Những Rủi Ro, Vướng Mắc Trong DN Thương Mại Và DN Xây Dựng

  • Home
  • Vietnam
  • Hanoi
  • Những Rủi Ro, Vướng Mắc Trong DN Thương Mại Và DN Xây Dựng

Những Rủi Ro, Vướng Mắc Trong DN Thương Mại Và DN Xây Dựng Tư Vấn Rủi Ro Pháp lý Kinh Doanh

Những Nguyên Nhân Dẫn Đến Tranh Chấp Trong Hợp Đồng Thi Công Xây Dựng? Thi công xây dựng là một trong những hoạt động ti...
25/09/2023

Những Nguyên Nhân Dẫn Đến Tranh Chấp Trong Hợp Đồng Thi Công Xây Dựng?

Thi công xây dựng là một trong những hoạt động tiềm ẩn rủi ro và tranh chấp xảy ra nhiều nhất. Những nguyên nhân gây ra tranh chấp thường tập trung vào một số vấn đề đó lá: Tranh chấp liên quan đến các yêu cầu bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng bị chậm trễ tiến độ, không đúng thiết kế, không bảo đảm chất lượng; bảo hành công trình, vi phạm các điều khoản hợp đồng, chậm trễ thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng...DFC sẽ phân tích một số nguyên nhân cơ bản phát sinh tranh chấp trong lĩnh vực này như sau

a, Thứ nhất, liên quan đến tiến độ, chất lượng thi công công trình:

- Trong lĩnh vực thi công xây dựng vấn đề tiến độ và chất lượng công trình là các yếu tố quan trọng thường được quy định chặt chẽ tại các hợp đồng thi công xây dựng giữa nhà thầu và Chủ đầu tư. Tuy nhiên, trong quá trình thi công do tác động của nhiều yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau như thời tiết, điều kiện về vốn, nhân lực hoặc có thể do tâm lý xem trọng lợi nhuận làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình…mà không ít các nhà thầu đã thi công công trình không đảm bảo về mặt thời gian hoặc chất lượng công trình.

- Khi đó sẽ xảy ra tranh chấp giữa Chủ đầu tư và nhà thầu thi công về việc phạt vi phạm hợp đồng, hoàn lại tiền ứng trước…

- Khi xảy ra tranh chấp nêu trên để hạn chế rủi ro, chứng minh được lỗi không thuộc về mình, các bên cần lưu ý hoàn thiện các chứng từ để chứng minh đơn vị mình đã hoàn thiện các nội dung công việc theo hợp đồng như:

- Đối với Chủ đầu tư cần có văn bản về việc yêu cầu nhà thầu thi công hoàn thành tiến độ, Biên bản làm việc giữa các bên thể hiện nội dung nhà thầu thi công đã không hoàn thành tiến độ, chứng từ chứng minh về việc đã chuyển tiền tạm ứng theo hợp đồng…

- Đối với nhà thầu thi công: Để hạn chế vấn đề buồi thường thiệt hại cần chứng minh lỗi tiến độ là do lỗi khách quan hoặc do lỗi của Chủ đầu tư…

- Các bên cần lưu ý các điều khoản quy định tại hợp đồng, các quy định tại các văn bản Luật xây dựng … quy định về chất lượng, tiến độ công trình để tìm cách tháo gỡ và giải quyết tranh chấp

b,Thứ hai, về vi phạm nghĩa vụ tanh toán của Chủ đầu tư không cho nhà thầu

- Trong lĩnh vực xây dựng cơ bản thì đây là loại tranh chấp thường xảy ra giữa Chủ đầu tư và nhà thầu thi công. Khi các nhà thầu đã hoàn thành nghĩa vụ thi công theo hợp đồng nhưng Chủ đầu tư lại không tiến hành thanh toán đầy đủ khối lượng mà nhà thầu đã thi công hoặc có thể tìm cách gây khó khăn, chậm trễ thanh toán.

