vô hiệu nên di sản được chia theo pháp luật.
- Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế. Trong trường hợp này, di chúc sẽ bị coi là vô hiệu và di sản được chia theo pháp luật. Tuy nhiên, nếu chỉ có một trong số những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản (đối với cá nhân) hoặc một trong số cơ quan, tổ chức không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di sản liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này vô hiệu và được chia thừa kế theo pháp luật.
- Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý có trường hợp người thừa kế nhường quyền thừa kế của mình cho người khác (thực chất là người thừa kế cho người khác phần di sản mà lẽ ra họ được hưởng) thì cũng không coi là từ chối quyền hưởng di sản.
Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:
- Phần di sản không được định đoạt trong di chúc: Người để lại di sản có nhiều di sản nhưng họ chỉ định đoạt một phần nhất định trong tổng số khối di sản do họ để lại. Đối với phần di sản không được định đoạt trong di chúc sẽ được chia theo pháp luật.
- Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật: Nếu di chúc có một phần vô hiệu mà không ảnh hưởng đến các phần còn lại thì chỉ phần di sản có liên quan đến phần của di chúc vô hiệu được chia theo pháp luật còn các phần khác vẫn được chia theo ý chí của người lập di chúc.
- Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
2. Người thừa kế theo pháp luật
Theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất
Gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
Quan hệ thừa kế giữa vợ với chồng và ngược lại: Vợ sẽ được thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của chồng và ngược lại. Tuy nhiên, chỉ coi là vợ chồng nếu hai bên nam nữ kết hôn hợp pháp.
Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ đẻ với con đẻ và ngược lại: Cha đẻ, mẹ đẻ, con đẻ được thừa kế theo pháp luật của nhau. Con đẻ được hưởng thừa kế của cha mẹ đẻ không kể là con trong giá thú hay con ngoài giá thú và ngược lại.
Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ nuôi với con nuôi và ngược lại: Để có thể được hưởng thừa kế thì quan hệ nhận nuôi con nuôi phải hợp pháp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
b) Hàng thừa kế thứ hai
Gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.
Quan hệ thừa kế giữa ông nội, bà nội với cháu nội, giữa ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại và ngược lại: Ông bà nội là người sinh ra cha của cháu, ông bà ngoại là người đã sinh ra mẹ của cháu. Nếu cháu (ruột) chết thì ông bà nội, ông bà ngoại sẽ ở hàng thừa kế thứ hai của cháu và ngược lại.
Quan hệ thừa kế giữa anh chị ruột với em ruột và ngược lại: Mặc dù pháp luật không quy định cụ thể nhưng có thể hiểu anh chị em ruột là anh chị em cùng cha hoặc cùng mẹ. Do vậy, nếu anh chị ruột chết trước em ruột thì em ruột được hưởng thừa kế của anh, chị ruột và ngược lại.
c) Hàng thừa kế thứ ba
Gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Khi chia thừa kế theo hàng thừa kế, những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
Những người ở hàng thừa kếsau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
3. Thừa kế thế vị
Theo quy định tại Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015, người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp người thừa kế không còn sống vào thời điểm mở thừa kế (chết trước hoặc chết cùng với người để lại di sản).
Để đảm bảo quyền lợi cho những người có quan hệ huyết thống trực hệ trong phạm vi gần gũi, pháp luật quy định về thừa kế thế vị như sau (Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015):
“Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.”
Một người cha (mẹ) có bao nhiêu người con thì bấy nhiêu người con đó (cháu của ông bà) sẽ được hưởng thừa kế thế vị của ông bà nếu cha (mẹ) chết trước ông (bà) (tất cả những người con này chỉ được hưởng một suất thừa kế mà lẽ ra cha hoặc mẹ của những người này được hưởng nếu còn sống). Tương tự như vậy, nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì (tất cả) chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.
--------------------------------------------------------------------------
Công ty Luật TNHH Bảo Tín⚖️⚖️⚖️
🕍Trụ sở: Số 48, ngõ 169 phố Tây Sơn, phường Kim Liên, thành phố Hà Nội.
🏢Văn phòng giao dịch: Số 33 phố Mạc Thái Tổ, phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội.
🌐Website: http://luatbaotin.com.vn/
☎️Call: 0963. 28 92 72 - 0915. 98 83 83
📩Email: [email protected]
Trân trọng !

Address

Tầng 5, Tòa Nhà Thăng Long Tower, Số 33, Đường Mạc Thái Tổ, Phường Yên Hòa, Quận Cầu Giấy
Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật sư vì Cộng đồng posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Luật sư vì Cộng đồng:

Shortcuts

Share