Luật Minh Thuận - Tâm sáng minh thuận

Luật Minh Thuận - Tâm sáng minh thuận Tư vấn các vấn đề pháp lý cho bạn...

Hãng luật Minh Thuận - Tâm sáng Minh Thuận....
28/09/2020

Hãng luật Minh Thuận - Tâm sáng Minh Thuận....

I. QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT TCLĐ, BHXH BẰNG BIỆN PHÁP THƯƠNG LƯỢNGBước 1: NLĐ, đại diện hợp pháp của NLĐ làm việc với NSDLĐ,...
24/06/2020

I. QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT TCLĐ, BHXH BẰNG BIỆN PHÁP THƯƠNG LƯỢNG

Bước 1: NLĐ, đại diện hợp pháp của NLĐ làm việc với NSDLĐ, đại diện hợp pháp của NSDLĐ về các vấn đề cần giải quyết.

Bước 2: Hai bên thống nhất các vấn đề bằng biên bản. Biên bản này có thể làm cơ sở cho việc sửa đổi bổ sung hoặc ký phụ lục HĐLĐ. Trường hợp không thỏa thuận được thì các bên có thể lựa chọn các biện pháp khác để giải quyết.

Bước 3: Hai bên thực hiện các nội dung đã cam kết.
Trường hợp không thỏa thuận được hoặc một trong các bên không thực hiện đúng thỏa thuận thì bên còn lại có quyền khởi kiện, tố giác hay khiếu nại.

Lưu ý:
Một số tranh chấp lao động theo thủ tục hành chính, tố tụng dân sự cần phải được xử lý sớm vì có thời hiệu yêu cầu giải quyết, nếu quá thời hạn cho phép có thể không được giải quyết nữa. Vì vậy, nếu bị xâm phạm quyền lợi, các bên nên tiến hành sớm đàm phán, trao đổi với nhau các vấn đề mâu thuẫn để xử lý vụ việc một cách tốt nhất.

RẤT NHIỀU NGƯỜI LAO ĐỘNG KHÔNG BIẾT LÀ MÌNH CÓ MỘT KHOẢN TIỀN TIẾT KIỆM ĐANG ĐỂ Ở BHXH => ĐỌC BÀI VIẾT DƯỚI ĐÂY ĐỂ XEM B...
16/06/2020

RẤT NHIỀU NGƯỜI LAO ĐỘNG KHÔNG BIẾT LÀ MÌNH CÓ MỘT KHOẢN TIỀN TIẾT KIỆM ĐANG ĐỂ Ở BHXH => ĐỌC BÀI VIẾT DƯỚI ĐÂY ĐỂ XEM BẠN CÓ LÀ MỘT TRONG SỐ ĐÓ KHÔNG NHÉ???

Cần chú ý nhận lại sổ BHXH sau khi nghỉ việc

Nhiều NLĐ được tuyển dụng vào làm việc trong DN là lao động phổ thông, lao động thời vụ, là lực lượng lao động trực tiếp làm việc ngoài công trình, nên có thể trình độ nhận thức, hiểu biết những chính sách, chế độ theo quy định pháp luật còn hạn chế. Khi tuyển dụng vào làm việc, DN có trách nhiệm phổ biến, hướng dẫn cụ thể về chế độ, chính sách BHXH của Nhà nước cũng như các quyền lợi để NLĐ nắm. Thế nhưng, nhiều NLĐ thờ ơ nên đến lúc nghỉ việc sau khi đã có hàng chục năm tham gia đóng BHXH vẫn không đến lấy sổ BHXH để bảo lưu thời gian tham gia, hoặc có thể tiếp tục tham gia đóng BHXH tại một đơn vị mới, hoặc để làm thủ tục nhận trợ cấp BHXH một lần sau 1 năm nghỉ việc.

Có nhiều trường hợp NLĐ không đến nhận sổ nhưng DN không thể liên lạc do NLĐ không cung cấp số điện thoại. DN phải gửi sổ BHXH đến địa chỉ nhà cho NLĐ qua bưu điện, nhưng địa chỉ không rõ ràng (thường trong hồ sơ tuyển dụng, NLĐ chỉ ghi xã, phường, thiếu tên thôn, xóm). Do không tìm được địa chỉ của người nhận, nên những cuốn sổ BHXH gửi đi lại bị gửi trả về, hoặc bị thất lạc. Hiện nay, theo quy định của Luật BHXH năm 2014, sổ BHXH được trả cho NLĐ tự cất giữ, quản lý, nhưng có nhiều NLĐ sợ mất, hỏng, thất lạc sổ nên ủy quyền cho DN cất giữ. Đến khi NLĐ nghỉ việc, chấm dứt hợp đồng lao động, lại không trở về nhận lại sổ BHXH.

Cũng có thực tế là ngoài chuyện bản thân NLĐ không quan tâm hoặc thiếu hiểu biết, thì một số DN cũng chưa thực hiện tốt, đầy đủ các chế độ chính sách về BHXH cho NLĐ, thiếu hướng dẫn, phổ biến cặn kẽ về chính sách BHXH cho NLĐ, vì vậy NLĐ băn khoăn, không biết bản thân có được tham gia BHXH khi được tuyển dụng vào làm việc tại DN hay không.