- Để đảm bảo chứng minh hồ sơ của mình đủ điều kiện thanh toán, nhà thầu cần hoàn thiện đầy đủ các chứng từ như Biên bản nghiệm thu khối lượng, biên bản nghiệm thu thanh toán, Xuất đầy đủ hóa đơn GTGT, Gửi công văn đề nghị thanh toán đến Chủ đầu tư…

- Trường hợp hồ sơ của bạn chưa hoàn thiện các chứng từ chứng minh nghĩa vụ thanh toán, bạn cần có nghiệp vụ để hoàn thiện hồ sơ trước khi tiến hành khởi kiện giải quyết tranh chấp.

c, Thứ 3 Tranh chấp do việc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn.

- Dạng tranh chấp do đơn phương chấm dứt hợp đồng là loại tranh chấp thường xảy ra với tất cả các bên (bên Chủ đầu tư hoặc nhà thầu thi công).

- Trong quá trình thi công xây dựng có thể do nhiều lý do khác nhau mà một trong hai bên đã tiến hành chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Khi một trong hai bên chấm dứt hợp đồng sẽ xảy ra thiệt hai cho bên còn lại. Khi quyền và lợi ích của một bên bị xâm phạm thì hệ quả tất yếu đó là tranh chấp sẽ xảy ra giữa các bên về yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng

- Theo quy định của pháp luật dân sự: để chứng minh yêu cầu bồi thường thiệt hại là có cơ sở , buộc bên bị vi phạm phải chứng minh đã có thiệt hại xảy ra và mức độ thiệt hạ

NHỮNG TRANH CHẤP, VƯỚNG MẮC THƯỜNG PHÁT SINH TRONG GIAO DỊCH HĐMB HÀNG HÓA GỒM? Hoạt động mua bán hàng hóa giữa các DN l...
19/09/2023

NHỮNG TRANH CHẤP, VƯỚNG MẮC THƯỜNG PHÁT SINH TRONG GIAO DỊCH HĐMB HÀNG HÓA GỒM?

