Luật Makbiz - Tư vấn đầu tư và doanh nghiệp

Luật Makbiz - Tư vấn đầu tư và doanh nghiệp Công ty Luật TNHH Makbiz với nhiều năm kinh nghiệm tư vấn thủ tục đầu tư và doanh nghiệp, giải quyết tranh chấp.

Vui lòng gọi 0978238869 hoặc gửi mail đến địa chỉ: [email protected]

5 THÁCH THỨC PHÁP LÝ DOANH NGHIỆP 2025 – SAI LÀ SẬP! “Kinh doanh giỏi mà không có pháp chế mạnh, chẳng khác nào xây lâu ...
12/05/2025

5 THÁCH THỨC PHÁP LÝ DOANH NGHIỆP 2025 – SAI LÀ SẬP!

“Kinh doanh giỏi mà không có pháp chế mạnh, chẳng khác nào xây lâu đài trên cát.”
— Makbiz Team

💣 1. Sử dụng lao động “bán thời gian” kiểu... lách luật
✅ Freelancer – CTV – Gen Z “chạy job” → DN tiết kiệm chi phí
❌ Nhưng không ký hợp đồng lao động, không đóng BHXH, không khai thuế thu nhập cá nhân → rủi ro kiện tụng, phạt truy thu thuế + lãi + phạt lên đến 300 triệu – 2 tỷ đồng!

📌 Bài học: Một công ty startup từng bị truy thu gần 1,8 tỷ chỉ vì trả lương qua ví Momo cho đội sale mà không ký HĐLĐ.

🔥 2. ESG – Từ khẩu hiệu thành “chiếc còng” pháp lý
🧩 Bạn tưởng ESG là tự nguyện?
🧨 Từ 2025, các quy định mới về báo cáo ESG, phát thải, trách nhiệm xã hội sẽ được Bộ KH&ĐT, Bộ TN&MT siết chặt theo hướng bắt buộc với DN trên 50 lao động, doanh thu trên 50 tỷ.

📉 Thiếu tuân thủ = Không vay được vốn, không gọi được đầu tư, bị loại khỏi chuỗi cung ứng FDI.

💥 3. M&A – Đụng đâu dính đó nếu không có pháp lý chuẩn
🕵️ Từ định giá sai, nợ tiềm ẩn, đến tranh chấp cổ phần “giả vờ chuyển nhượng”, DN mua xong thành con nợ gánh bom nổ chậm.

📌 Thực tế: Một công ty logistics vừa M&A xong 1 startup, thì phát hiện startup đó có khoản phạt thuế 5 năm chưa nộp – gần 1,2 tỷ. Không có điều khoản "thoái thác trách nhiệm pháp lý", DN mua gánh đủ!

🚫 4. Không đăng ký quyền sở hữu trí tuệ – Coi chừng mất tên, mất luôn thương hiệu
🎯 DN chi 500 triệu làm branding, nhưng không đăng ký bảo hộ logo, slogan, tên miền.

Kết quả: Bị đối thủ hoặc người quen… đăng ký mất, rồi quay lại “ra giá chuộc”!
📌 Tình huống có thật: Một công ty F&B bị chính designer cũ đăng ký thương hiệu, sau đó kiện ngược đòi ngưng sử dụng toàn bộ bộ nhận diện thương hiệu – dù họ đã vận hành 3 năm.

⚠️ 5. Chủ doanh nghiệp tưởng mình “ngồi ghế giám đốc” là nắm quyền – Sai bét!
❌ Không kiểm soát kỹ điều lệ – không hiểu Luật Doanh nghiệp – không rõ tỷ lệ biểu quyết
→ Rất dễ bị nhóm cổ đông nhỏ hợp sức lật ghế, chiếm quyền.

📌 Thống kê Makbiz: 34% vụ tranh chấp nội bộ DN đến từ mâu thuẫn quyền lực do… thiếu luật sư rà soát điều lệ & hợp đồng góp vốn.
🧠 Giải pháp thực tế từ MAKBIZ
🎯 Pháp chế DN không phải là “đồ xa xỉ” – mà là VŨ KHÍ TỐI THƯỢNG bảo vệ thành quả kinh doanh.

✅ Dịch vụ Pháp lý nội bộ của Makbiz đã giúp hàng trăm DN:

1. Thiết kế lại điều lệ công ty

2. Chuẩn hóa hợp đồng lao động & hợp đồng kinh doanh

3. Đăng ký sở hữu trí tuệ tại Việt Nam & quốc tế

4. Giải quyết tranh chấp nội bộ, soát lỗi pháp lý trước IPO/M&A



📩 Inbox ngay để nhận tư vấn 1:1 miễn phí cùng luật sư Makbiz – chỉ trong tháng này!

💥 Gieo pháp lý – Gặt an tâm – Vững vàng kinh doanh!

Một số vấn đề chuyên sâu về Phòng vệ chính đáng (Phần 1).Vui lòng ghi nguồn khi bê bài đi !!!Trong thời gian qua, khi có...
21/03/2020

Một số vấn đề chuyên sâu về Phòng vệ chính đáng (Phần 1).

Vui lòng ghi nguồn khi bê bài đi !!!

Trong thời gian qua, khi có sự việc người dân làm chết người phạm tội, nhưng do không am hiểu chế định phòng vệ chính đáng nên một số phương tiện thông tin đại chúng khi đưa tin thường “bênh” người dân làm cho dư luận hiểu không đúng về bản chất sự việc. Như sự việc ông Lê Minh Phương bị xử tội giết người khi chém trộn "nhí" thương tật 95%. Và nhiều sự việc khác.