Những quyền lợi cần biết

Theo quy định của Luật BHXH năm 2014 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2016), với những cuốn sổ BHXH mà không có NLĐ đến nhận sau 1 năm nghỉ việc, chấm dứt hợp đồng lao động, DN phải làm thủ tục, lập danh sách để bàn giao cho cơ quan BHXH thống kê, quản lý. Luật BHXH năm 2014 cũng quy định đối với trường hợp đã đóng góp tham gia BHXH dưới 20 năm, khi nghỉ việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, nếu không bảo lưu hoặc tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện hay bắt buộc thì NLĐ được làm thủ tục nhận trợ cấp BHXH một lần (sau 1 năm nghỉ việc, chấm dứt hợp đồng lao động). Đối với NLĐ có thời gian tham gia đóng góp quỹ BHXH từ ngày 31-12-2013 trở về trước, cứ 1 năm làm việc sẽ được hưởng trợ cấp BHXH 1,5 tháng lương theo hợp đồng lao động đã đóng BHXH. Kể từ ngày 1-1-2014, cứ 1 năm làm việc sẽ được hưởng trợ cấp 2 tháng lương.

Do vậy, sổ BHXH được xem là sổ tiết kiệm, thể hiện quá trình tích lũy tham gia BHXH của NLĐ trong quá trình làm việc tại một hoặc nhiều DN. NLĐ cần biết những quyền lợi của mình trong thời gian làm việc và có đóng góp vào quỹ BHXH. Đừng bỏ quên quyền lợi của chính mình. Khi nghỉ việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, bản thân NLĐ cần nhanh chóng liên hệ với cơ quan, DN để làm thủ tục nhận sổ BHXH đã được chốt (xác nhận), có thể bảo lưu thời gian tham gia hoặc tiếp tục tham gia BHXH (có lợi hơn so với nhận trợ cấp một lần). Nếu có nguyện vọng không tiếp tục tham gia BHXH, NLĐ sẽ nhận lại khoản trợ cấp BHXH mà mình đã tham gia sau một hoặc nhiều năm tham gia đóng góp vào quỹ BHXH.

Theo: tapchitoaan.vn
https://luatminhthuan.com/2020/06/13/cach-tu-chot-so-bhxh-cach-chot-so-bhxh-khi-nghi-ngang-dich-vu-bhxh/

Cách tự chốt sổ BHXH, cách chốt sổ BHXH khi nghỉ nganghttps://luatminhthuan.com/2020/06/13/cach-tu-chot-so-bhxh-cach-cho...
13/06/2020

Cách tự chốt sổ BHXH, cách chốt sổ BHXH khi nghỉ ngang

https://luatminhthuan.com/2020/06/13/cach-tu-chot-so-bhxh-cach-chot-so-bhxh-khi-nghi-ngang-dich-vu-bhxh/

Chốt sổ BHXH là gì?
Hướng dẫn NLĐ tự chốt sổ BHXH

Chốt sổ BHXH là quá trình cơ quan BHXH xác nhận thời gian đã đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN đã được hạch toán, phân bổ tiền nộp của người tham gia BHXH, kết quả của quá trình này là việc cơ quan BHXH in các tờ rời trong đó xác nhận thời gian tham gia BHXH của NLĐ và trả về cho NLĐ để làm căn cứ hưởng các chế độ sau này.

Khi nào cần chốt sổ BHXH?

Sổ BHXH cần được chốt khi NLĐ nghỉ việc tại công ty hoặc phát sinh sự kiện khác (ví dụ như NLĐ chết), trường hợp thông thường nhất là khi NLĐ nghỉ việc tại công ty.

Tại sao cần chốt sổ BHXH?

Sổ BHXH cần được chốt để cơ quan BHXH xác định được tổng thời gian tham gia và mức đóng BHXH của NLĐ tại các thời kỳ khác nhau, từ đó làm căn cứ để tính hưởng các chế độ như thai sản, bảo hiểm thất nghiệp, hưu trí, tử tuất…Nếu sổ BHXH không được chốt thì NLĐ sẽ không thể lấy được các chế độ của mình.

Ai là người có nghĩa vụ chốt sổ BHXH cho người lao động?

Căn cứ theo khoản 2 và khoản 3 Điều 47 Bộ Luật lao động 2012 quy định:

“Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.”

Đồng thời, căn cứ theo khoản 5 Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động thì:

“Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật”.

Như vậy theo quy định của pháp luật thì người sử dụng lao động sẽ có nghĩa vụ chốt sổ khi người lao động nghỉ việc.

Thời gian chốt sổ bảo hiểm xã hội là bao lâu?

Thời gian chốt sổ BHXH có lâu không?
Điều 47 Bộ Luật lao động 2012 quy định:

“a. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày”.

Như vậy, Người sử dụng lao động phải có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị chốt sổ bảo hiểm xã hội nộp cho cơ quan Bảo hiểm xã hội để chốt sổ và trả sổ cho người lao động. Trong thời gian 07 ngày làm việc thì người sử dụng lao động sẽ phải trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động và trường hợp đặc biệt thì có thể kéo dài hơn nhưng tối đa không quá 30 ngày.

Người lao động có tự đi chốt sổ BHXH được không? Làm thế nào khi công ty nợ tiền BHXH đẫn đến không chốt sổ được?

Theo quy định đã phân tích trên thì Người sử dụng lao động là bên có nghĩa vụ làm thủ tục chốt sổ BHXH cho NLĐ và NLĐ không thể tự chốt sổ được, tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt thì NLĐ có thể TỰ CHỐT SỔ BHXH:

Khi công ty bị giải thể, phá sản;
Khi công ty đã ngừng hoạt động;

Khoản 72, điều 1, Quyết định 505/QĐ-BHXH năm 2020 quy định “1.2. Đối với đơn vị nợ tiền đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN, nếu người lao động đủ điều kiện hưởng BHXH hoặc chấm dứt HĐLĐ, HĐLV thì đơn vị có trách nhiệm đóng đủ BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN, bao gồm cả tiền lãi chậm đóng theo quy định, cơ quan BHXH xác nhận sổ BHXH để kịp thời giải quyết chế độ BHXH, BHTN cho người lao động.