Hoạt động mua bán hàng hóa giữa các DN là một trong những hoạt động có thể tiềm ần nhiều nguy cơ phát sinh tranh cấp. Tranh chấp xảy ra có thể ở giai đoạn giao hàng, giai đoạn nghiệm thu, lắp đặt chạy thử hoặc ở giai đoạn thanh toán tiền hàng. Trên thực tế, do các bên tin tưởng nhau không làm chặt chẽ các quy trình, dẫn đến khi xảy ra mâu thuẫn, xung đột. Các bên rất khó thương lượng, hòa giải. Với kinh nghiệm hành nghề của mình, Luật sư DFC đưa ra một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại. cụ thể như sau:
a. Tranh chấp liên quan đến chất lượng, số lượng và các tài liệu đi kèm:
Có thể xuất phát từ mục đích lợi nhuận hoặc do các nguyên nhân khác tác động, Người bán đã có những hành vi sai trái, cố tình hoặc vô ý cung cấp cho người mua hàng hóa không đúng chủng loại, chất lượng như thỏa thuận ban đầu. Khi bên mua phát hiện hành vi giao hàng không đúng theo hợp đồng của bên bán, bên mua sẽ không nhận hàng, đề nghị trả lại hàng hoặc yêu cầu hoàn tiền đã ứng trước. Khi đó, mâu thuẫn, xung đột của các bên nảy sinh. Nếu sự việc không căng thẳng, có thể tự giải quyết được; nhưng khi vụ việc trở nên phức tạp hoặc do có sự cố ý của một trong hai bên, thì có thể phải giải quyết bằng thức quyết liệt, mãnh mẽ hơn.
b. Nhận tiền đặt trước nhưng không giao hàng
Trong một số trường hợp vì nhiều lý do chủ quan, khách quan khác nhau đối với người bán như: thiếu hàng, hàng hóa tăng giá đột biến, hoặc những khó khắn phát sinh trong việc vận chuyển giao hàng …., nên nhiều nhà cung cấp sau khi đã nhận tiền đặt cọc, tạm ứng trước một phần tiền hàng của bên mua, đã không giao hàng cho bên mua mà chiếm dụng số tiền đó vào mục đích khác, hết thời hạn quy định hợp đồng vẫn không giao cho bên mua.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự, nếu bên bán mới nhận khoản tiền đặt cọc mà hợp đồng không có thoả thuận khác thì đương nhiên bên bán phải trả cho bên mua với tổng số tiền là 200% giá trị khoản tiền đặt cọc đã nhận khi từ chối thực hiện hợp đồng.
Đối với khoản tiền tạm ứng mua hàng bên bán đã nhận của bên mua thì không thể xử lý như đối với khoản tiền đặt cọc được. Trường hợp này, cần hiểu là bên bán đã chấp nhận bán cho bên mua số lượng hàng hoá có giá trị tương đương với số tiền đã nhận. Vì bất cứ lý do gì (ngoài những lý do pháp luật đã loại trừ), cần tôn trọng và áp dụng nguyên tắc bên bán phải có trách nhiệm giao cho bên mua khối lượng hàng hoá tương đương giá trị tiền đã nhận tại thời điểm đó. Có nghĩa tại thời điểm nhận tiền tạm ứng, bên bán có nghĩa vụ giao cho bên mua đủ số lượng hàng hoá tương đương số tiền theo giá trị hợp đồng.
Khi bên bán không thực hiện được hợp đồng, tức là có vi phạm xảy ra, bên bán có trách nhiệm phải trả bên mua đúng số lượng hàng hoá tương đương với tỷ lệ giá trị hợp đồng đã ký kết mới bảo đảm quyền lợi của bên mua. Nếu hợp đồng không có thoả thuận khác về phạt hợp đồng, bồi thường thiệt hại thì chỉ có thể áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự để giải quyết nội dung tranh chấp.
Việc bên bán tự nguyện hoàn trả số tiền đặt cọc, tiếp tục thực hiện hợp đồng hoặc bồi thường thiệt hại là rất khó. Do đó, cần có một đơn vị chuyên nghiệp giúp bạn giải quyết tranh chấp và thu hồi vốn một cách hiệu quả.
c. Tranh chấp do lỗi của bên mua đã nhận đủ hàng nhưng không tiến hành thanh toán hoặc tiến hành thanh toán không đầy đủ tiền hàng.
Trong thời kỳ kinh tế khó khăn như hiện nay thì thực trạng các bên sau khi đã nhận đầy đủ số lượng hàng hóa theo quy định của hợp đồng nhưng lại không tiến hành thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ giá trị hàng hóa đã nhận được thường xuyên xảy ra. Đây là thực trạng ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh của bên bán. Khi đó sẽ xảy ra tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng.
Tranh chấp trở nên phức tạp và khó giải quyết hơn khi các bên để vụ việc kéo dài và không giải quyết dứt điểm. Trong khi đó, tại thời điểm tiến hành giao nhận hàng do tin tưởng bạn hàng nên quá trình giao nhận hàng diễn ra không đúng như quy định tại hợp đồng, thiếu cơ sở chứng minh đã giao hàng đầy đủ và đảm bảo chất lượng.
Việc bên mua không tự nguyện thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ tiền hàng sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của bên bán. Để đảm bảo hồ sơ của bạn được hoàn thiện về mặt pháp lý và kết hợp thu hồi cợ hiệu quả, Quý khách hàng cần tìm đến đơn vị chuyên nghiệp trong lĩnh vực tư vấn pháp lý giải quyết tranh chấp kết hợp thu hồi công nợ.
d. Do không ký hoàn tất hồ sơ giao hàng, biên bản nghiệm thu lắp đặt, xác nhận tiền hàng:
Trong một số trường hợp khi tiến hành giao dịch mua bán hàng hóa, do sự tin tưởng lẫn nhau nên khi tiến hành giao hàng không có biên bản giao nhận hàng hóa hoặc khi tiến hành giao tiền không có giấy xác nhận đã giao nhận tiền. Do đó, khi phát sinh mâu thuẫn việc giải quyết tranh chấp sẽ gặp những khó khăn rất lớn trong việc chứng minh đã thực hiện giao hàng hoặc đã thực hiện nhận tiền.
Nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự thuộc về bên yêu cầu, trong khi không có các chứng từ xác nhận việc giao hàng hoặc đã giao tiền. Lúc này, để chứng minh cho việc đã giao hàng hoặc đã giao tiền cần phải dựa trên các chứng cứ gián tiếp. Do đó, để tiến hành thu thập và hoàn thiện các chứng từ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có cơ sở là rất khó khăn. Bởi vậy cần có một đơn vị chuyên nghiệp giúp các bên trong việc thu thập những bằng chứng có lợi góp phần chứng minh yêu cầu khởi kiện Là có cơ sở