Ngoài ra, trong cuộc sống không ít trường hợp phạm tội trong trường hợp phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng nhưng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử do sức ép của dư luận hoặc phía nạn nhân nên các cơ quan tiến hành tố tụng thường lúng túng khi xác định trường hợp phạm tội có phải là phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hay không ? Thực tiễn xét xử có nhiều vụ án Cơ quan điều tra đã khởi tố, Viện kiểm sát đã truy tố nhưng khi xét xử Toà án đã tuyên bị cáo không phạm tội vì xác định đó là trường hợp phòng vệ chính đáng; có trường hợp Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đã kết án bị cáo phạm tội nhưng cấp giám đốc thẩm đã tuyên bố bị cáo không phạm tội vì xác định đó là trường hợp phòng vệ chính đáng; có trường hợp lẽ ra chỉ kết án bị cáo về tội giết người hoặc cố ý gây thương tích “do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” nhưng lại kết án bị cáo về phạm tội không có tình tiết “do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”.v.v...làm cho việc áp dụng không thống nhất; đồng thời cũng làm ảnh hưởng đến tâm lý của những người khi cần phải “phòng vệ” đối với hành vi xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc lợi ích của chính mình.

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định chế định phòng vệ chính đáng trong luật hình sự. Tuy nhiên, mỗi quốc gia có những quy định riêng về chế định này tuỳ thuộc vào tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của mỗi nước. Luật hình sự nước ta, phòng vệ chính đáng được quy định tại Điều 15 Bộ luật hình sự với nội dung: “Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.” Luật hình sự của một số nước gọi là phòng vệ cần thiết (Điều 38 Bộ luật hình sự của liên bang Nga). Bộ luật hình sự năm 1999 đã không dùng thuật ngữ tương xứng mà thay vào đó là thuật ngữ cần thiết tuy không làm thay đổi bản chất của chế định phòng vệ chính đáng nhưng cũng làm cho việc vận dụng chế định này trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả hơn.

Cho đến nay, đã có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí khoa học hoặc tạp chí chuyên ngành bàn về phòng vệ chính đáng, nhưng về lý luận cũng như thực tiễn xét xử, vấn đề phòng vệ chính đáng trong luật hình sự vẫn là vấn đề nhiều người quan tâm; thực tiễn giải quyết cũng có nhiều trường hợp còn ý kiến khác nhau nên dẫn đến các quyết định khác nhau.

Qua việc tổng kết thực tiễn xét xử, ngày 5-1-1986 Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 02/ HĐTP hướng dẫn các Toà án các cấp áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự 1985, trong đó tại mục II của Nghị quyết này có đề cập đến chế định phòng vệ chính đáng. Trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985, Toà án nhân dân tối cao cũng có chỉ thị số 07 ngày 22-12-1983 về việc xét xử các hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong khi thi hành công vụ. Theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì Hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khoẻ của người khác được coi là phòng vệ chính đáng khi có đầy đủ các dấu hiệu sau dây:

- Hành vi xâm hại những lợi ích cần phải bảo vệ phải là hành vi phạm tội hoặc rõ ràng là có tính chất nguy hiểm đáng kể cho xã hội;

- Hành vi nguy hiểm cho xã hội đang gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần phải bảo vệ;

- Phòng vệ chính đáng không chỉ gạt bỏ sự đe doạ, đẩy lùi sự tấn công, mà còn có thể tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại;

- Hành vi phòng vệ phải cần thiết với hành vi xâm hại, tức là không có sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại.

Cần thiết không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe doạ gây ra hoặc đã gây ra cho người phòng vệ.

Để xem xét hành vi chống trả có cần thiết hay không, có rõ ràng là quá đáng hay không, thì phải xem xét toàn diện những tình tiết có liên quan đến hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ như: khách thể cần bảo vệ; mức độ thiệt hại do hành vi xâm hại có thể gây ra hoặc đã gây ra và do hành vi phòng vệ gây ra; vũ khí, phương tiện, phương pháp mà hai bên đã sử dụng; nhân thân của người xâm hại; cường độ của sự tấn công và của sự phòng vệ; hoàn cảnh và nơi xẩy ra sự việc v.v... Đồng thời cũng phải chú ý yếu tố tâm lý của người phải phòng vệ có khi không thể có điều kiện để bình tĩnh lựa chọn được chính xác phương pháp, phương tiện chống trả thích hợp, nhất là trong trường hợp họ bị tấn công bất ngờ.

Sau khi đã xem xét một cách đầy đủ, khách quan tất cả các mặt nói trên mà nhận thấy rõ ràng là trong hoàn cảnh sự việc xảy ra, người phòng vệ đã sử dụng những phương tiện, phương pháp rõ ràng quá đáng và đã gây thiệt hại rõ ràng quá mức đối với hành vi xâm hại thì coi hành vi chống trả là không cần thiết và là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Ngược lại, nếu hành vi chống trả là cần thiết thì đó là phòng vệ chính đáng.

Tinh thần của chỉ thị số 07 và Nghị quyết số 02 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao vẫn có thể vận dụng để xác định các trường hợp phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng quy định tại Điều 15 Bộ luật hình sự năm 1999. Tuy nhiên, do còn hạn chế về nhiều mặt nên cả về lý luận cũng như thực tiễn xét xử các văn bản trên chưa quy định một cách đầy đủ những dấu hiệu của chế định phòng vệ chính đáng, nên thực tiễn xét xử có không ít trường hợp còn có nhận thức rất khác nhau về phòng vệ chính đáng. Ví dụ: Khi nói đến hành vi chống trả một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm, nhưng chưa nêu được căn cứ để xác định thể nào là cần thiết ? Các lợi ích bị xâm phạm theo Điều 22 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) bao gồm lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, của người phòng vệ và của người khác, nhưng bị xâm phạm trong trường hợp như thế nào thì hành vi chống trả được coi là phòng vệ, trường hợp nào thì không được coi là phòng vệ. Các công trình nghiên cứu của một số tác giả về chế định phòng vệ chính đáng cũng mới đề cập đến những khái niệm, những quy định của các văn bản hướng dẫn hoặc nêu vụ án cụ thể mà Toà án các cấp đã xét xử người phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng rồi từ đó nêu ý kiến cá nhân của tác giả về vụ án đó, tính khái quát chưa cao.