Trường hợp đơn vị chưa đóng đủ thì xác nhận sổ BHXH đến thời điểm đã đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN. Sau khi thu hồi được số tiền đơn vị còn nợ thì xác nhận bổ sung trên sổ BHXH.

Trường hợp này Người lao đông làm đơn đề nghị hỗ trợ chốt sổ BHXH gửi cơ quan BHXH trong đó có căn cứ về việc công ty đã bị giải thể, phá sản hoặc đã ngừng hoạt động, Cơ quan BHXH sẽ xác nhận sổ BHXH đến thời điểm công ty đã đóng BHXH cho NLĐ.


Hồ sơ để NLĐ tự chốt sổ BHXH gồm những gì?

CMT/ CCCD/ Hộ chiếu bản photo công chứng;
Sổ BHXH;
Quyết định cho thôi việc (nếu có).
Đơn đề nghị hỗ trợ chốt sổ BHXH.

Tôi phải làm gì khi công ty không đóng BHXH cho tôi?
Bạn có thể dùng các biện pháp khiếu nại, tố cáo hành chính, khởi kiện dân sự hoặc tố giác hình sự tùy vào mức độ vi phạm của công ty bạn để cơ quan chức năng vào cuộc cũng như yêu cầu công ty đóng BHXH, bồi thường nếu việc không đóng BHXH làm ảnh hưởng tới quyền lợi của bạn.

Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết nếu công ty không đóng BHXH cho tôi?

Các cơ quan có thẩm quyền giải quyết là:

Phòng Lao động Thương binh và Xã hội nơi công ty đóng trụ sở >> inbox nhận Mẫu đơn gửi Phòng Lao động Thương binh và Xã Hội mới nhất;

Cơ quan BHXH nơ công ty đóng trụ sở >> inbox nhận Mẫu đơn gửi Cơ quan BHXH mới nhất;

Thanh tra lao động >> inbox nhận Mẫu đơn gửi Cơ quan BHXH mới nhất;

Chủ tịch UBND quận;huyện, tỉnh >> inbox nhận Mẫu đơn gửi Chủ tịch UBND mới nhất.

Hòa giải viên lao động >> inbox nhận Mẫu đơn gửi Hòa giải viên lao động;

Tòa án nhân dân >> inbox nhận Mẫu đơn gửi Tòa án nhân dân.

Cơ quan công an cấp huyện trong trường hợp hành vi có dấu hiệu hình sự >> inbox nhận Mẫu đơn gửi Cơ quan công an.

Tôi đi làm ở 3 công ty, công ty lần lượt là A, B và C. Công ty đầu tiên không hề đóng bảo hiểm xã hội cho tôi, sau đó vì lý do cá nhân và cũng do công ty nợ lương, thưởng, BHXH nên tôi đã nghỉ ngang và đi làm ở công ty B, C các công ty B và C đều đóng BHXH cho tôi vào số sổ BHXH đã có từ thời công ty A. Nay tôi không đi làm nữa và mong muốn lấy BHXH 1 lần thì tôi có lấy được không?

Đáp: Bạn phải chốt sổ BHXH thì mới có thể lấy được các quyền lợi của mình, nếu bạn không chốt được sổ thì dù đóng BHXH hàng chục năm trời bạn cũng không thể lấy các quyền lợi của mình. Trường hợp của bạn do công ty A nợ BHXH nên bạn không thể chốt được ở công ty A do đó không chốt được ở công ty B và C, chính vì vậy bạn sẽ chưa thể lấy được BHXH cho đến khi hoàn tất quy trình chốt sổ. Trường hợp công ty A còn hoạt động thì bạn yêu cầu công ty A phải chốt sổ cho bạn. Trường hợp công ty A đã giải thể hay phá sản hoặc ngừng hoạt động và họ không có khả năng thanh toán tiền BHXH để chốt sổ cho bạn thì bạn làm đơn, có nêu rõ các căn cứ về việc công ty A đã giải thể hay phá sản hoặc ngừng hoạt động gửi cơ quan BHXH để họ hỗ trợ bạn chốt sổ BHXH sau đó bạn liên hệ cơ quan BHXH nơi có trụ sở công ty B và C để họ hỗ trợ chốt sổ BHXH cho mình. Sau khi đã chốt sổ BHXH bạn làm thủ tục để lấy BHXH 1 lần.

Dịch vụ hỗ trợ chốt sổ BHXH của Luật Minh Thuận
Nếu:

Bạn đã bị công ty trích thu rất nhiều tiền BHXH trong nhiều năm làm việc của mình;
Bạn đang không thể lấy được các quyền lợi BHXH của mình do công ty nợ BHXH và không thể chốt sổ được;
Bạn nghỉ ngang, khi quay về nhờ công ty cũ chốt sổ BHXH nhưng công ty bắt phải nộp phạt mới đưa sổ;
Bạn bị mất sổ BHXH muốn làm lại;
Bạn có nhiều sổ BHXH cần gộp để hưởng chế độ;
Bạn muốn không mất thời gian đi lại nhiều lần lên cơ quan BHXH;
Bạn muốn có người đại diện xử lý các thủ tục cho mình một cách nhanh chóng, an toàn, chi phí thấp.

Tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí – Luật Minh Thuận
Luật Minh Thuận sẽ:

Thay bạn soạn bộ hồ sơ pháp lý;
Thay bạn làm việc với cơ quan, tổ chức, đơn vị;
Thay bạn làm việc tại cơ quan BHXH;
Thay bạn nộp hồ sơ và nhận kết quả.
Bạn hãy để lại số điện thoại hoặc liên hệ Hotline tư vấn miễn phí 0902.196.369, Luật Minh Thuận sẽ tư vấn cho bạn các bước thực hiện để bảo vệ quyền và lợi ích của mình.

