Luật sư chuyên Hình sự

Luật sư chuyên Hình sự Tư vấn giải đáp mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực Hình Sự - Hành Chính và Đất Đai, Nhà Ở. Cam kết cung cấp dịch vụ "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"

VỀ LUẬT DUY HƯNG:
Luật Duy Hưng được thành lập từ sự hợp tác của các luật sư và cộng sự là những chuyên gia trong các lĩnh vực như: Công chứng, điều tra viên, kiểm sát viên, giảng viên chuyên ngành pháp lý. Đội ngũ luật sư và cộng sự công tác tại Luật Duy Hưng là những người có nhiều năm kinh nghiệm làm việc tại các Công ty tư vấn luật có Uy tín, các cơ quan chuyên ngành và các trường đào tạo chuy

ên ngành luật tại Việt Nam; là những người có tư cách đạo đức tốt, trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực tư vấn và giải quyết tranh chấp pháp lý. Cùng với đội ngũ luật sư, cộng sự, Công ty Luật Duy Hưng còn có các trợ lý, chuyên viên tư vấn luật có tác phong làm việc chuyên nghiệp và kiến thức pháp luật chuyên sâu trong các lĩnh vực, đội ngũ Luật sư tại Công ty Luật Duy Hưng đã chứng minh thế mạnh của mình trong việc cung cấp các dịch vụ pháp lý có chất lượng cao, đem lại hiệu quả thiết thực cho Khách hàng trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Luật Duy Hưng đã xây dựng được lòng tin đối với rất nhiều khách hàng là các cá nhân, pháp nhân, Tập đoàn lớn trong nước và quốc tế từ sự phục vụ chuyên nghiệp, tận tình cùng với những giải pháp hữu ích và giá trị gia tăng cho Khách hàng bằng những kiến thức pháp lý, sự hiểu biết xã hội cùng sự nhạy cảm nghề nghiệp và những nỗ lực không mệt mỏi trong việc luôn luôn xác định “Công việc của Khách hàng là công việc của chính mình”.
• NHIỆM VỤ
Cung cấp kịp thời, nhanh chóng và chính xác các dịch vụ pháp lý chất lượng cho Khách hàng với chi phí hợp lý.
Ưu tiên việc tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề của Khách hàng thông qua con đường thương lượng và hòa giải nhằm tạo giá trị gia tăng thực sự cho quyền lợi của khách hàng bằng những ý kiến pháp lý về tính hợp pháp hay hợp lệ của những vấn đề đó.
Đóng góp tích cực vào quá trình nâng cao chất lượng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật kinh doanh nói riêng.
• GIÁ TRỊ CỐT LÕI
Giá trị của Luật Duy Hưng được hội tụ trong chính Slogan của mình:Đó là:
Tận tâm:
Xác định công việc của Khách hàng là công việc của chính mình, đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý của Luật Duy Hưng vận dụng tối đa các kiến thức và kinh nghiệm cùng với sự nhạy cảm nghề nghiệp khi tiếp cận, giải quyết các vụ việc của Khách hàng để có ý kiến và giải pháp pháp lý phù hợp để đem lại hiệu quả cao nhất đối với quyền lợi của Khách hàng. Ngoài ra, đạo đức nghề nghiệp luật sư luôn là ưu tiên hàng đầu trong hoạt động nghề nghiệp của chúng tôi. Uy Tín:
Luật Duy Hưng xác định lòng tin của Khách hàng là sự sống còn của Doanh nghiệp. Vì vậy, mỗi nhân sự của Luật Duy Hưng luôn quyết tâm để dịch vụ pháp lý cung cấp cho Khách hàng không chỉ có tính chuyên nghiệp cao mà còn là các giải pháp đáp ứng nhiều nhất mong muốn và quyền lợi của Khách hàng một cách hợp pháp và hợp lý. Hiệu quả:
Luật Duy Hưng luôn tâm niệm rằng “Hiệu quả” là điều quan trọng nhất đối với Khách hàng. Vì thế, chúng tôi luôn đặt ưu tiên cao nhất đối với quyền lợi của Khách hàng trong quá trình tác nghiệp của mình. Với tinh thần trách nhiệm đòi hỏi sự cẩn trọng, tính chuyên nghiệp và các giá trị then chốt của Luật Duy Hưng đã khẳng định với khách hàng. Ngoài ra, Luật Duy Hưng luôn đề cao tính nhanh chóng, kịp thời và chính xác trong các nội dung trao đổi cũng như trong tiến độ giải quyết công việc của Khách hàng. Công ty Luật TNHH Duy Hưng

