Tư vấn & hỗ trợ pháp lý - Cộng đồng hiểu luật

  • Home
  • Vietnam
  • Hanoi
  • Tư vấn & hỗ trợ pháp lý - Cộng đồng hiểu luật
Call Directions

Tư vấn & hỗ trợ pháp lý - Cộng đồng hiểu luật Tư vấn pháp luật, hỗ trợ pháp lý, hướng đến mục tiêu cộng đồng cùng có nhận thức cơ bản về pháp luật

CHA MẸ LY HÔN, MỨC CẤP DƯỠNG TỐI THIỂU CHO CON LÀ BAO NHIÊU?Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ p...
22/04/2026

CHA MẸ LY HÔN, MỨC CẤP DƯỠNG TỐI THIỂU CHO CON LÀ BAO NHIÊU?

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho con. Mức cấp dưỡng được quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 như sau:
“Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.”

Ngoài ra, khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP quy định:
“Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.
Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con.”

Như vậy mức cấp dưỡng sẽ do các bên thỏa thuận quyết định. Trường hợp không thỏa thuận được, Tòa án sẽ quyết định trên cơ sở thu nhập, khả năng thực tế của người cấp dưỡng và nhu cầu của người được cấp dưỡng nhưng không thấp hơn ½ tháng lương tối thiểu vùng nơi người cấp dưỡng cư trú.

Hiện tại mức lương tối thiểu vùng đang được áp dụng theo Nghị định số 293/2025/NĐ-CP, cụ thể:
- Vùng I: 5,31 triệu đồng/tháng
- Vùng II: 4,73 triệu đồng/tháng
- Vùng III: 4,14 triệu đồng/tháng
- Vùng IV: 3,7 triệu đồng/tháng
Danh mục địa bàn phân vùng được quy định tại Phụ lục đính kèm Nghị định số 293/2025/NĐ-CP.

LUẬT SƯ ĐƯỢC THAM GIA TỐ TỤNG HÌNH SỰ TỪ GIAI ĐOẠN NÀO?Mấy ngày trước tôi nhận được cuộc gọi gấp từ khách hàng mời bảo v...
20/04/2026

LUẬT SƯ ĐƯỢC THAM GIA TỐ TỤNG HÌNH SỰ TỪ GIAI ĐOẠN NÀO?

Mấy ngày trước tôi nhận được cuộc gọi gấp từ khách hàng mời bảo vệ trong một vụ việc có dấu hiệu hình sự. Khách hàng bị người khác tố giác đến công an và rất sốt ruột muốn có Luật sư đồng hành trong quá trình giải quyết vụ việc.
Khi tôi gặp khách hàng để tiếp nhận và thu thập thông tin ban đầu thì tình cờ điều tra viên phụ trách vụ việc cũng liên hệ và yêu cầu làm việc với thân chủ của tôi. Tôi đặt vấn đề để được tham gia buổi làm việc cùng thân chủ và được Điều tra viên phản hồi rằng: “Luật sư tham gia ở giai đoạn này với tư cách gì?”
Tôi hiểu đây không phải một câu hỏi nghi vấn mà chỉ đơn thuần bày tỏ thái độ của Điều tra viên với Luật sư mà thôi. Tuy nhiên bằng bài viết này, tôi xin phân tích về quyền mời Luật sư bảo vệ của người bị tố giác trong tố tụng hình sự để mọi người có thể nắm được quy định pháp luật và tận dụng quyền lợi hợp pháp của bản thân để bảo vệ mình khi cần thiết.
Trước đây, Bộ luật Tố tụng hình sự năm (BLTTHS) 2003 không quy định về Người bị tố giác và luật sư chỉ được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Nhưng Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được ban hành đã bổ sung Người bị tố giác vào diện những người tham gia tố tụng đồng thời cho phép luật sư được tham gia tố tụng sớm hơn trước. Cụ thể:
Điều 57 BLTTHS năm 2015 quy định về Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, trong đó có nêu quyền “Tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình”.
Bổ trợ cho nội dung này, Điều 83 BLTTHS năm 2015 Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Theo đó, LS có thể tham gia tố tụng ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm. Tức là ngay khi cá nhân, tổ chức bị người khác tố giác hoặc bị cơ quan chức năng kiến nghị khởi tố đã có thể nhờ Luật sư tham gia đồng hành để bảo vệ quyền lợi của bản thân.
Trường hợp cơ quan điều tra xác định có dấu hiệu tội phạm và quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì tư cách của Luật sư trong vụ việc sẽ chuyển từ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác sang Người bào chữa.