Trường hợp nhờ Luật Minh Thuận đại diện chốt sổ BHXH hoặc thực hiện các dịch vụ pháp lý khác thì chúng tôi cần cung cấp những gì?

Bạn chỉ cần cung cấp:

CMT/CCCD/Hộ chiếu photo công chứng 3 bản (tiếp nhận hồ sơ ban đầu chỉ cần gửi ảnh hoặc bản scan);

Sổ BHXH, Mã số BHXH (nếu có) bản photo công chứng (tiếp nhận hồ sơ ban đầu chỉ cần gửi ảnh hoặc bản scan);

Quyết định nghỉ việc, HĐLĐ (nếu có), (tiếp nhận hồ sơ ban đầu chỉ cần gửi ảnh hoặc bản scan).

Chi phí nhờ Luật Minh Thuận hỗ trợ chốt sổ BHXH là bao nhiêu?

Luật Minh Thuận sẽ căn cứ vào mức độ phức tạp của vụ việc để báo chi phí hợp lý cho bạn, thông thường trường hợp đơn giản chỉ từ 1 triệu đồng. Trường hợp bạn là người thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người trong gia đình có công với cách mạng, người già neo đơn, người tàn tật có giấy chứng nhận thì Luật Minh Thuận sẽ hỗ trợ bạn hoàn toàn miễn phí.

Share + inbox số điện thoại và địa chỉ mail của bạn để nhận MẪU ĐƠN ĐỀ NGHỊ CHỐT SỔ BHXH!

NGƯỜI LAO ĐỘNG CÓ NHỮNG QUYỀN LỢI GÌ KHI BỊ CÔNG TY SA THẢI TRÁI PHÁP LUẬT???BẢN ÁN SỐ 04/2019/LĐ-ST NGÀY 26/08/2019 CỦA...
21/05/2020

NGƯỜI LAO ĐỘNG CÓ NHỮNG QUYỀN LỢI GÌ KHI BỊ CÔNG TY SA THẢI TRÁI PHÁP LUẬT???

BẢN ÁN SỐ 04/2019/LĐ-ST NGÀY 26/08/2019 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG BẢNG TỈNH TÂY NINH VỀ TRANH CHẤP KỶ LUẬT LAO ĐỘNG (trích http://congbobanan.toaan.gov.vn/)

Bản án số: 04 /2019/LĐ - ST. Ngày 26 - 8 - 2019
V/v: “Tranh chấp kỷ luật lao động”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Ái Hoà
Ông Cao Hoài Hiêm
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thướng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 07/2019/TLST- LĐ ngày 03 tháng 6 năm 2019 về việc: “Tranh chấp xử lý kỷ luật lao động” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2019/QĐXXST- LĐ ngày 01 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn U, sinh năm 1970; Địa chỉ: Ấp Suối Sâu, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh Đạt, sinh năm 1993;
Địa chỉ cư trú: 69A, đường Lò Lu, Phường Trường Thạnh, Quận 9, Thành Phố Hồ Chí Minh (theo văn bản uỷ quyền ngày 05 tháng 7 năm 2019). Có mặt.

- Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn K Đ Việt Nam, Địa chỉ: Khu Chế xuất và công nghiệp Linh Trung III, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà CHEN, sinh năm 1989 - Chức vụ : Tổng Giám đốc - đại diện theo pháp luật; Uỷ quyền cho anh Huỳnh Thanh Đ, sinh năm 1978; Địa chỉ: Ấp A B, xã A T, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản uỷ quyền ngày 04/7/2019). Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14/5/2019 của anh Nguyễn Văn U và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng (nguyên đơn) anh U trình bày:
Ngày 27/08/2018, anh Nguyễn Văn U ký hợp đồng lao động làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn K Đ Việt Nam (gọi tắt là Công ty K Đ), hợp đồng lao động thời hạn 12 tháng; nhiệm vụ: Công nhân, tại thời điểm nghỉ việc mức lương là
3.966.000 đồng/tháng, các khoản trợ cấp khác là 1.034.000 đồng/tháng, tổng cộng 5.000.000 đồng/tháng. Đến ngày 06/3/2019, Công ty có Quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với anh U với lý do là kỷ luật lao động. Từ ngày nghỉ việc Công ty K Đ không thanh toán chế độ gì cho anh U mà chỉ trả lương đến hết ngày 06/4/2019. Nay anh U khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố quyết định của Công ty K Đ về kỷ luật lao động với anh là trái pháp luật và yêu cầu Công ty phải bồi thường cho anh tổng số tiền là 65.144.000 đồng gồm các khoản sau:
- Tiền lương 05 tháng còn lại của hợp đồng 25.000.000 đồng.
- Tiền bảo hiểm gồm: Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp = (25.000.000 đồng x 21,5%) = 5.375.000 đồng.
- 06 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là 30.000.000 đồng.
- 30 ngày tiền lương do vi phạm thời gian báo trước là 5.769.000 đồng.
Tại phiên toà anh Đạt (đại diện cho anh U) giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Tại Công văn ngày 04/7/2019 và lời khai của anh Huỳnh Thanh Đ đại diện cho Công ty K Đ (bị đơn) đối với yêu cầu của nguyên đơn, anh Đ trình bày:

Thống nhất với lời trình bày của người đại diện cho anh U về thời gian làm việc, mức lương, trợ cấp tại thời điểm nghỉ việc là đúng. Nguyên nhân ban lãnh đạo công ty cho anh U nghỉ việc là do anh U tổ chức đình công và không hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đến ngày 06/3/2019, Hội đồng kỷ luật của công ty tiến hành xử lý kỷ luật anh U bằng hình thức “chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn” anh U có ký biên bản, trong Quyết định có thông báo trước 30 ngày. Anh U đã nhận tiền lương đến hết ngày 06/4/2019. Quan điểm của Công ty K Đ lý do cho anh U nghỉ việc là đúng nên không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh U.