DN Thi Công Xây Dựng Cần Phải Làm Gì Để Hạn Chế Vướng Mắc, Tranh Chấp Xảy ra?Trong quá trình ký kết, thực hiện hợp đồng ...
16/09/2023

DN Thi Công Xây Dựng Cần Phải Làm Gì Để Hạn Chế Vướng Mắc, Tranh Chấp Xảy ra?

Trong quá trình ký kết, thực hiện hợp đồng thi công, xây dựng công trình. Các nhà thầu sẽ gặp rất nhiều những vướng mắc với Chủ đầu tư từ giai đoạn đàm phán, ký hợp đồng đến việc triển khai thi công và bàn giao công trình. Với vai trò là đơn vị xin việc làm, nên nhà thầu phải chấp nhận những điều khoản khó khăn, bất lợi; trong quá trình thi công thì bị dồn ép về tiến độ; mỹ thuật kỹ thuật chỉ cần sai sót những lỗi nhẹ thì bị phạt lên phạt xuống và mức phạt rất nặng, rồi lúc nghiệm thu thanh toán; Chủ đầu tư đùn đẩy, kéo dài không muốn ký hồ sơ nghiệm thu, quyết toán. Nói chung, nhà thầu đa phần sẽ chịu nhiều thiệt thòi, bất lợi khi tham gia ký kết thực hiện các công trình với Chủ đầu tư lớn.

Những khó khăn vướng mắc không thể tránh khỏi, tuy nhiên nhà thầu cần lưu ý một số những vấn đề sau sẽ giảm bớt tình trạng chiếm dụng vốn với Chủ đầu tư.

Hoạt động thi công xây dựng công trình cũng như các hoạt động tư vấn, thiết kế, giám sát trong xây dựng là một trong những hoạt động phức tạp và mất nhiều thời gian của các chủ thể trong hợp đồng kinh tế. Quá trình triển khai thi công, nghiệm thu, thực hiện làm hồ sơ thanh quyết toán hợp đồng trải qua nhiều giai đoạn, nhiều quy trình khác nhau. Các công trình nhỏ thì thời gian thi công trong khoảng 12 tháng trở lại; các công trình trung bình và lớn thì kéo dài từ 1 đến 3 hoặc 5 năm mới kết thúc. Khối lượng công việc nhiều, kéo theo khối lượng hồ sơ tài liệu để phục vụ nghiệm thu quyết toán công trình rất lớn và phức tạp.

Trong khi đó, quá trình triển khai thi công công trình tỷ rất khó tránh hỏi những sai lệch, thiếu sót so với quy chuẩn của hợp đồng. Chính lẽ đó, nếu các bên thực sự thiện chí hợp tác cùng nhau tháo gỡ giải quyết; thì những sai sót, vi phạm nhỏ phát sinh các bên có thể bỏ qua cho nhau để cùng thực hiện hoàn thành công việc trong hợp đồng. Ngược lại, nếu một trong các bên thiếu thiện chí hoặc vì một lý do nào đó, một bên sẽ có thể có đủ cơ sở để yêu cầu chấm dứt, phạt vi phạm hợp đồng do bên kia vi phạm, như vi phạm về tiến độ, chất lượng, làm không đúng thiết kế... và thông thường bên yếu thế, bên bất lợi là bên nhận thầu, hoặc bên được giao khoán lại.