CÓ BỊ KHỞI TỐ HÌNH SỰ TRONG TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT ĐỐI VỚI LOẠI TỘI PHẠM CÓ CẤU THÀNH VẬT CHẤTTội phạm cấu thành v...
03/04/2026

CÓ BỊ KHỞI TỐ HÌNH SỰ TRONG TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT ĐỐI VỚI LOẠI TỘI PHẠM CÓ CẤU THÀNH VẬT CHẤT

Tội phạm cấu thành vật chất là loại tội phạm mà mặt khách quan bắt buộc phải có đầy đủ các yếu tố gồm: hành vi phạm tội, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.
VD: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội phạm có cấu thành vật chất vì mặt khách quan của tội này
- Hành vi phạm tội: Hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác
- Hậu quả: Thiệt hại về tài sản giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên
- Mối quan hệ nhân quả: Người phạm tội thực hiện thủ đoạn gian dối để khiến chủ tài sản tin tưởng giao tài sản, từ cơ sở đó người phạm tội chiếm đoạt tài sản của chủ tài sản.
Như vậy trong cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bắt buộc phải có thiệt hại về tài sản. Nếu chưa phát sinh thiệt hại thì tức là tội phạm chưa hoàn thành.

Vậy trong trường hợp cá nhân đã thực hiện hành vi vi phạm nhưng chưa gây ra hậu quả thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Trong khoa học hình sự, trường hợp này được thể hiện bằng thuật ngữ pháp lý “phạm tội chưa đạt”. “Phạm tội chưa đạt” là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
VD: Ông A nhờ ông B đi bấm biển số xe. Ông B bấm ngẫu nhiên được biển số đẹp. Sau đó ông B nói với ông A rằng để hoàn tất thủ tục nhận biển số đẹp như này thì cần phải nộp bổ sung khoản phí 10.000.000 đồng cho cơ quan nhà nước. Ông A đồng ý. Nhưng trước khi giao tiền thì ông A phát hiện ra thông tin về việc nộp phí là do ông B tự bịa ra nên ông A không đưa tiền nữa. Ông B cũng không chịu giao lại biển số xe cho ông A. Trường hợp này ông B phạm tội chưa đạt, vậy ông B có bị khởi tố về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông A không?

Căn cứ theo Điều 15 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025: “Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.”
Ngoài ra, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự quy định:
“3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.”

Như vậy người thực hiện hành vi phạm tội dù chưa gây ra hậu quả trên thực tế nhưng vẫn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt và phải chịu hình phạt của pháp luật. Đương nhiên, hình phạt áp dụng cho họ sẽ nhẹ hơn so với trường hợp đã có hậu quả phát sinh.

Kết luận: Hậu quả chỉ là yếu tố để xác định tội phạm đã hoàn thành hay chưa, không phải căn cứ để miễn trừ trách nhiệm đối với người phạm tội. Kể cả khi hậu quả chưa phát sinh, người phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của bản thân.

ĐÁNH BẠC NHIỀU LẦN NHƯNG MỖI LẦN CHỈ 1-2 TRIỆU CÓ BỊ TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ?“Tôi thường xuyên đánh lô đề, đánh bài...
05/03/2026

ĐÁNH BẠC NHIỀU LẦN NHƯNG MỖI LẦN CHỈ 1-2 TRIỆU CÓ BỊ TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ?