Tại phiên toà, anh Đ trình bày là Công ty K Đ đồng ý hỗ trợ cho anh U số tiền
15.000.000 đồng, không đồng ý nhận anh U trở lại làm việc.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng:

- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội qui phiên tòa.
Về nội dung: Căn cứ Điều 36, 38, 41, 42, 126 Bộ luật lao động đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn U đối với Công ty K Đ.

- Tuyên bố: Quyết định số QĐ/CDHD 20190306 -1 ngày 06/3/2019 của Công ty K Đ về chấm dứt hợp đồng lao động đối với anh Nguyễn Văn U là trái pháp luật.

Buộc Công ty K Đ phải bồi thường thiệt hại cho anh U theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn U khởi kiện Công ty K Đ tranh chấp xử lý kỷ luật lao động. Toà án thụ lý giải quyết theo điểm a khoản 1 Điều 32 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung: Anh Nguyễn Văn U là người lao động làm việc tại Công ty K Đ. Ngày 06/3/2019, Công ty K Đ ban hành Quyết định số QĐ/CDHD 20190306-1 xử lý kỷ luật anh U bằng hình thức đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn với lý do được nêu tại Biên bản họp hội đồng xét kỷ luật là “tự ý ngưng việc khi chưa được sự đồng ý của quản lý, không hoàn thành được giao trong công việc”. Không đồng ý với việc xử lý kỷ luật nêu trên, anh U khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố Quyết định kỷ luật của Công ty K Đ đối với anh là trái pháp luật và yêu cầu Công ty phải bồi thường thiệt hại cho anh tổng số tiền 65.144.000 đồng. Phía Công ty K Đ cho rằng việc kỷ luật anh U là đúng và không đồng ý bồi thường.

[3] Qua kết quả xác minh thu thập chứng cứ thấy rằng: Việc Công ty K Đ kỷ luật anh U với lý do “tổ chức đình công và không hoàn thành nhiệm vụ được giao” là không có cơ sở và thiếu căn cứ pháp lý.

Cụ thể: Tại Điều 219 Bộ luật lao động quy định về những hành vi bị cấm trước, trong và sau khi đình công …khoản 4 Điều 219 Bộ luật lao động quy định: “Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động, người lãnh đạo đình công hoặc điều động người lao động, người lãnh đạo đình công sang làm công việc khác, đi làm việc ở nơi khác vì lý do chuẩn bị đình công hoặc tham gia đình công”.

Đối với lỗi “không hoàn thành nhiệm vụ” thì Công ty K Đ không có văn bản chứng minh được lỗi của người lao động. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận Quyết định số QĐ/CDHD 20190306-1 ngày 06/3/2019 của Công ty K Đ về kỷ luật lao động hình thức chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn đối với anh Nguyễn Văn U là trái pháp luật, không đúng quy định tại khoản 1 Điều 126 Bộ luật lao động. Công ty K Đ phải nhận anh U trở lại làm việc theo hợp đồng. Tuy nhiên, tại phiên toà người đại diện cho anh U trình bày là anh U không đồng ý tiếp tục làm việc tại Công ty K Đ nữa, nên không buộc công ty phải nhận người lao động trở lại làm việc mà giải quyết buộc Công ty K Đ phải bồi thường cho anh U khoản tiền lương để hai bên chấm dứt hợp đồng lao động là phù hợp tại khoản 3 Điều 42 của Bộ luật lao động.

Do xử lý kỷ luật không đúng nên Công ty K Đ phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh Nguyễn Văn U các khoản theo quy định tại khoản 1,3 Điều 42 Bộ luật lao động cụ thể như sau:

- Tiền lương những ngày không được làm việc tính từ ngày 06/4/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 26/8/2019) là 04 tháng 20 ngày số tiền 18.914.760 đồng;
Tiền Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp những ngày không được làm việc (18.914.760 đồng x 21,5%) số tiền 4.066.600 đồng;
- Hai tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật số tiền 3.966.000 đồng x 2 số tiền 7.932.000 đồng.
- Hai tháng tiền lương để chấm dứt hợp đồng lao động số tiền 7.932.000 đồng.
Tổng cộng các khoản Công ty K Đ phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn U số tiền 38.845.360 đồng, viết tròn số là 38.845.000 đồng (ba mươi tám triệu tám trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng.
- Công ty K Đ đã có báo trước cho anh U thời gian nghỉ việc nên không chấp nhận yêu cầu của anh U đòi bồi thường khoản tiền về thời gian báo trước.
- Không chấp nhận yêu cầu của anh U đòi Công ty K Đ bồi thường thêm số tiền
26.299.000 đồng.
[4] Xét đề nghị của Viện Kiểm sát tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về án phí: Anh U được miễn án phí theo qui định của pháp luật. Công ty K Đ phải chịu tiền án phí lao động sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội; đối với tài sản có giá ngạch là 38.845.000 đồng x 3% = 1.165.350 đồng, viết tròn số là 1.165.000 đồng. Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ 38 Điều 126, khoản 4 Điều 219 khoản 1, 3 Điều 42 Bộ luật lao động; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn U đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn K Đ Việt Nam.
- Tuyên bố: Quyết định số QĐ/CDHD 20190306-1 ngày 06/3/2019 của Công ty trách nhiệm hữu hạn K Đ Việt Nam về kỷ luật lao động hình thức chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn đối với anh Nguyễn Văn U là trái pháp luật.
- Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một K Đ Việt Nam phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh Nguyễn Văn U tổng số tiền 38.845.000 (ba mươi tám triệu tám trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu của anh U đòi Công ty K Đ bồi thường thêm số tiền 26.299.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
2- Về án phí:
Anh Nguyễn Văn U được miễn án phí theo qui định của pháp luật.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn K Đ Việt Nam phải chịu 1.165.000 (một triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng tiền án phí lao động sơ thẩm.
Báo cho các đương sự biết, được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-TA Tây Ninh; Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
-VKS Trảng Bàng;
-THADS Trảng Bàng;
-Lưu hồ sơ; (Đã ký)
-Lưu án văn; -Các đương sự.