Để giúp bạn đọc, nhất là các cán bộ trong các cơ quan tiến hành tố tụng hiểu thêm về chế định phòng vệ chính đáng; căn cứ vào quy định tại Điều 22 Bộ luật hình sự, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật và đặc biệt qua thực tiễn xét xử, thì một hành vi được coi là phòng vệ chính đáng phải hội tụ đủ các yếu tố.

1. Về phía nạn nhân (người bị chết hoặc bị thương tích)

Nạn nhân phải là người đang có hành vi xâm phạm đến các lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, của cá nhân người phòng vệ hoặc của người khác (người thứ ba).

Đang có hành vi xâm phạm là hành vi đã bắt đầu và chưa kết thúc. Nếu hành vi chưa bắt đầu, thì mọi hành vi chống trả không được coi là hành vi phòng vệ. Ví dụ: Trần Tuấn Anh thấy Nguyễn Văn Hùng đi chơi với người yêu của mình nên nói với Hùng: “Tao sẽ giết mày!” Mới nghe Tuấn Anh nói vậy, Hùng đã rút dao trong người ra đâm Tuấn Anh chết.

Trường hợp hành vi xâm phạm đã kết thúc thì mọi hành vi chống trả cũng không được coi là hành vi phòng vệ. Ví dụ: A đánh B bị thương vào đầu, được mọi người can ngăn, A đã bỏ đi, nhưng do bực tức B đã lấy dao đuổi theo A đâm A chết.

Tuy nhiên, trong trường hợp hành vi xâm phạm này đã kết thúc, nhưng lại có tiếp hành vi khác của chính người đó xâm phạm đến lợi ích chính đáng cần bảo vệ thì cũng không coi là hành vi xâm phạm đã kết thúc và người có hành vi chống trả vẫn được coi là phòng vệ. Ví dụ: A đánh B nhưng B đỡ được, A biết không thể đánh nổi B nên chạy vào nhà B đánh mẹ của B đang bị bệnh nằm trên giường, nên B đã dùng một khúc gỗ vụt mạnh vào đầu A làm cho A ngất xỉu sau đó bị chết. Mặc dù hành vi tấn công của A đã kết thúc đối với B nhưng A lại có tiếp hành vi xâm phạm đến mẹ của B và để bảo vệ mẹ của mình nên B đã chống trả gây thiệt hại cho A nên hành vi của B cũng được coi là phòng vệ. Trường hợp phòng vệ này thường bị nhầm với trường hợp tội phạm do tinh thần bị kích động mạnh quy định tại Điều 125 BLHS, vì người bị tấn công không phải là người chống trả (người có hành vi phòng vệ) mà là người khác (người thứ ba). Tuy nhiên người thứ ba trong trường hợp phòng vệ có thể là người thân của mình, nhưng cũng có thể chỉ là một người không quen biết, còn trường hợp phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, người bị xâm phạm chỉ có thể là người thân của người phạm tội. Trường hợp phòng vệ này càng dễ nhầm với trường hợp phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, vì người thứ ba trong trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ có thể là người thân, nhưng cũng có thể là người không quen biết. Hành vi phòng vệ và hành vi được coi là bị kích động về tinh thần chỉ khác nhau ở tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi xâm phạm. Vì vậy, về phía nạn nhân trong trường hợp phòng vệ phải là người có hành vi xâm phạm có tính chất nguy hiểm đáng kể.

Mức độ đáng kể ở đây là tuỳ thuộc vào tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm phạm (quan hệ xã hội cần bảo vệ). Nếu quan hệ xã hội cần bảo vệ càng quan trọng bao nhiêu thì tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm của nạn nhân càng nghiêm trọng bấy nhiêu. Ví dụ: Một người trèo tường để đột nhập vào nơi cất giữ tài liệu tối mật về an ninh quốc phòng được canh phòng cẩn thận, thì tính chất nghiêm trọng hơn nhiều so với người trèo tường vào một gia đình nông dân để trộm cấp tài sản.

Mức độ đáng kể của hành vi xâm phạm còn phụ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công của nạn nhân (người có hành vi xâm phạm). Ví dụ: Hành vi dùng súng để uy hiếp hành khách trên tầu hoả của một tên cướp nguy hiểm hơn nhiều hành vi lén lút thò tay vào túi người khác để lấy trộm tiền.

Nếu tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm không đáng kể thì hành vi chống trả không được coi là phòng vệ. Ví dụ: A chỉ tát B một cái, B đã rút dao đâm chết A hoặc A chỉ thò tay vào túi của B để trộm cắp, B đã túm cổ áo A đấm túi bụi cho đến chết, thì hành vi của B trong cả hai trường hợp này đều không được coi là hành vi phòng vệ.