Luật Duy Hưng trân trọng thông báo tới Quý khách hàng cùng tập thể cán bộ nhân viên công ty lịch nghỉ tết năm 2026.
11/02/2026

Luật Duy Hưng trân trọng thông báo tới Quý khách hàng cùng tập thể cán bộ nhân viên công ty lịch nghỉ tết năm 2026.

Hơn 220.000 phiếu giả??? Không biết có còn xót không?
26/01/2026

Hơn 220.000 phiếu giả??? Không biết có còn xót không?

(PLO)- Khi niềm tin bị đánh cắp và khi con người không biết phải tin vào thực phẩm nào thì những người gây ra tội ác ấy xứng đáng phải bị trừng trị thích đáng.

TRỤC LỢI TIỀN TỪ THIỆN CÓ THỂ BỊ PHẠT TÙ CHUNG THÂNTrước thiệt hại rất lớn về người và của do cơn bão gây ra ở miền Trun...
06/11/2025

TRỤC LỢI TIỀN TỪ THIỆN CÓ THỂ BỊ PHẠT TÙ CHUNG THÂN

Trước thiệt hại rất lớn về người và của do cơn bão gây ra ở miền Trung, rất nhiều nhà hảo tâm và người nổi tiếng đã đứng ra để kêu gọi người dân cả nước cùng chung tay quên góp để ủng hộ đồng bảo miền Trung vượt qua khó khăn. Tuy nhiên, có một số cá nhân đã nhân cơ hội này để tự đứng ra hoặc mạo danh người nổi tiếng để kêu gọi ủng hộ nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền từ thiện.
Tùy tính chất và mức độ của hành vi thì người có hành vi lừa đảo để chiếm đoạt số tiền từ thiện có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại 174 Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tiền từ thiện cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) khi thỏa mãn một trong các điều kiện sau:

Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên
Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

Khung hình phạt của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 như sau:
Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Quý khách tham khảo dịch vụ pháp lý khác tại:
🌏Website: www.luatduyhung.com
☎️Hotline (Zalo): 0964653879

06/11/2025

⚖️ QUẢNG CÁO VÀ BÁN THỰC PHẨM GIẢ – HÀNH VI PHẠM TỘI NGHIÊM TRỌNG!
Thời gian gần đây, mạng xã hội xuất hiện tràn lan những quảng cáo “thần kỳ” về thực phẩm chức năng, thực phẩm giảm cân, tăng cường sinh lực… Nhiều người nhẹ dạ cả tin đã mua và sử dụng, để rồi rước họa vào thân – thậm chí ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng.
📌 Theo Điều 193 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Người sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm có thể bị phạt tù từ 2 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân, tùy theo mức độ hậu quả.
📌 Đồng thời, Điều 197 Bộ luật Hình sự cũng quy định:
Người quảng cáo gian dối về hàng hóa, dịch vụ – trong đó có thực phẩm – gây thiệt hại cho người tiêu dùng có thể bị phạt tù đến 5 năm và phạt tiền đến 500 triệu đồng.
❗ Cảnh báo:
Đừng vì lợi nhuận mà đánh đổi sức khỏe của cộng đồng.
Mỗi hành vi quảng cáo, buôn bán thực phẩm giả không chỉ vi phạm pháp luật mà còn xâm hại nghiêm trọng đến đạo đức và nhân tính con người.
💡 Lời khuyên từ Luật Duy Hưng:
• Chỉ mua sản phẩm có nguồn gốc, kiểm định rõ ràng.
• Không tin vào quảng cáo “có cánh” trên mạng xã hội.
• Khi phát hiện hành vi sản xuất, kinh doanh, quảng cáo thực phẩm giả – hãy báo ngay cho cơ quan chức năng hoặc liên hệ luật sư để được hướng dẫn xử lý.
📞 Liên hệ Luật Duy Hưng để được tư vấn miễn phí về quyền lợi khi bạn là nạn nhân của hành vi quảng cáo hoặc bán thực phẩm giả.
➡️ Website: luatduyhung.com
➡️ Hotline (zalo): 0964653879
Luật Duy Hưng – Bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân, hướng tới xã hội an toàn và công bằng.