Trong quá trình hoạt động tư vấn pháp lý cho các DNXD, DFC đã được tiếp cận và giải quyết rất nhiều các tranh chấp phát sinh từ hoạt đông thi công, hoạt động tư vấn giám sát, thiết kế các công trình dự án. Các tranh chấp thường bị phát sinh bởi các nguyên nhân như: Do Chủ đầu tư nhà thầu chính không chịu ký hồ sơ nghiệm thu, không phê duyệt giá trị quyết toán công trình cho các thầu phụ. Quá trình tạm ứng, thanh toán không đảm bảo đúng quy định hợp đồng; từ đó gây khó khăn cho nhà thầu phụ; dẫn đến thầu phụ bỏ dở công trình, không tiếp tục thi công và yêu cầu dừng hợp đồng và đề nghị nhà thầu chính, Chủ đầu tư thanh toán phần khối lượng công việc đã thực hiện.

Khi đó, căn cứ cơ sở của nhà thầu yêu cầu Chủ đầu tư nghiệm thu thanh toán thường yếu và thiếu. Nếu nhà thầu bình tĩnh và nhẫn nại, thậm chí phải chấp nhận thiệt hại bằng việc bị chủ đầu tư phải cắt giảm giá trị thi công thì họ mới chấp nhận phê duyệt và thanh toán. Ngược lại, họ sẽ kéo dài thời gian, không chịu ký hồ sơ nghiệm thu thanh toán để nhà thầu rất khó khăn trong việc yêu cầu họ thanh toán hợp đồng...
Đó là những bất lợi, những thiệt thòi rất lớn của các nhà thầu phụ khi gặp phải những chủ đầu tư, nhà thầu chính như thế và tình trạng này xảy ra rất phổ biến trong hoạt động thi công xây dựng tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Để hạn chế những rủi ro và phòng chống những tranh chấp gây bất lợi cho nhà thầu. DFC khuyến cáo các nhà thầu nên thận trọng từ lúc thỏa thuận các điều khoản hợp đồng kinh tế; chặt chẽ làm đến đâu khép kín hồ sơ yêu cầu Chủ đầu tư, nhà thầu chính ký hồ sơ nghiệm thu công việc, hạng mục công trình đến đó; đảm bảo tính pháp lý chắc chắn cho hồ sơ trước khi tính đến phương án thu hồi tiền tồn đọng.

Doanh Nghiệp Kiểm Soát Việc Thu Tiền Sau Bán Như Thế Nào? Kiểm soát tiền bán hàng là việc làm cần thiết và rất quan trọn...
16/09/2023

Doanh Nghiệp Kiểm Soát Việc Thu Tiền Sau Bán Như Thế Nào?