Hành vi xâm phạm phải là hành vi trái pháp luật, nếu hành vi xâm phạm lại là hành vi mà pháp luật cho phép, thì người bị xâm phạm không có quyền chống trả để phòng vệ. Ví dụ: Một cảnh sát đuổi bắt một tên tội phạm nguy hiểm, người cảnh sát này đã bắn chỉ thiên, hô đứng lại, nhưng tên tội phạm vẫn cố tình chạy trốn, buộc người cảnh sát phải nổ súng bắn què tên tội phạm để bắt hắn. Nhưng khi người cảnh sát đến gần, hắn bất ngờ rút dao trong người ra đâm người cảnh cát trọng thương. Hành vi của tên tội phạm này không được coi là hành vi phòng vệ, vì hành vi của người cảnh sát được pháp luật cho phép.

Hành vi trái pháp luật, trước hết là hành vi phạm tội và những hành vi khác trái với quy định của pháp luật thuộc các ngành luật khác như: Luật hôn nhân và gia đình, luật dân sự, luật hành chính, luật kinh tế và các văn bản pháp luật khác. Tuy nhiên, khi xét hành vi xâm phạm trong trường hợp phòng vệ chính đáng phải xét trong mối tương quan với hành vi chống trả, không phải bất cứ hành vi phạm tội nào xảy ra, người có hành vi chống trả gây chết người hoặc gây thương tích cho người có hành vi xâm phạm đều là phòng vệ chính đáng. Ví dụ: A thò tay vào túi B để trộm cắp, nhưng B phát hiện được liền rút dao ra đâm A một nhát vào bụng làm A chết. Hành vi của B không được coi là phòng vệ chính đáng mặc dù hành vi xâm phạm của A là hành vi phạm tội (tội trộm cắp tài sản). Ngược lại, có những hành vi xâm phạm chưa phải là hành vi phạm tội, nhưng vì nó xâm phạm nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức và của công dân nên hành vi chống trả vẫn được coi là phòng vệ chính đáng. Như vậy, khi xem xét hành vi của người đang xâm phạm đến các lợi ích cần bảo vệ, không nhất thiết chỉ căn cứ vào tính chất nguy hiểm của hành vi xâm phạm mà phải chú ý đến lợi ích cần bảo vệ, đồng thời phải xét nó trong mối quan hệ với hành vi chống trả để xác định sự chống trả trong trường hợp cụ thể đó có được coi là phòng vệ chính đáng hay không ?

(Hết phần 1)

Trường hợp bạn có thắc mắc hoặc câu hỏi khác xin gọi Hotline 097 823 8869 hoặc 0967 603 604 hoặc gửi mail đến [email protected]
Ngoài ra, bạn có thể tham khảo thêm tại: www.makbizlaw.com

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐÀM PHÁN HỢP ĐỒNG(phần 1)1.1. Nguồn gốc của mọi đàm phán: Xung đột 1.1.1  Định nghĩa xung độtXung độ...
17/03/2020

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐÀM PHÁN HỢP ĐỒNG

(phần 1)

1.1. Nguồn gốc của mọi đàm phán: Xung đột

1.1.1 Định nghĩa xung đột
Xung đột có thể hiểu là sự bất đồng hoặc đối lập về nhu cầu, giá trị và lợi ích. "Xung đột xảy ra khi cả hai bên đều cho rằng mong muốn của mình không đạt được”
Theo nhiều học giả, "xung đột là hậu quả của sự tương tác giữa các cá nhân theo đuổi những mục tiêu không hòa hợp và ngăn cản nhau trong khi thực hiện”

1.1.2 Các cấp độ của xung đột
Có 4 cấp độ xung đột: Xung đột nội tâm => Xung đột cá nhân => Xung đột nội bộ => Xung đột nhóm

Thứ nhất, thấp nhất, xung đột nội tâm cá nhân: (Intrapersonal hoặc Intrapsychic conflict). Xung đột diễn ra trong nội tâm cá nhân. Nguồn của xung đột là ý tưởng, lý tưởng, suy nghĩ, cảm xúc, giá trị hoặc những động lực xung đột lẫn nhau.

Thứ hai, xung đột giữa các cá nhân (interpersonal conflict). Xung đột diễn ra giữa các nhân viên, giữa vợ chồng, con cái v.v…trong gia đình

Thứ ba, xung đột nội bộ nhóm (Intragroup conflict). Là xung đột trong một nhóm nhỏ - giữa các thành viên nhóm và giữa các gia đình, các tầng lớp v.v…

Thứ tư, xung đột giữa các nhóm gồm xung đột giữa các nhóm công đoàn và quản lý, giữa các quốc gia, các nhóm hoạt động xã hội và chính phủ v.v… Đây là cấp độ cuối cùng và là mức độ xung đột phức tạp nhất do có nhiều tương tác và nhiều người tham gia

1.1.3 Các quan điểm về xung đột

1.1.3.1 Quan điểm tích cực

(1) Xung đột giúp cho các thành viên nhận ra vấn đề và tìm cách đối phó: Khi các thành viên muốn thay đổi hoăc tìm ra giải pháp, họ sẽ có động lực giải quyết. Xung đột mang lại sự thay đổi và thích nghi tốt hơn cho một tổ chức. Ngoài ra, khi nảy sinh xung đột, tổ chức nhận ra vấn đề gây căng thẳng và tác đông tiêu cực tới nhân viên. => Tổ chức cần hoàn thiện quy trình để giải quyết vấn đề
(2) Xung đột làm thắt chặt các mối quan hệ. => Không cần né tránh xung đột khi mối quan hệ đủ mạnh để vượt qua xung đột.
(3) Giải quyết trực tiếp thông qua thảo luận để tìm giải pháp
(4) Xung đột giúp nâng cao nhận thức về bản thân và về người khác về nhận thức về nguyên nhân giận dữ, căng thẳng và sợ hãi, về những giá trị quan trọng.
(5)Xung đột giúp cá nhân phát triển, cải thiện bản thân. Xung đột khuyến khích sự phát triển tâm lý. => Đánh giá bản thân chính xác và thực tế hơn. Có thể hiểu từ góc độ của người khác, sẽ bớt ích kỉ. Tin rằng mình có khả năng kiểm soát cuộc sống. => Có thể tự hành động để giải quyết thay vì chịu đựng.
(6) Xung đột khuyến khích động lực hoạt động. =>Thay đổi từ cuộc sống đơn giản và giúp nhìn nhận cuộc sống và những mối quan hệ của họ dưới những góc nhìn khác nhau.