TỘI VU KHỐNG Tội vu khống là tội dược quy định tại Điều 156 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Theo nội dung đ...
04/11/2025

TỘI VU KHỐNG
Tội vu khống là tội dược quy định tại Điều 156 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Theo nội dung điều luật thì người nào thực hiện các hành vi sau đây thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
⇒ Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
⇒ Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
Bị phạt tù từ 1 đến 3 năm nếu phạm tội thuộc các trường hợp sau:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với 02 người trở lên;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;
đ) Đối với người đang thi hành công vụ;
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%
h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm nếu phạm tội thuộc các trường hợp sau:
a) Vì động cơ đê hèn;
b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Làm nạn nhân tự sát.
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Khách thể của tội vu khống.
Vu khống là hành vi bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
Khách thể của tội vu khống là danh dự, nhân phẩm quyền và lợi ích hợp pháp của con người.
Chủ thể của tội vu khống.
Chủ thể của tội vu khống là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi 16 tuổi trở nên.
Mặt khách quan của tội vu khống.
Tội vu khống biểu hiện ở 3 loại hành vi đó là:
⇒ Bịa đặt những điều xấu xa cho người khác về vi phạm kỷ luật, vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật…vv;
⇒ Loan truyền những thông tin, câu truyện biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác;
⇒ Vu oan cho người khác, bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là họ đã phạm một tội nào đó.
Tội vu khống được coi là hoàn thành từ khi người phạm tội thực hiện hành vi bịa đặt, loan truyền hoặc tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc người khác phạm tội.
Mặt chủ quan của tội vu khống.
Tội vu khống được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp.

Mọi thông tin yêu cầu tư vấn xin vui lòng liên hệ:
CÔNG TY LUẬT TNHH DUY HƯNG
📩 Email: [email protected]
☎️ Hotline (Zalo): 0964653879
🌎 Website: https://luatduyhung.com