Phạm Văn Tâm

BÌNH LUẬN

Luật lao động quy định:
“Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.
3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.”

Ngày 06/3/2019, Công ty K Đ ban hành Quyết định số QĐ/CDHD 20190306-1 xử lý kỷ luật anh U bằng hình thức đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn với lý do được nêu tại Biên bản họp hội đồng xét kỷ luật là “tự ý ngưng việc khi chưa được sự đồng ý của quản lý, không hoàn thành được giao trong công việc”

Trường hợp này bản chất là công ty SA THẢI ANH U VÌ LÝ DO “tự ý ngưng việc khi chưa được sự đồng ý của quản lý, không hoàn thành được giao trong công việc”, Bộ luật lao động KHÔNG QUY ĐỊNH “đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” là một hình thức kỷ luật lao động mà chỉ quy định tại điều 125 “Hình thức xử lý kỷ luật lao động
1. Khiển trách.
2. Kéo dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng; cách chức.
3. Sa thải”.
- Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp kỷ luật lao động là có cơ sở tuy nhiên trong bản án có nhận định: “Công ty K Đ đã có báo trước cho anh U thời gian nghỉ việc nên không chấp nhận yêu cầu của anh U đòi bồi thường khoản tiền về thời gian báo trước”. Về vấn đề này, pháp luật lao động có quy định trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động, trong đó có quy định về việc phải báo trước cho người lao động để NLĐ thu sếp tham gia cuộc họp xử lý kỷ luật lao đông, chứ không phải báo trước về việc cho nghỉ việc. Pháp luật cũng không quy định việc phải báo trước cho NLĐ trong thời hạn bao nhiêu ngày trước khi ra quyết định sa thải cho nên việc tòa án không chấp nhận yêu cầu bồi thường về thời gian báo trước của anh U là có cơ sở tuy nhiên căn cứ trên hành vi “công ty KĐ đã báo trước” thì có thể là chưa thực sự thỏa đáng vì sa thải không đặt ra vấn đề phải báo trước.
Phần bình luận là quan điểm cá nhân của tác giả, chỉ có giá trị tham khảo.

Trường hợp cần tư vấn khi bị sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, các ban có thể liên hệ ☎️ 0902.196.369 hoặc gửi vướng mắc pháp lý của bạn về hòm thư: [email protected], chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn.

NGƯỜI LAO ĐỘNG KHỞI KIỆN KHI CÔNG TY TRỐN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘIBẢN ÁN TRANH CHẤP LAO ĐỘNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI CỦA TAND THÀ...
18/05/2020

NGƯỜI LAO ĐỘNG KHỞI KIỆN KHI CÔNG TY TRỐN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI

BẢN ÁN TRANH CHẤP LAO ĐỘNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI CỦA TAND THÀNH PHỐ TAM KỲ TỈNH QUẢNG NAM
(nguồn án:http://congbobanan.toaan.gov.vn/)

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Tin,
2. Ông Trần Phi Tiển.

Thư ký phiên tòa: Ông Võ Thanh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 05/2019/TLST - LĐ ngày 27 tháng 6 năm 2019 về “Tranh chấp lao động về bảo hiểm xã hội” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2019/QĐXXST - DS ngày 20 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:
- Các nguyên đơn:

1. Bà Lê Thị H1 – 1989;
Địa chỉ: Thôn PK, xã TX2, huyện NT, tỉnh Quảng Nam;
2. Nguyễn Thị H2 – 1997;
Địa chỉ: Tổ 4, khối phố P.P, phường A.P, thành phố TK;

Các nguyên đơn ủy quyền cho Tổ chức khởi kiện là: Liên đoàn Lao động thành phố T.K;

Địa chỉ: Số 99 HV, thành phố T.K;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi T. – Chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố T.K; người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Dương N – Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố T.Kỳ; ông N có mặt.

- Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn MTVH;
Địa chỉ: Lô A, Cụm Công nghiệp TX, phường TX, thành phố TK;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Phan V – Giám đốc; có đơn xin vắng

mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội thành phố T.K; địa
chỉ: Số 517 H.V, thành phố TK;
Người đại diện theo pháp luật:Ông Châu Văn N – Giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hùnh Thanh T – Phó Giám đốc (theo văn bản ủy quyền ngày 13 tháng 9 năm 2019); ông Ti có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền nguyên đơn, Liên đoàn lao động thành phố T. K khởi kiện nội dung sau: Bà Lê Thị H1 và bà Nguyễn Thị H2 là công nhân làm việc cho Công ty Trách nhiệm hữa hạn MTTVH (sau đây gọi là Công ty MVH). Trong thời gian làm việc, Công ty MVH không thực hiện đúng nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội cho bà H1 và bà H2 làm ảnh hưởng đến quyền được chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội của người lao động. Theo ủy quyền của các nguyên đơn, Liên đoàn Lao động thành phố TK khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ buộc Công ty MVH đóng đủ tiền bảo hiểm xã hội còn nợ cho bà H1 là 11.923.438 đồng, cho bà H2 là 11.359.004 đồng và thực hiện các nghĩa vụ khác đối với cơ quan bảo hiểm liên quan đến các nguyên đơn để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động,

- Quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo pháp luật của bị đơn, ông Đinh

Phan V thừa nhận nợ tiền bảo hiểm xã hội theo nội dung khởi kiện, do phía Công ty không hoạt động nên chưa có khả năng thanh toán; ông V xin vắng mặt tại các phiên tòa.