1.1.3.2 Quan điểm tiêu cực
(1) Xung đột là quá trình cạnh tranh. Khi mục tiêu đối lập, cả hai bên không thể cùng đạt được mục tiêu. => Cạnh tranh khiến vấn đề trở nên căng thẳng hơn.
(2) Xung đột làm nhận thức sai lệch. => Khi xung đột căng thẳng, nhận thức bị bóp méo. Khi đó bạn sẽ nhìn nhận vấn đề dựa trên nhận thức của bản thân, theo 2 góc độ: ủng hộ hoặc chống lại. Đối với những người có suy nghĩ đơn điệu và thiên lệch, có xu hướng đề cao những người cùng quan điểm và chối bỏ những người trái quan điểm.
(3) Xung đột bị chi phối bởi tình cảm. Do tình cảm thống trị lý trí, khi xung đột gia tăng, các bên dễ bị xúc động và phi lý trí
(4) Xung đột làm giảm giao tiếp do ngừơi có xung đột ít giao tiếp với những người trái quan điểm và có xu hướng giao tiếp nhiều với những người cùng quan điểm. => Khi giao tiếp với bên trái quan điểm, thường cố gắng đánh bại, gia tăng luận điểm để chứng minh quan điểm của phía kia là sai.
(5) Xung đột làm vấn đề trở nên mập mờ do trong quá trình xung đột, những vấn đề mới, không liên quan sẽ nảy sinh. Từ đó, các bên có nhận thức không rõ ràng về nguyên nhân và mục đích tranh luận
(6) Xung đột tạo ra các quan điểm cứng nhắc do khi bị thách thức, một bên thường gắn chặt quan điểm của mình và ít chấp nhận thua cuộc. Từ đó, quá trình tư duy trở nên cứng nhắc, vấn đề được nhìn nhận đơn giản, không mang tính nhiều chiều.
(7) Xung đột phóng đại khác biệt và bỏ qua tương đồng do việc phân tích các quan điểm làm cho vấn đề không còn rõ ràng, bên này coi quan điểm của phía bên kia là thái cực đối lập và chỉ chú ý đến vấn đề chia rẽ, bỏ qua những điểm tương đồng = > Nhận thức lệch lạc này khiến các bên cho rằng: họ đang khác nhau rất nhiều và ít để tâm đến những điểm chung.
(8) Xung đột làm gia tăng xung đột do các bên có xu hướng phòng thủ, ít giao tiếp và suy nghĩa dựa trên cảm xúc.
=> Các bên đều muốn thắng cuộc bằng cách gia tăng cam kết (nguồn lực, năng lượng v.v…) để khiến phía còn lại chịu thua.
Và mức độ xung đột tăng cao và việc gia tăng cam kết làm mất hi vọng giải quyết tranh chấp.

(kết thúc phần 1)

Trường hợp bạn có thắc mắc hoặc câu hỏi khác, mà muốn giải đáp ngay, xin gọi Hotline của doanh nghiệp 097 823 8869 hoặc 0967 603 604 để được đội ngũ Luật sư tư vấn trực tiếp hoặc gửi mail đến [email protected].

Ngoài ra, bạn có thể đăng kí học Khóa học Pháp luật Hợp đồng thương mại tại:
https://www.makbizlaw.com/khoa-hoc-phap-luat-hdtm

ĐIỀU CHỈNH LÃI SUẤT ĐIỀU HÀNH ĐỂ THÁO GỠ KHÓ KHĂN CHO SẢN XUẤT KINH DOANHNgân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam (VN) điều ch...
17/03/2020

ĐIỀU CHỈNH LÃI SUẤT ĐIỀU HÀNH ĐỂ THÁO GỠ KHÓ KHĂN CHO SẢN XUẤT KINH DOANH

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam (VN) điều chỉnh các mức lãi suất, có hiệu lực từ ngày 17/3/2020; cụ thể như sau:

1. Quyết định 418/QĐ-NHNN ngày 16/3/2020 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên NH và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN với các NH. Theo đó, giảm lãi suất tái cấp vốn từ 6,0%/năm xuống 5,0%/năm; lãi suất tái chiết khấu từ 4,0%/năm xuống 3,5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên NH và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN với các NH từ 7,0%/năm xuống 6,0%/năm.

2. Lãi suất chào mua giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở từ 4,0%/năm xuống 3,5%/năm.

3. Quyết định 419/QĐ-NHNN ngày 16/3/2020 về mức lãi suất tối đa với tiền gửi bằng đồng VN (VND) của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng, chi nhánh NH nước ngoài (TCTD) theo quy định tại Thông tư 07/2014/TT-NHNN. Theo đó, lãi suất tối đa áp dụng với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng giảm từ 0,8%/năm xuống 0,5%/năm; lãi suất tối đa áp dụng với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng giảm từ 5,0%/năm xuống 4,75%/năm; lãi suất tối đa áp dụng với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng tại Quỹ tín dụng nhân dân, Tổ chức tài chính vi mô giảm từ 5,5%/năm xuống 5,25%/năm; lãi suất tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên do TCTD ấn định trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường.