TÔI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại ...
03/11/2025

TÔI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
đ) Có tổ chức;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
i) Có tính chất côn đồ;
k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Làm chết 02 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Khách thể của tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác.
Tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác là tội phạm xâm hại tính mạng, sức khỏe của con người được pháp luật hình sự bảo vệ. Khách thể của tội phạm này chính là quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe của con người.
Chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác.
Chủ thể của tội phạm là cá nhân có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi và có độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo điều 12 của BLHS 2015, sửa đổi bổ sung tại khoản 3 Điều 1 luật sửa đổi bổ sung năm 2017.
Theo quy định tại điều 134 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 thì;
– Người từ đủ 16 tuổi trở nên, không rơi vào tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự theo Điều 21 BLHS năm 2015 thì đều có thể là chủ thể của tội phạm nếu người này thực hiện hành vi gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác với lỗi cố ý.
– Người từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi chỉ là chủ thể của tội phạm nếu thực hiện hành vi gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác với lỗi cố ý theo quy định tại khoản 3, 4 và khoản 5.
Mặt khách quan của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác.
Người phạm tội thực hiện các hành vi như đấm, đá, đập…….vv nhằm tác động vào cơ thể của người khác làm cho người đó bị thương hoặc bị tổn hại sức khỏe.
Tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác là tội cấu thành vật chất nên phải xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy ra.
Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổ hại sức khỏe cho người khác.
Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại đến sức khỏe của người khác là: Người phạm tội thực hiện các hành vi hành vi dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác tác động vào cơ thể của người khác làm cho người đó bị thương, bị tổn hại sức khỏe.
Các hành vi cụ thể thường thấy là: đánh, đập, đâm, chém, đấm, đá, bắn, đầu độc, tra tấn, đốt cháy… Cũng có trường hợp người phạm tội cưỡng ép người bị hại tự làm tổn hại sức khỏe của mình như: Tự chọc vào mắt mình, chặt ngón tay, uống thuốc phá thai…vv
Hậu quả của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổ hại sức khỏe cho người khác.
Hậu quả của hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là thương tích cả về mặt vật chất, tinh thần hoặc tổn hại sức khỏe của nạn nhân. Thương tích đòi hỏi phải thực tế, khách quan, có thể nhìn thấy và giám định được.
Hành vi cố ý gây thương thương tích gây tỷ lệ tổn thương cơ thể cho nạn nhân từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.
Hậu quả phải là kết quả của hành vi đánh người gây thương tích của tội phạm. Tức là giữa hành vi và hậu quả phải có mối quan hệ nhân quả, hành vi vi phạm là nguyên nhân dẫn đến hậu quả.
Nếu hành vi đánh, đập gây ra thương tích nhưng chưa đến mức nghiêm trọng mà trên người nạn nhân lại có những thương tích khác không phải do tội phạm gây ra thì người đó không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.
Mặt chủ quan của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác.
Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Tức là người phạm tội cố ý thực hiện hành vi gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe người khác.
Hình phạt.
Điều luật quy định khung hình phạt đối với người cố ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác từ khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
Phân biệt tội giết người với tội cố ý gây thương tích dẫn đến hậu quả chết người.
Để phân biệt hai tội này cần phải xem xét những vấn đề như: Tính nguy hiểm của công cụ, phương tiện được sử dụng vào việc phạm tội; Vị trí trên cơ thể nạn nhân mà người phạm tội nhắm tới khi tấn công; Thời gian, không gian, hoàn cảnh thực hiện hành vi phạm tội; Tính quyết liệt khi thực hiện hành vi…vv.
Và đặc biệt phải xem xét, làm rõ ý thức chủ quan của người phạm tội đối với hậu quả có thể gây ra và thái độ đối với hậu quả đó.

Mọi thông tin yêu cầu tư vấn xin vui lòng liên hệ:
CÔNG TY LUẬT TNHH DUY HƯNG
📩 Email: [email protected]
☎️ Hotline (Zalo): 0964653879
🌎 Website: https://luatduyhung.com

TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁCTội làm nhục người khác là tội được quy định tại Điều 155 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm ...
02/11/2025

TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC
Tội làm nhục người khác là tội được quy định tại Điều 155 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Theo nội dung điều luật thì người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Đối với người đang thi hành công vụ;
đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
b) Làm nạn nhân tự sát.
Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Khách thể của tội làm nhục người khác
Nhân phẩm, uy tín và danh dự con người là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, là khách thể của tội làm nhục người khác.
Chủ thể của tội làm nhục người khác
Theo quy định tại điều luật nêu trên thì mức cao nhất của khung hình phạt là 5 năm tù. Do đó, theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 về ‘Tuổi chịu trách nhiệm hình sự” thì: Người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sư đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm.
Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi.
Người phạm tội có thể bằng lời nói hoặc hành động với mục đích hướng đến là hạ thấp nhân cách, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác như.
a/ Bằng lời nói như: sỉ nhục, xóa mạ, chửi bới một cách thô bỉ, tục tĩu… vv.
b/ Bằng việc làm như: lột trần truồng nạn nhân, nhổ nước bọt vào mặt, ném phân, cà chua, trứng thối vào người….vv.
Hậu quả.
Bị xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự nghĩa là hành vi vi phạm phải gây ra ảnh hưởng xấu ở mức độ nhất định đến nhân phẩm, danh dự của người bị hại khiến cho bị hại cảm thấy bị nhục nhã với người khác.
Việc xác định người bị hại cảm thấy nhục hoặc rất nhục với người khác là vấn đề hết sức phức tạp. Bởi có thể cùng một hành vi xúc phạm uy tín danh dự nhân phẩm nhưng ông A thì cảm thấy bị nhục hoặc rất nhục với người khác nhưng với ông B thì cảm thấy bình thường.
Tội làm nhục người khác là tội phạm có cấu thành hình thức nên được coi là hoàn thành từ khi người phạm tội có lời nói hoặc hành động xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác.