- Quá trình giải quyết vụ án, Bảo hiểm xã hội thành phố TK trình bày: Theo hồ sơ quản lý của đơn vị, bà Nguyễn Thị H1 làm việc tại Công ty MVH và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 4 năm 2015 đến tháng 01 năm 2018 (nghỉ sinh từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 01 năm 2018); phía Công ty MVH nợ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 07 năm 2017 là 11.339.004 đồng, tiền lãi phát sinh do chậm nộp tính đến ngày xét xử là 3.061.023 đồng; bà Lê Thị H1 làm việc tại Công ty MVH và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 07 năm 2017 (nghỉ sinh từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 01 năm 2018); phía Công ty MVH nợ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 07 năm 2017 là 11.923.438 đồng, tiền lãi phát sinh do chậm nộp tính đến ngày xét xử là 4.808.120 đồng. Để Bảo hiểm xã hội thành phố TK chi trả các chế độ liên quan đến quyền lợi của các nguyên đơn thì phía Công ty MVH phải thanh toán số tiền nợ bảo hiểm phải đóng và tiền lãi phát sinh đối với bà H1 là 14.400.027 đồng, đối với bà H2 là 16.731.558 đồng; đồng thời sau ngày xét xử, phía bị đơn còn phải trả tiền lãi nếu chậm thanh toán theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Các chứng từ về quản lý đóng bảo hiểm xã hội; các chứng cứ về thủ tục ủy quyền khởi kiện; các chứng cứ về bản khai của các bên; các tài liệu, chứng cứ khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ xác định Tòa án, những người tiến hành tố tụng và các đương sự đã tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án. Về quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của tổ chức đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:


[1] Về tố tụng: Các nguyên đơn là công nhân làm việc tại Công ty MVH có trụ sở tại thành phố TK; cho rằng ngưởi sử dụng lao động vi phạm nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, làm ảnh hưởng đến quyền lợi nên các nguyên đơn ủy quyền cho Liên đoàn Lao động thành phố TK khởi kiện là đảm bảo điều kiện và quyền khởi kiện, Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ thụ lý, giải quyết vụ án Tranh chấp về bảo hiểm xã hội là đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 32, Điều 35, khoản 2 Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm d khoản 1 Điều 14 Luật bảo hiểm xã hội.

Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ đã thông báo thụ lý vụ án và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan cho phía bị đơn. Trước khi Hội đồng xét xử ban hành bản án giải quyết vụ án, đại diện hợp pháp của Công ty MVH đã có văn bản thừa nhận còn nợ tiền bảo hiểm chưa đóng, nhưng không thể hiện yêu cầu về xem xét thời hiệu giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 183 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không xem xét về thời hiệu khởi kiện thuộc vụ án này.

[2] Về nội dung vụ án
[2.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa xác định được: Bà Nguyễn Thị H1 và bà Lê Thị H2 làm việc tại Công ty MVH đến tháng 7 năm 2017 thì nghỉ sinh và đến tháng 01 năm 2018 thì nghỉ làm việc. Bà H1 tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 4 năm 2015 đến hết tháng 6 năm 2017; bà H2 tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ 10 năm 2014 đến hết tháng 6 năm 2017; Công ty MVH nợ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ sau tháng 6 năm 2016 đến tháng 07 năm 2017 đối với bà H1 là 11.339.004 đồng, tiền lãi phát sinh do chậm nộp tính đến ngày xét xử là 3.061.023 đồng; đối với bà H2 là 11.923.438 đồng, tiền lãi phát sinh do chậm nộp tính đến ngày xét xử là 4.808.120 đồng.

- Về trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội: Khoản 1 Điều 186 Bộ luật lao động quy định: “1. Người sử dụng lao động, người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế”.

Cụ thể về trách nhiệm của người sử dụng lao động, Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội quy đình “(1). Lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ bảo hiểm xã hội, đóng, hưởng bảo hiểm xã hội. (2). Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 86 và hằng tháng trích từ tiền lương của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội”.

Đối chiếu kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sự thừa nhận của phía bị đơn với các quy định pháp luật đã viện dẫn, Hội đồng xét xử xác định Công ty MVH đã vi phạm nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động được quy định tại Điều 186 Bộ luật lao động, Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội nên đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Liên đoàn Lao động thành phố TK, buộc bị đơn phải đóng tiền bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội thành phố TK đối với khoản tiền nợ bảo hiểm xã hội của bà Lê Thị H1 là 11.923.438 đồng và bà Nguyễn Thị H2 là 11.339.004 đồng.

- Về yêu cầu trả tiền lãi: Khoản 2.11 Điều 2 Quyết định số 595/QĐ – BHXH ngày 14 tháng 4 năm 2017 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định “Nợ BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN: là tiền phải đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN đối với người lao động theo quy định của pháp luật nhưng đơn vị chưa đóng cho cơ quan BHXH. Tiền nợ bao gồm cả tiền lãi chậm đóng theo quy định của pháp luật nhưng đơn vị chưa đóng” và khoản 1 Điều 37 của Quyết định này quy định “ Đơn vị chậm đóng BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN từ 30 ngày trở lên thì phải đóng số tiền lãi tính trên số tiền BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN chưa đóng”.