Kiểm soát tiền bán hàng là việc làm cần thiết và rất quan trọng trong quá trình kinh doanh của Doanh nghiệp. Tuy nhiên, kiểm soát tiền hàng là kiểm soát những nội dung gì, kiểm soát thế nào không phải Doanh nghiệp nào cũng làm đúng. Kiểm soát tiền bán hàng đúng cách, hiệu quả chắc chắn tình trạng nợ đọng, tình trạng bị chiếm dụng vốn của Doanh nghiệp sẽ ít xảy ra. Dưới đây là sự chia sẻ trong vấn đề kiểm soát tiền hàng mà chúng tôi đã rút ra trong quá trình tư vấn quản lý rủi ro cho các doanh nghiệp thương mại.
Một trong những nguyên nhân Doanh nghiệp hay để xảy ra tình trạng nợ đọng, nợ xấu đó là Doanh nghiệp chưa thực hiện tốt công tác quản lý và thu tiền hàng. Theo quan điểm của chúng tôi, hai việc quan trọng hàng đầu trong công tác quản lý, thu tiền hàng đó là đó là kiểm soát được đội ngũ nhân viên thu tiền sau bán và kiểm soát người mua hàng.
1. Kiểm soát nhân viên thu tiền sau bán
Nhân viên phụ trách thu tiền hàng sẽ là nhân tố quyết định đến việc thành hay bại trong công tác thu hồi vốn cho Doanh nghiệp. Nếu khoản phải thu tiền hàng thuận lợi hoặc dễ thu hồi nhưng nhân viên phụ trách không bám sát, không theo dõi sát sao thì việc dễ cũng thành khó. Hoặc vụ việc ở mức độ bình thường, tuy nhiên nếu nhân viên phụ thu tiền cung cấp thông tin về doanh nghiệp không chính xác thì việc thu tiền sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều. Người thu hồi nợ của Doanh nghiệp có thể là kế toán công nợ, là nhân viên kinh doanh hoặc là một nhân viên trong ban thu nợ. Tất cả đội ngũ nhân viên thu nợ này, ngoài việc phải đào tạo, bồi dưỡng cho họ có kiến thức, kỹ năng thu nợ; doanh nghiệp cần phải kiểm soát, quản lý nhân viên thu nợ. Kiểm soát nhân viên thu nợ, nghĩa là DN cần thực hiện các công việc sau:
• Kiểm tra việc theo dõi, bám sát việc thu hồi nợ của nhân viên;
• Mức độ, tần suất và các biện pháp thu hồi nợ của nhân viên;
• Kiểm tra mức độ chính xác của các báo cáo của nhân viên về tình hình hoạt động, khả năng tài chính của khách nợ;
• Đánh giá thái độ, tinh thần trách nhiệm của nhân viên thu nợ khi triển khai, thực hiện công việc.
Khi Doanh nghiệp đã kiểm soát được các yếu tố trên, đã nắm bắt được thái độ của nhân viên thu nợ; doanh nghiệp đã hoàn thành được một nửa giai đoạn của quá trình thu hồi vốn.
Kiểm soát người mua hàng
Phần lớn các doanh nghiệp chỉ chú trọng, tìm hiểu bạn hàng ở giai đoạn trước khi hợp tác, ký hợp đồng mua bán. Khi thực hiện mua bán xong, do người mua đã thanh toán trước một phần tiền hàng, nên việc lưu tâm tìm hiểu đối tác bị xem nhẹ và bỏ qua. Doanh nghiệp đã lơ là và không thường xuyên cập nhật tình hình hoạt động kinh doanh của đối tác, hoặc nếu có thì chỉ qua loa, sơ sài. Thông tin cập nhật chủ yếu là thông qua kênh này kênh khác, không trực tiếp tìm hiểu, điều tra đối tác bao giờ. Doanh nghiệp có điều tra nhưng chủ yếu thông qua việc cử cán bộ đến gặp đối tác để hỏi han, nghe ngóng thông tin. Quá trình thu thập điều tra thông tin nợ như vậy của nhân viên thu nợ sẽ không bao giờ được đầy đủ, toàn diện. Do đó, rất nhiều chủ nợ phải bất ngờ và không thể biết khách hàng của mình đã tạm dừng, đóng cửa doanh nghiệp từ lúc nào không hay biết. Hậu quả là, công nợ tiền hàng rất khó và không biết khi nào mới được thu hồi.
Có thể nói, kiểm soát nhân viên thu tiền sau bán, kiểm soát người mua hàng là hai việc làm đặc biệt quan trọng đối với Doanh nghiệp trong công tác theo dõi và thu hồi vốn sau khi bán hàng. Các Doanh nghiệp cần phải xem xét lại việc kiểm soát hai vấn đề này đã tốt và chắc chắn chưa. Nếu chưa chắc chắn Doanh nghiệp cần phải có giải pháp hoặc liên hệ cho đơn vị DFC chúng tôi để chúng tôi tư vấn trợ giúp. Có như vậy Doanh nghiệp mới hạn chế được tình trạng nợ và không phải đối mặt với nguy cơ nợ xấu nợ, nợ khó đòi.

Address

245 Lê Trọng Tấn, Hà Đông
Hanoi
084

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Những Rủi Ro, Vướng Mắc Trong DN Thương Mại Và DN Xây Dựng posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Những Rủi Ro, Vướng Mắc Trong DN Thương Mại Và DN Xây Dựng:

Share