4. Quyết định 420/QĐ-NHNN ngày 16/3/2020 về mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND của TCTD với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế theo quy định tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN giảm từ 6,0%/năm xuống 5,5%/năm; lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND của Quỹ tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô với các nhu cầu vốn này giảm từ 7,0%/năm xuống 6,5%/năm.

5. Quyết định 421/QĐ-NHNN ngày 16/3/2020 về mức lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc của TCTD tại NHNN. Theo đó, lãi suất với tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VND là 1,0%/năm, lãi suất với tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng VND là 0%/năm; lãi suất với tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ là 0%/năm, lãi suất với tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ là 0,05%/năm.

6. Quyết định 422/QĐ-NHNN ngày 16/3/2020 về mức lãi suất tiền gửi bằng VND của NH Phát triển VN (VDB), NH Chính sách xã hội (VBSP), Quỹ tín dụng nhân dân, Tổ chức tài chính vi mô tại NHNN. Theo đó, lãi suất với tiền gửi bằng VND của VDB, VBSP, Quỹ tín dụng nhân dân, Tổ chức tài chính vi mô là 1,0%/năm.

7. Quyết định 423/QĐ-NHNN ngày 16/3/2020 về mức lãi suất tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm tiền gửi VN tại NHNN. Theo đó, lãi suất với tiền gửi bằng VND của Kho bạc Nhà nước là 1,0%/năm, lãi suất với tiền gửi bằng ngoại tệ của Kho bạc Nhà nước là 0,05%/năm, lãi suất với tiền gửi bằng VND của Bảo hiểm tiền gửi VN là 1,0%/năm.

15% doanh nghiệp logistics ước tính doanh thu giảm 50% trước đại dịch Covid-19 😢😢😢😢Nhiều cảng biển của Việt Nam cũng có ...
16/03/2020

15% doanh nghiệp logistics ước tính doanh thu giảm 50% trước đại dịch Covid-19 😢😢😢😢

Nhiều cảng biển của Việt Nam cũng có mức độ phụ thuộc tương đối lớn vào nguồn hàng xuất nhập khẩu có liên quan tới thị trường Trung Quốc, Hong Kong, do đây là khu vực cảng trung chuyển lớn nhất của thế giới.

COVID-19 đã khiến các hoạt động vận tải hàng hóa của Việt Nam bị suy giảm. Khối lượng hàng hóa vận tải và luân chuyển hàng hóa theo các ngành vận tải tính chung 2 tháng 2020 đã chậm lại đáng kể so với cùng kỳ năm trước.

Ghi nhận bởi Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), để đánh giá các tác động của dịch COVID-19 lên tình hình hoạt động kinh doanh của những doanh nghiệp logistics, Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) vừa tiến hành khảo sát các doanh nghiệp này. Theo đó, khoảng 15% doanh nghiệp ước tính doanh thu giảm 50% so với năm 2019; hơn 50% doanh nghiệp ước tính số lượng dịch vụ logistics (trong nước và quốc tế) giảm từ 10-30% so với năm 2019.

Theo VLA, hoạt động vận tải hàng hóa sẽ bị ảnh hưởng bởi sự suy giảm trong luân chuyển hàng hóa do nhiều nhà máy tại Trung Quốc tạm ngưng hoạt động. Kể từ khi dịch bệnh bùng phát, hoạt động sản xuất tại Trung Quốc trở nên đình trệ, dẫn đến việc sản lượng hàng hóa xuất khẩu duy trì ở mức thấp. Qua đó, nhiều hãng tàu quốc tế đã phải bỏ chuyến ở một vài cảng của Trung Quốc do lượng hàng thấp. Một số mặt hàng mà Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc chịu tác động kép từ những yếu tố trên này, ví dụ như vải, sơ, sợi, sắt thép, đã phải chứng kiến sự sụt giảm sâu về giá trị trong hai tháng đầu năm 2020.

Trong khi đó, các mặt hàng thường được vận tải bằng đường hàng không như điện thoại, máy vi tính, máy móc thiết bị có mức giảm thấp hơn do các chuyến bay chuyên dụng chở hàng hóa vẫn được hoạt động bình thường. Tổng cộng, theo thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc đã giảm 7% trong hai tháng đầu năm 2020. Ngoài ra, do đa phần đây là những nguyên liệu được nhập khẩu về để gia công phục vụ xuất khẩu, nên nếu tình hình dịch bệnh kéo dài thì sản lượng xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường khác cũng bị ảnh hưởng theo, gián tiếp tác động tới các nhu cầu về logistics.

Đội tàu biển của Việt Nam chủ yếu hoạt động trên các tuyến ngắn trong khu vực Đông Nam Á, Đông Bắc Á, trong đó sản lượng và doanh thu liên quan đến thị trường Trung Quốc chiếm tỷ trọng đáng kể. Do đo, doanh thu của các doanh nghiệp vận tải biển nhiều khả năng sẽ sụt giảm trong quý 1/2020 khi mà sản lượng vận tải dự báo sẽ giảm mạnh.

Tương tự như vận tải biển, nhiều cảng biển của Việt Nam cũng có mức độ phụ thuộc tương đối lớn vào nguồn hàng xuất nhập khẩu có liên quan tới thị trường Trung Quốc, Hong Kong, do đây là khu vực cảng trung chuyển lớn nhất của thế giới.