Trên cơ sở quy định của pháp luật vừa viện dẫn và số tiền nợ đóng bảo hiểm thực tế được xác định, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Liên đoàn Lao động thành phố TK và quan điểm của Bảo hiểm xã hội thành phố TK về việc buộc Công ty MVH phải trả tiền lãi đối với khoản nợ đóng bảo hiềm (tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm) cho bà H1 là 4.808.120, đối với bà H2 là 3.061.023 đồng. Ngoài ra, Công ty MVH còn phải tiếp tục trả lãi cho Bảo hiểm xã hội thành phố TK đối với số tiền nợ đóng bảo hiểm của các nguyên đơn theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội sau ngày xét xử sơ thẩm đến khi thi hành xong.

[2.2]. Về án phí lao động sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 32, 35, 187 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật lao động; khoản 3 Điều 2, Điều 4, Điều 14, Điều 17, Điều 18, Điều 21, Điều 22 Luật Bảo hiểm xã hội; Khoản 2.11 Điều 2, Điều 37 Quyết định số 595/QĐ – BHXH ngày 14 tháng 4 năm 2017 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Liên đoàn Lao động thành phố TK, xử:

1. Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn MTTVH phải đóng cho Bảo hiểm xã hội thành phố TK số tiền bảo hiểm xã hội còn nợ đối với bà Lê Thị H1 là 11.923.438 đồng và tiền lãi phát sinh đến ngày xét xử xơ thẩm là 4.808.120 đồng; đóng cho Bảo hiểm xã hội thành phố TK số tiền bảo hiểm xã hội còn nợ đối với bà Nguyễn Thị H2 là 11.339.004 đồng và tiền lãi phát sinh đến ngày xét xử sơ thẩm là 3.061.023 đồng. Tổng cộng là 31.131.585 (ba mươi mốt triệu một trăm ba mươi mốt nghìn năm trăm tám mươi lăm) đồng;

Công ty MVH còn phải tiếp tục trả lãi cho Bảo hiểm xã hội thành phố TK đối với số tiền nợ đóng bảo hiểm của các nguyên đơn (bà H1 là 11.923.438 đồng, bà H2 là 11.339.004 đồng) theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội sau ngày xét xử sơ thẩm đến khi thi hành xong.

2. Án phí lao dộng sơ thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn MTTVH phải chịu là 1.556.579 (một triệu năm trăm năm mươi sáu nghìn, năm trăm bảy mươi chín) đồng.;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.


Bình luận

Hiện nay tình trạng các công ty nợ tiền bảo hiểm xã hội rất nhiều, mặc dù hàng tháng các công ty vẫn trích thu tiền BHXH của người lao động nhưng lại không đóng cho cơ quan BHXH, việc này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi hưởng chế độ của NLĐ khi họ đủ điều kiện hưởng các chế độ như BHTN, Thai sản, chế độ ốm đau…
Về nguyên tắc, cơ quan bảo hiểm xã hội chỉ thanh toán cho người lao động khi công ty đóng đủ tiền BHXH và tiền phạt nộp chậm trả theo quy định, việc này có thể dẫn tới hậu quả là rất nhiều người lao động không được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật do hành vi không đóng BHXH của công ty. Đâylà những trường hợp rất khó giải quyết vì cho dù khởi kiện thành công, tòa án tuyên công ty có nghĩ vụ đóng bảo hiểm cho NLĐ nhưng trên thực tế với những đơn vị không còn khả năng tài chính thì việc thu hồi tiền BHXH qua con đường thi hành án là rất khó, dẫn đến một thực tế là NLĐ vẫn không được hưởng các chế độ của mình.

Để giải quyết triệt để vấn đề trên thực sự là rất khó, việc bộ luật hình sự 2015 ghi nhận tội trốn đóng BHXH là một yếu tố tích cực để NSDLĐ phải tham gia BHXH đầy đủ cho NLĐ, chế tài cho hành vi này thậm chí lên đến 7 năm tù đối với hành vi vi phạm nghiêm trọng.

Đối với NLĐ cần thường xuyên theo dõi tình hình tham gia bảo hiểm xã hội của mình. Theo quy định thì công ty phải có nghĩa vụ công khai thông tin về việc tham gia bảo hiểm xã hội cho NLĐ. Mặt khác, NLĐ cũng có thể liên hệ cơ quan BHXH nơi công ty đóng trụ sở hoặc tra cứu quá trình tham gia BHXH của mình thông qua trang web: https://www.baohiemxahoi.gov.vn/tracuu/Pages/tra-cuu-ho-gia-dinh.aspx

Khi phát hiện NSDLĐ không tham gia hoặc không đóng đầy đủ BHXH cho mình, NLĐ phải khiếu nại và yêu cầu công ty đóng BHXH cho mình ngay, trường hợp cần thiết có thể nhờ cơ quan BHXH, Phòng LĐTBXH can thiệp hoặc phải khởi kiện, tố giác để bảo vệ quyền lợi của chính mình. Nếu càng để lâu, công ty ngày càng không có khả năng chi trả thì sẽ dẫn đến việc NLĐ có thể không được hưởng bất cứ quyền lợi gì mặc dù có thể bị trích thu tiền BHXH hàng năm thậm chí hàng chục năm trời.

Công ty tư vấn luật Minh Thuận chuyên tư vấn thủ tục thành lập doanh nghiệp, tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai, lao động, dân sự, thừa kế...
☎️ 0902.196.369 hoặc gửi vướng mắc pháp lý của bạn về hòm thư: [email protected]

Address

Hanoi
100000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật Minh Thuận - Tâm sáng minh thuận posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category