22/10/2025
HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THEO MẪU IN SẴN – RỦI RO PHÁP LÝ TIỀM TÀNG
Có thể ít nhất một lần bạn đã nhìn thấy mẫu hợp đồng đặt cọc này, thậm chí bạn có thể dễ dàng mua mẫu hợp đồng này trên các sàn thương mại điện tử. Mẫu hợp đồng này có ưu điểm là nhanh gọn, dễ áp dụng nhưng ẩn sau sự tiện lợi ấy là vô số rủi ro pháp lý khiến các bên rơi vào tranh chấp pháp lý đáng tiếc.
Bài viết này mình sẽ phân tích nhược điểm của loại hợp đồng này:
1. Về chủ thể hợp đồng:
Mình đã xem qua rất nhiều mẫu hợp đồng đặt cọc dạng này và thấy 1 điểm chung là bên nhận đặt cọc sẽ có 2 chủ thể nhưng với bên đặt cọc, người làm chứng chỉ có 1 chủ thể. Trên thực tế chủ thể tham gia giao dịch sẽ không chỉ giới hạn ở 1 cá nhân/tổ chức. Nếu bên đặt cọc là 1 cặp vợ chồng, 1 nhóm người góp vốn đầu tư chung,... thì thông tin của họ cũng cần được ghi nhận đầy đủ tại hợp đồng đặt cọc.
2. Sai về đối tượng hợp đồng
Điều 1 Hợp đồng quy định về “TÀI SẢN ĐẶT CỌC” nhưng ở nội dung mẫu lại liệt kê thông tin về thửa đất – đây là lỗi sai khi không xác định chính xác đối tượng hợp đồng. Theo Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015: Đặt cọc là việc bên đặt cọc giao tài sản đặt cọc cho bên kia bên nhận đặt cọc trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
Như vậy trong giao dịch đặt cọc, tài sản đặt cọc chính là khoản tiền mà bên đặt cọc giao cho bên nhận đặt cọc chứ không phải là “thửa đất” như hợp đồng mẫu thể hiện. Quyền sử dụng đất là đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng, không phải đối tượng của hợp đồng đặt cọc.
3. Sử dụng sai thuật ngữ pháp lý, từ ngữ “đóng khung”, thiếu linh hoạt, tiềm ẩn rủi ro pháp lý cao
Đất đai là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện quản lý, các cá nhân, tổ chức sẽ chỉ được nhà nước giao quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu đất đai. Vì vậy với các giao dịch đất đai, pháp luật sẽ sử dụng thuật ngữ “chuyển nhượng quyền sử dụng đất/nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất” chứ không phải “bán đất/mua đất”. Do đó hợp đồng mẫu dùng từ như “bên bán”, “bên mua”, “giá bán”,… là không hợp lý. Mặt khác, do đây là hợp đồng đặt cọc nên chủ thể của hợp đồng nên là bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc.
Không chỉ mắc lỗi trong việc sử dụng thuật ngữ pháp lý, nhiều mẫu hợp đồng còn đẩy các bên vào rủi ro bởi ngôn từ vừa cứng nhắc vừa mơ hồ - đây chính là mảnh đất màu mỡ cho tranh chấp nảy sinh. VD, về chế tài xử lý khi vi phạm hợp đồng: “Bên A sẽ phải trả lại số tiền Bên B đã đặt cọc và bồi thường gấp … lần số tiền Bên B đã đặt cọc. Tổng số tiền hoàn trả và bồi thường là … đồng”.
Vấn đề phát sinh nằm ở cụm từ “bồi thường gấp … lần”. Tôi đã gặp nhiều trường hợp khách hàng thỏa thuận đặt cọc 100 triệu, phạt cọc 100 triệu nhưng lại điền trong hợp đồng đặt cọc là “bồi thường gấp 2 lần” rồi tính tổng số tiền hoàn trả và bồi thường là 200 triệu. Nhưng nếu tính bồi thường gấp 2 tức là riêng khoản bồi thường đã là 100 triệu x 2 = 200 triệu. Tổng số tiền Bên A phải trả là 300 triệu. Rõ ràng việc đóng khung từ ngữ đã dẫn đến sự bất nhất về nội dung hợp đồng. Đây chính là điểm tai hại của hợp đồng mẫu gây ra các tranh chấp pháp lý giữa các bên.
4. Không quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các bên.
Có vẻ người soạn thảo văn bản đã cố gắng thu gọn nội dung cho vừa 1 trang A4 nên các điều khoản hết sức sơ sài, đặc biệt là không có điều khoản cụ thể về quyền, nghĩa vụ của các bên. Đương nhiên có nhiều người nghĩ rằng bản thân toàn bộ hợp đồng chính là quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch rồi, việc soạn điều khoản riêng là không cần thiết. Nhưng với thực tiễn hành nghề luật sư tranh tụng, tôi thấy nên có điều khoản riêng liệt kê từng quyền, nghĩa vụ của bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc. Việc này không chỉ giúp các bên dễ dàng nắm bắt quyền lợi và nghĩa vụ của bản thân, mà còn giúp cơ quan tiến hành tố tụng thuận tiện hơn trong việc xác định lỗi và hành vi vi phạm nếu có tranh chấp phát sinh.
5. Áp dụng máy móc nội dung mẫu khiến các bên không thể tự do thỏa thuận
Vì hợp đồng mẫu thường được soạn sẵn với các trường thông tin cố định nên các bên buộc phải điền dữ liệu theo khung có sẵn mà không được tự do điều chỉnh. Hệ quả là nhiều điều khoản trong hợp đồng trở nên khiên cưỡng, không phản ánh đúng thực tế giao dịch. Thực tế cho thấy, mỗi thửa đất, mỗi chủ thể và mỗi giao dịch đều có những đặc thù riêng, nên việc sử dụng 1 mẫu hợp đồng áp cho mọi trường hợp là cách làm tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Lời khuyên đưa ra là trước khi xác lập giao dịch các bên nên trao đổi cụ thể và thống nhất các nội dung đặt cọc. Sau đó, dựa trên kết quả thỏa thuận đã thống nhất mới tiến hành soạn thảo hợp đồng đặt cọc để đảm bảo tính hợp lý, khách quan và hiệu lực pháp lý của hợp đồng.