< HÀ NỘI: THÔNG TIN 2 CA NHIỄM COVID-19 MỚI >Tối ngày 15/3/2020, Bộ Y tế nhận được thông tin của Viện Vệ sinh dịch tễ tr...
15/03/2020

< HÀ NỘI: THÔNG TIN 2 CA NHIỄM COVID-19 MỚI >

Tối ngày 15/3/2020, Bộ Y tế nhận được thông tin của Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương về kết quả xét nghiệm của 02 bệnh nhân mắc bệnh COVID-19, cụ thể như sau:

1. Ca bệnh số 55 (BN55): Bệnh nhân nam, 35 tuổi, quốc tịch Đức. Bệnh nhân là hành khách trên chuyến bay VN0018 từ Pháp về Nội Bài sáng ngày 14/03/2020. Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hà Nội đã tổ chức sàng lọc, lấy mẫu xét nghiệm và cho kết quả dương tính với SARS-CoV-2.

Bệnh nhân và những người tiếp xúc gần đã được đưa đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới trung ương cơ sở Đông Anh và mẫu bệnh phẩm được gửi sang Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương.

Hiện tại, bệnh nhân đang được cách ly tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới trung ương cơ sở Đông Anh, tình trạng sức khoẻ ổn định.

2. Ca bệnh số 56 (BN56): Bệnh nhân nam, 30 tuổi, quốc tịch Anh. Bệnh nhân hành khách trên chuyến bay từ Anh về Nội Bài lúc 05:30 sáng ngày 09/03/2020. Sau khi nhập cảnh vào Hà Nội bệnh nhân gặp thêm 2 người bạn nữa (cũng nhập cảnh vào Hà Nội nhưng khác chuyến bay) để đi du lịch cùng nhau, cả hai đều nữ quốc tịch Anh, một người 28 tuổi và một người 24 tuổi.

Bệnh nhân đăng ký ở khách sạn Hanoi Paradise Center Hotel (địa chỉ 22 Hàng Vôi, Hoàn Kiếm) 1 đêm (đến 10/3 thì trả phòng).

Từ 10/3-13/3, Khách đi du lịch tại Sapa trong đó có lưu trú ở khách sạn Mountain River Homestay Sapa (địa chỉ ở Tả Van, Sapa) sau đó bệnh nhân quay trở lại Hà Nội và lưu trú tại Khách sạn Oriental Suiter (địa chỉ 58 Hàng Đào, Hoàn Kiếm) từ ngày 13/3 đến nay.

Sau khi bệnh nhân đến khách sạn lưu trú, UBND phường Hàng Đào đã nắm bắt được thông tin và công bố quyết định cách ly đối với bệnh nhân này.

Hồi 20h00, ngày 14/3/2020, kết quả xét nghiệm sàng lọc của Trung tâm kiểm soát bênh tật Hà Nội dương tính với SARS-COV-2 và mẫu bệnh phẩm được gửi sang Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương để xét nghiệm khẳng định và cho kết quả dương tính.

Hiện tại, bệnh nhân đang được cách ly tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới trung ương cơ sở Đông Anh, tình trạng sức khoẻ ổn định.

Theo: Thời Sự VTV

CHO EM TRÀN BÌNH ANH ÊIIIIITừ 15h hôm nay, mỗi lít xăng giảm 2.290-2.315 đồng, về sát ngưỡng 16.000 đồng trong khi dầu c...
15/03/2020

CHO EM TRÀN BÌNH ANH ÊIIIII

Từ 15h hôm nay, mỗi lít xăng giảm 2.290-2.315 đồng, về sát ngưỡng 16.000 đồng trong khi dầu cũng hạ 1.353-1.830 đồng.

Thay vì chờ tới mai (16/3), liên Bộ Công Thương - Tài chính vừa quyết định giảm giá bán lẻ xăng, dầu ngay từ chiều nay (15/3).

Theo đó, mỗi lít xăng E5 RON 92 giảm 2.290 đồng, xăng RON 95 hạ thêm 2.315 đồng. Dầu hoả giảm 1.830 đồng, dầu diesel là 1.750 đồng và madut là 1.353 đồng một lít, kg.

Sau điều chỉnh, mỗi lít xăng E5 RON 92 tối đa 16.056 đồng, xăng RON 95 là 16.812 đồng; dầu hoả 11.846 đồng, dầu diesel không cao hơn 13.035 đồng và madut không quá 10.051 đồng một kg.

TIẾNG ANH PHÁP LÝ MỖI NGÀY📘📘📘Cứ vào các ngày cuối tuần, mình sẽ tổng hợp, đăng các thuật ngữ Tiếng anh Pháp lý theo thứ ...
14/03/2020

TIẾNG ANH PHÁP LÝ MỖI NGÀY📘📘📘

Cứ vào các ngày cuối tuần, mình sẽ tổng hợp, đăng các thuật ngữ Tiếng anh Pháp lý theo thứ tự chữ cái cho các bạn dễ theo dõi. 📁📁📁

🚩🚩🚩 Bạn nào like và share ở chế độ công khai, cmt của các bạn, mình sẽ gửi bản mềm vào mail tổng hợp đầu đủ. Lưu ý là đây là chuyên ngành tranh tụng chứ chưa phải là đầu tư nhé!!.

1. Access /’ӕkses/: Quyền gặp gỡ, thăm viếng

Quyền (đối với cha/mẹ không trực tiếp giám hộ hay nuôi con) thăm nom, gặp con và được biết

thông tin về tình trạng sức khỏe, sinh sống và học tập của con.

2. Accused /ə’kju:zd/: Bị cáo, bị can

Người bị buộc tội hay người đang bị xét xử trong phiên tòa.

Acquittal /ə’kwitl/, /ờ-quítô/: Tuyên bố trắng án, phán quyết vô tội

Phán quyết của tòa án rằng bị cáo vô tội.