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của tội này.
Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, phản ánh trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra.
Người thực hiện hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác dược thực hiện bởi lỗi cố ý trực tiếp.

Mọi thông tin yêu cầu tư vấn xin vui lòng liên hệ:
CÔNG TY LUẬT TNHH DUY HƯNG
📩 Email: [email protected]
☎️ Hotline (Zalo): 0964653879
🌎 Website: https://luatduyhung.com

HẬU QUẢ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ LÀ GÌ??Hậu quả trong vụ án hình sự kết quả do hành vi phạm tội gây nên, làm thiệt hại đến cá...
01/11/2025

HẬU QUẢ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ LÀ GÌ??
Hậu quả trong vụ án hình sự kết quả do hành vi phạm tội gây nên, làm thiệt hại đến các khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Theo cấu thành tội phạm thì hậu quả trong vụ án hình sự thuộc mặt khách quan của tội phạm và được phân loại như sau:
Phân loại hậu quả trong vụ án hình sự.
Theo pháp luật hình sự Việt Nam thì hậu quả trong vụ án hình sự được phân làm 02 loại gồm:
Hậu quả vật chất: Là những thiệt hại mà con người trực tiếp hoặc thông qua các phương tiện kỹ thuật có thể xác định được một cách chính xác mức độ của nó. Thiệt hại loại này có thể là thiệt hại về vật chất hoặc thiệt hại về thể chất.
Thiệt hại vật chất thường được thể hiện thông qua sự biến đổi tình trạng bình thường của các đối tượng vật chất là khách thể của pháp luật hình sự. Ví dụ: tài sản là phương tiện giao thông bị hủy hoại, chiếm giữ, sử dụng trái phép
Hậu quả phi vật chất: Là thiệt hại không thể đo đếm, tính toán được chính xác bằng phương tiện kỹ thuật. Việc xác định thiệt hại chỉ được đánh giá thông qua hoạt động tư duy của con người và chỉ mang tính tương đối. Thiệt hại loại này có thể kể đến như: Danh dự, nhân phẩm. uy tín, quyền tự do, đạo đức……vv.
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm là mối quan hệ giữa nguyên nhân (là hành vi khách quan) làm phát sinh kết quả (là hậu quả của tội phạm). Trong đó, hành vi khách quan đóng vai trò là nguyên nhân, hậu quả nguy hiểm cho xã hội đóng vai trò là hậu quả.
Ví dụ: Nguyễn Văn A đi xe máy do chạy quá tốc độ nên đã đâm vào Phạm Văn B làm B ngã đập đầu xuống đất và bị thương. Ngay sau đó B được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện. Một tuần sau Phạm Văn B bị chết.
Theo kết luận giám định của pháp y xác định nguyên nhân cái chết của B do đầu bị đập mạnh xuống đất và bị chấn thương sọ não. Như vậy cái chết của Phạm Văn B có liên quan đến việc bị Nguyễn Văn A đâm xe máy vào người, Nguyễn Văn A sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nguyên tắc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả trong vụ án hình sự.
+/ Hành vi được coi là nguyên nhân phải là hành vi trái pháp luật hình sự và xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian;
+/ Giữa nguyên nhân và hậu quả phải có mối quan hệ nội tại và tất yếu. Một nguyên nhân bao giờ cũng chứa đựng mầm mống nội tại nhằm phát sinh kết quả nhất định. Đối với hành vi (với tư cách là nguyên nhân) cũng thế.Ví dụ, A lái xe tông vào B gây trọng thương B và được đưa đi cấp cứu nhưng do bệnh viện chậm trễ nên dẫn đến B chết vì vết thương đó. Hành vi của A có mối quan hệ nhân quả với cái chết của B.
Các dạng cơ bản của quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.
+/ Dạng quan hệ nhân quả đơn trực tiếp là quan hệ nhân quả mà chỉ có một hành vi trái pháp luật đóng vai trò là nguyên nhân của hậu quả tội phạm. Bản thân sự vận động nội tại của hành vi trái pháp luật này độc lập đã có khả năng trực tiếp đưa đến hậu quả;
+/ Dạng quan hệ nhân quả kép trực tiếp là quan hệ nhân quả trong đó nhiều hành vi trái pháp luật cùng đóng vai trò là nguyên nhân của hậu quả của tội phạm. Trong thực tế, chúng ta rất khó xác định dạng quan hệ nhân quả thuộc loại này.