“Tôi thường xuyên đánh lô đề, đánh bài ăn tiền nhưng mỗi lần chỉ chơi một vài triệu thì có bị đi tù không?” Đây là băn khoăn mà tôi nhận được rất nhiều từ khách hàng khi liên hệ tư vấn. Bài viết này xin giải đáp thắc mắc và cung cấp thêm kiến thức pháp lý cho mọi người về việc xác định trách nhiệm hình sự đối với hành vi đánh bạc. Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22 tháng 10 năm 2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo quy định nguyên tắc như sau: Không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét.
Cụ thể:

- Tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng và không thuộc trường hợp đã bị kết án mà chưa được xoá án tích thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc;

- Tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của lần nào bằng hoặc trên 5.000.000 đồng thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc đối với lần đánh bạc đó;

- Trường hợp đánh bạc từ hai lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần bằng hoặc trên 5.000.000 đồng thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần”.

- Trường hợp đánh bạc từ năm lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần bằng hoặc trên 5.000.000 đồng và lấy tiền, hiện vật do đánh bạc mà có làm nguồn sống chính thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết định khung “có tính chất chuyên nghiệp”.

Căn cứ theo quy định trên, với các trường hợp đánh bạc nhiều lần nhưng mỗi lần đánh đều dưới 5.000.000 đồng thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên người đánh bạc sẽ bị xử phạt hành chính và lưu tiền sự. Nếu tiếp tục tái diễn hành vi đánh bạc thì dù số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, người đánh bạc vẫn sẽ bị khởi tố theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

HIỂU THẾ NÀO VỀ “TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH” TRONG CÁC TỘI PHẠM XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE?Điểm b Mục 1 Ch...
26/02/2026

HIỂU THẾ NÀO VỀ “TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH” TRONG CÁC TỘI PHẠM XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE?

Điểm b Mục 1 Chương 2 Nghị quyết số 04/HĐTP/NQ ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn như sau:
“Tình trạng tinh thần bị kích động là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình. Nói chung, sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn tới hành vi giết người. Nhưng cá biệt có trường hợp do hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại, sự kích động đó đã âm ỷ, kéo dài, đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kiềm chế được; nếu tách riêng sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnh, nhưng nếu xét cả quá trình phát triển của sự việc, thì lại được coi là mạnh hoặc rất mạnh”.
Cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào thay thế Nghị quyết số 04/HĐTP/NQ để giải đáp về “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”. Qua quy định pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn giải quyết vụ án hình sự, có thể xác định trường hợp người phạm tội bị kích động về tinh thần qua điều kiện sau:
1. Phải có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân
2. Đối tượng chịu tác động bởi hành vi trái pháp luật của nạn nhân phải là người phạm tội hoặc người thân thích, người quan hệ thân thiết với người phạm tội.
3. Hành vi trái pháp luật của người bị hại phải là nguyên nhân khiến người phạm tội bị kích động mạnh về tinh thần
4. Trạng thái tinh thần của người phạm tội phải ở trạng thái bị kích động mạnh.
5. Trong trường hợp cá biệt, hành vi trái pháp luật của nạn nhân có thể không nghiêm trọng nhưng mang tính chất lặp đi lặp lại, kéo dài gây ra sức áp bức nặng nề khiến tâm lý của người phạm tội bị ức chế ở mức độ cao dẫn đến nhận thức bị hạn chế làm giảm đáng kể khả năng điều khiển hành vi.
Tuy nhiên trên thực tế mỗi người sẽ có ngưỡng chịu đựng riêng và mỗi vụ việc sẽ có tính chất, hoàn cảnh khác nhau. Vì vậy để đánh giá và xác định có hay không tình trạng tinh thần bị kích động mạnh cần xem xét vào từng trường hợp cụ thể.

Address

Cau Giay
Hanoi

Opening Hours

Monday 08:00 - 17:00
Tuesday 08:00 - 17:00
Wednesday 08:00 - 17:00
Thursday 08:00 - 17:00
Friday 08:00 - 17:00
Saturday 08:00 - 17:00

Telephone

+84813541916

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tư vấn & hỗ trợ pháp lý - Cộng đồng hiểu luật posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share