3. Act /ӕkt/: Luật

Dự luật đã được quốc hội thông qua và ban hành.

4. Action /ӕkʃn/: Việc kiện tụng, vụ kiện

Tiến trình pháp lý chống lại một người khác.

5. Actus Reus /’ӕktəs ‘reiiəs/: (thuật ngữ từ tiếng Latin) Hành vi phạm tội.

6. Adjournment /ə’dӡə:nmənt/: Sự đình hoãn

7.Adoption /ə’dɔpʃn/: Nhận con nuôi

Tiến trình pháp lý chuyển quyền giám hộ từ cha mẹ sinh ra đứa trẻ sang người nhận nuôi đứa

trẻ.

8. Affidavit /,ӕfi’deivit/: Bản tự khai có tuyên thệ

Văn bản do người tuyên thệ tự nguyện ký tên theo hướng dẫn của người có thẩm quyền pháp lý.

9. Affidavit of Service: còn được gọi là Proof of Service

Tài liệu tòa án do một người chuyên làm giấy tờ ở tòa án chuẩn bị. Văn kiện này phải được đưa tận tay cho người có liên quan.

10. Affirmation /,ӕfə:’meiʃn/, /e-fơ-mế-sân/: Tuyên thệ sẽ nói sự thật

11. Alternative Dispute Resolution (ADR): Giải quyết tranh chấp

Đề cập đến mọi hình thức hòa giải bên ngoài tòa án, bao gồm trọng tài, thương lượng, dàn xếp, và hòa giải.

12.  Arbitration /,a:bi’treiʃn/: (1) Kết quả hòa giải

(2) Tiến trình hòa giải với sự tham gia của người hòa giải trung gian, để 2 bên đồng ý đi đến thỏa thuận cuối cùng. Trong trường hợp 2 bên không đồng ý, người hòa giải trung gian có quyền quyết định tuyệt đối.

13.  Collaborative Family Law

Là tiến trình hòa giải mâu thuẫn liên quan đến luật gia đình giữa các bên tranh chấp và luật sư mà không phải ra tòa.

14.  Mediation /mi:di’eiʃn/, : Sự hòa giải

Đây là một phương pháp giải quyết tranh chấp (ADR) do một người thứ ba đứng ra để giàn xếp tranh chấp giữa hai bên.

Người đứng ra hòa giải gọi là người hòa giải (mediator).

15. Amicus Curiae /ə’mēkəs ‘kjuri,ai/: (thuật ngữ có nguồn gốc Latin)

Luật sư hỗ trợ pháp lý cho quá trình xét xử của tòa án, theo yêu cầu của tòa.

16. Annulment /ə’nᴧlmənt/: Sự bãi bỏ

Tuyên bố không công nhận hôn nhân hợp pháp, không công nhận đã có hôn nhân.

17. Answer /’a:nsə/, : Bào chữa

Lời biện hộ cho cáo buộc hay vụ kiện tụng.

18. Appeal /ə’pi:l/,: Kháng cáo

Yêu cầu gởi tòa án cấp cao hơn xem xét lại kết quả xét xử của tòa án cấp dưới. Phải có lý do hợp pháp để kháng cáo. Ví dụ, quan tòa đã có sai sót khi áp dụng luật vào vụ kiện.

19. Appellant /ə’pelənt/: Người kháng cáo

Người nộp đơn kháng cáo.

20. Applicant /’ӕplikənt/, : Người làm đơn hay nộp đơn

21. Apprehend /,ӕpri’hend/:

(1) Bắt giữ theo lệnh của tòa án.

(2) Cách ly trẻ khỏi cha mẹ hay người giám hộ vì lý do an toàn, do nhân viên xã hội hay cảnh sát thực hiện.

22. Arraignment /ə’reinmənt/: Sự buộc tội, luận tội

Tiến trình xác định bị cáo, cáo buộc được đọc lên cho bị cáo nghe và yêu cầu bị cáo xác nhận có phạm tội hay vô tội.

23. Arrears /ə’riəs/: Tiền nợ còn khất lại, tiền nợ còn thiếu

Tiền nợ chưa trả hoặc chỉ trả một phần khi đã quá hạn trả nợ.

24. Arrest /ə’rest: Bắt giữ

Hành động bắt giữ người của cơ quan pháp luật, thông thường đối với tội hình sự.

25. Assessment /ə’sesmənt/:

(1) Số tiền ấn định.

(2) (Trong luật hình sự) Giám định tâm thần của nghi phạm tại thời điểm gây án.

(3) (Trong luật dân sự) Giám định tâm thần của một người để đánh giá khả năng quản lý tài sản, khả năng đưa ra quyết định liên quan đến việc chăm sóc bản thân hay để thuê luật sư và cung cấp thông tin.

(4) (Trong luật gia đình) Giám định khả năng của cha mẹ trong việc chăm sóc con cái.

26. Attorney /ə’tə:ni/: Luật sư

Người đại diện cho người tham gia vụ kiện, thân chủ. Người đại diện này phải có bằng/giấy phép hành nghề.

Address

Tầng 4, 169 Nguyễn Ngọc Vũ, Cầu Giấy
Hanoi
100000

Opening Hours

Monday 08:00 - 17:30
Tuesday 08:00 - 17:30
Wednesday 08:00 - 17:30
Thursday 08:00 - 17:30
Friday 08:00 - 17:30
Saturday 08:00 - 12:00

Telephone

+84978238869

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật Makbiz - Tư vấn đầu tư và doanh nghiệp posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Luật Makbiz - Tư vấn đầu tư và doanh nghiệp:

Share