Mọi thông tin yêu cầu tư vấn xin vui lòng liên hệ:
CÔNG TY LUẬT TNHH DUY HƯNG
📩 Email: [email protected]
☎️ Hotline (Zalo): 0964653879
🌎 Website: https://luatduyhung.com

TỘI XÂM PHẠM QUYỀN KHIẾU NẠI TỐ CÁOTội xâm phạm quyền khiếu nại tố cáo được quy định tại điều 166 Bộ luật hình sự năm 20...
31/10/2025

TỘI XÂM PHẠM QUYỀN KHIẾU NẠI TỐ CÁO
Tội xâm phạm quyền khiếu nại tố cáo được quy định tại điều 166 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau: Điều 166. Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo
1/ Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc thi hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo gây thiệt hại cho người khiếu nại, tố cáo.
2/ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Trả thù người khiếu nại, tố cáo;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
d) Dẫn đến biểu tình;
đ) Làm người khiếu nại, tố cáo tự sát.
Chủ thể của tội xâm phạm quyền khiếu nại tố cáo.
Như chủ thể của các tội phạm khác, chủ thể của tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo cũng phải đảm bảo các điều kiện về: độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại các Điều 12, 21 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Chủ thể của tội phạm này nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 của điều luật là chủ thể thường, tức là bất cứ người nào từ đủ 16 tuổi trở nên đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm. (Khoản 1 của điều luật có khu hình phạt cao nhất là 3 năm tù nên là tội phạm ít nghiêm trọng).
Chủ thể tội phạm thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 của điều luật là chủ thể đặc biệt chỉ những người có chức vụ, quyền hạn nhất định mới có thể lợi dụng chức vụ quyền hạn để cản trở việc thi hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo gây thiệt hại cho người khiếu nại, tố cáo.
Khách thể của tội xâm phạm quyền khiếu nại tố cáo
Khách thể của tội xâm phạm này là quyền khiếu nại, tố cáo công dân được pháp được pháp luật bảo vệ.
Quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được quy định rất sớm trong Hiến pháp từ năm 1959 đến nay (Hiến pháp 1959 (điều 29); Hiến pháp 1980 (Điều 73); Hiến pháp 1992 (Điều 74; Hiến pháp 2013 (Điều 30)). Điều 30 Hiến pháp năm 2013 quy định về quyền khiếu nai, tố cáo của công dân như sau:
Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.
Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.
Không những được quy định tại Hiếp pháp mà quyền khiếu nại, tố cáo còn được quy định cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật có liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo như: Bộ luật tố tụng hình sự, Tố tụng dân sự, Tố tụng hành chính…….vv. Ngoài ra, Quốc hội còn ban hành luật khiếu nại, luật tố cáo để quy định cụ thể quyền khiếu nại, tố cáo và nghĩa vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Mặt khách quan của tội xâm phạm quyền khiếu nại tố cáo
a/ Hành vi khách quan
Người phạm tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo có thể thực hiện một hoặc một số hành vi sau:
– Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác cản trở việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo theo quy định pháp luật của các cá nhân, tổ chức. Là việc người thực hiện hành vi phạm tội dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác nhằm đe dọa, tác động, ảnh hưởng đến người khiếu nại để họ sợ không dám thực hiện hoặc tiếp tục thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của mình;

– Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác cản trở việc xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của người, cơ quan tổ chức có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Là việc người thực hiện hành vi phạm tội dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác để đe dọa, tác động, ảnh hưởng đến người, cơ quan tổ chức có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm cản trở hoạt động xem xét, giải quyết khiếu nại tố cáo.
– Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác cản trở việc xử lý người bị khiếu nại tố cáo;
– Lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc thi hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo gây thiệt hại cho người khiếu nại, tố cáo;
– Trả thù người khiếu nại tố cáo; là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn hoặc của người khác vì bị khiếu nại, tố cáo hoặc tuy không bị khiếu nại tố cáo nhưng có liên quan đến việc khiếu nại, tố cáo hoặc có liên quan đến người bị khiếu nại, tố cáo đã có hành vi gây thiệt hại (làm hại) cho người đã khiếu nại, tố cáo mình hoặc người mà mình quan tâm. Thủ đoạn trả thù rất đa dạng, tinh vi có thể trả thù ngay hoặc chờ cơ hội sẽ trả thù, có khi năm năm, mười năm sau, do đó, khi xác định hành vi trả thủ phải lấy thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi trả thù làm căn cứ xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự chứ không lấy thời điểm xảy ra hành vi khiếu nại tố cáo để tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu hành vi trả thù lại cấu thành một tội độc lập thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tương ứng với động cơ trả thù.
– Lợi dụng chức vụ quyền hạn thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác cản trở việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của cá nhân, tổ chức;
– Lợi dụng chức vụ quyền hạn thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác cản trở việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo; là việc sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình để gây khó khăn cho việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo như: Bao che cho người bị khiếu nại, tố cáo; không xử lý hoặc xử lý qua loa cho xong chuyện không đúng với tính chất, mức độ vi phạm của người bị khiếu nại, tố cáo.
Một số khái niệm liên quan theo luật Luật khiếu nại 2011 và luật tố cáo năm 2018.
– Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
– Người khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức thực hiện quyền khiếu nại.
– Người bị khiếu nại là cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có quyết định kỷ luật cán bộ, công chức bị khiếu nại.
– Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
– Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại.
– Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm:
+/ Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ;
+/ Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.
– Người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo.
– Người giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo.
– Giải quyết tố cáo là việc thụ lý, xác minh, kết luận nội dung tố cáo và xử lý kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo.
b/ Hậu quả của hành vi vi phạm
Hậu quả của tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo là những thiệt hại vật chất, tinh thần, tính mạng, bất ổn xã hội…….vv do hành vi xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo gây ra cho người khiếu nại hoặc cho xã hội. Những thiệt hại này có thể tính ra bằng tiền, nhưng cũng có thể không tính ra được bằng tiền. Do đó, với những thiệt hại không thể tính được bằng tiền thì phải đánh giá một cách toàn diện để xác định hành vi xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo đã gây ra hậu quả như thế nào cho xã hội?
Hậu quả của tội phạm này là dấu hiệu bắt buộc đối với trường hợp phạm tội quy định tại điểm b khoản 1 của điều luật. Người thực hiện hành vi vi phạm theo quy định tại điểm này nếu chưa gây thiệt hại cho người khiếu nại, tố cáo thì chưa cấu thành tội phạm, còn đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 2 của điều luật hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc, nhưng cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng vấn phải xác định thiệt hại để đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Mặt chủ quan của tội xâm phạm quyền khiếu nại tố cáo.
Người phạm tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo thực hiện hành vi của mình do lỗi cố ý, với nhiều động cơ, mục đích khác nhau như: vì lợi ích vật chất, vì danh vọng, địa vị xã hội… Nếu do thiếu trách nhiệm hoặc do không hiểu biết mà xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo.

Mọi thông tin yêu cầu tư vấn xin vui lòng liên hệ:
CÔNG TY LUẬT TNHH DUY HƯNG
📩 Email: [email protected]
☎️ Hotline (Zalo): 0964653879
🌎 Website: https://luatduyhung.com

Address

Số 181-183, Phố Nguyễn Cảnh Dị, Phường Định Công
Hanoi
128212

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật sư chuyên Hình sự posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Luật sư chuyên Hình sự:

Share