Tư vấn & hỗ trợ pháp lý - Cộng đồng hiểu luật

  • Home
  • Vietnam
  • Hanoi
  • Tư vấn & hỗ trợ pháp lý - Cộng đồng hiểu luật

Tư vấn & hỗ trợ pháp lý - Cộng đồng hiểu luật Tư vấn pháp luật, hỗ trợ pháp lý, hướng đến mục tiêu cộng đồng cùng có nhận thức cơ bản về pháp luật

CHA MẸ LY HÔN, MỨC CẤP DƯỠNG TỐI THIỂU CHO CON LÀ BAO NHIÊU?Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ p...
22/04/2026

CHA MẸ LY HÔN, MỨC CẤP DƯỠNG TỐI THIỂU CHO CON LÀ BAO NHIÊU?

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho con. Mức cấp dưỡng được quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 như sau:
“Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.”

Ngoài ra, khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP quy định:
“Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.
Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con.”

Như vậy mức cấp dưỡng sẽ do các bên thỏa thuận quyết định. Trường hợp không thỏa thuận được, Tòa án sẽ quyết định trên cơ sở thu nhập, khả năng thực tế của người cấp dưỡng và nhu cầu của người được cấp dưỡng nhưng không thấp hơn ½ tháng lương tối thiểu vùng nơi người cấp dưỡng cư trú.

Hiện tại mức lương tối thiểu vùng đang được áp dụng theo Nghị định số 293/2025/NĐ-CP, cụ thể:
- Vùng I: 5,31 triệu đồng/tháng
- Vùng II: 4,73 triệu đồng/tháng
- Vùng III: 4,14 triệu đồng/tháng
- Vùng IV: 3,7 triệu đồng/tháng
Danh mục địa bàn phân vùng được quy định tại Phụ lục đính kèm Nghị định số 293/2025/NĐ-CP.

LUẬT SƯ ĐƯỢC THAM GIA TỐ TỤNG HÌNH SỰ TỪ GIAI ĐOẠN NÀO?Mấy ngày trước tôi nhận được cuộc gọi gấp từ khách hàng mời bảo v...
20/04/2026

LUẬT SƯ ĐƯỢC THAM GIA TỐ TỤNG HÌNH SỰ TỪ GIAI ĐOẠN NÀO?

Mấy ngày trước tôi nhận được cuộc gọi gấp từ khách hàng mời bảo vệ trong một vụ việc có dấu hiệu hình sự. Khách hàng bị người khác tố giác đến công an và rất sốt ruột muốn có Luật sư đồng hành trong quá trình giải quyết vụ việc.
Khi tôi gặp khách hàng để tiếp nhận và thu thập thông tin ban đầu thì tình cờ điều tra viên phụ trách vụ việc cũng liên hệ và yêu cầu làm việc với thân chủ của tôi. Tôi đặt vấn đề để được tham gia buổi làm việc cùng thân chủ và được Điều tra viên phản hồi rằng: “Luật sư tham gia ở giai đoạn này với tư cách gì?”
Tôi hiểu đây không phải một câu hỏi nghi vấn mà chỉ đơn thuần bày tỏ thái độ của Điều tra viên với Luật sư mà thôi. Tuy nhiên bằng bài viết này, tôi xin phân tích về quyền mời Luật sư bảo vệ của người bị tố giác trong tố tụng hình sự để mọi người có thể nắm được quy định pháp luật và tận dụng quyền lợi hợp pháp của bản thân để bảo vệ mình khi cần thiết.
Trước đây, Bộ luật Tố tụng hình sự năm (BLTTHS) 2003 không quy định về Người bị tố giác và luật sư chỉ được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Nhưng Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được ban hành đã bổ sung Người bị tố giác vào diện những người tham gia tố tụng đồng thời cho phép luật sư được tham gia tố tụng sớm hơn trước. Cụ thể:
Điều 57 BLTTHS năm 2015 quy định về Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, trong đó có nêu quyền “Tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình”.
Bổ trợ cho nội dung này, Điều 83 BLTTHS năm 2015 Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Theo đó, LS có thể tham gia tố tụng ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm. Tức là ngay khi cá nhân, tổ chức bị người khác tố giác hoặc bị cơ quan chức năng kiến nghị khởi tố đã có thể nhờ Luật sư tham gia đồng hành để bảo vệ quyền lợi của bản thân.
Trường hợp cơ quan điều tra xác định có dấu hiệu tội phạm và quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì tư cách của Luật sư trong vụ việc sẽ chuyển từ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác sang Người bào chữa.

CÓ BỊ KHỞI TỐ HÌNH SỰ TRONG TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT ĐỐI VỚI LOẠI TỘI PHẠM CÓ CẤU THÀNH VẬT CHẤTTội phạm cấu thành v...
03/04/2026

CÓ BỊ KHỞI TỐ HÌNH SỰ TRONG TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT ĐỐI VỚI LOẠI TỘI PHẠM CÓ CẤU THÀNH VẬT CHẤT

Tội phạm cấu thành vật chất là loại tội phạm mà mặt khách quan bắt buộc phải có đầy đủ các yếu tố gồm: hành vi phạm tội, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.
VD: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội phạm có cấu thành vật chất vì mặt khách quan của tội này
- Hành vi phạm tội: Hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác
- Hậu quả: Thiệt hại về tài sản giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên
- Mối quan hệ nhân quả: Người phạm tội thực hiện thủ đoạn gian dối để khiến chủ tài sản tin tưởng giao tài sản, từ cơ sở đó người phạm tội chiếm đoạt tài sản của chủ tài sản.
Như vậy trong cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bắt buộc phải có thiệt hại về tài sản. Nếu chưa phát sinh thiệt hại thì tức là tội phạm chưa hoàn thành.

Vậy trong trường hợp cá nhân đã thực hiện hành vi vi phạm nhưng chưa gây ra hậu quả thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Trong khoa học hình sự, trường hợp này được thể hiện bằng thuật ngữ pháp lý “phạm tội chưa đạt”. “Phạm tội chưa đạt” là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
VD: Ông A nhờ ông B đi bấm biển số xe. Ông B bấm ngẫu nhiên được biển số đẹp. Sau đó ông B nói với ông A rằng để hoàn tất thủ tục nhận biển số đẹp như này thì cần phải nộp bổ sung khoản phí 10.000.000 đồng cho cơ quan nhà nước. Ông A đồng ý. Nhưng trước khi giao tiền thì ông A phát hiện ra thông tin về việc nộp phí là do ông B tự bịa ra nên ông A không đưa tiền nữa. Ông B cũng không chịu giao lại biển số xe cho ông A. Trường hợp này ông B phạm tội chưa đạt, vậy ông B có bị khởi tố về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông A không?

Căn cứ theo Điều 15 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025: “Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.”
Ngoài ra, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự quy định:
“3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.”

Như vậy người thực hiện hành vi phạm tội dù chưa gây ra hậu quả trên thực tế nhưng vẫn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt và phải chịu hình phạt của pháp luật. Đương nhiên, hình phạt áp dụng cho họ sẽ nhẹ hơn so với trường hợp đã có hậu quả phát sinh.

Kết luận: Hậu quả chỉ là yếu tố để xác định tội phạm đã hoàn thành hay chưa, không phải căn cứ để miễn trừ trách nhiệm đối với người phạm tội. Kể cả khi hậu quả chưa phát sinh, người phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của bản thân.

ĐÁNH BẠC NHIỀU LẦN NHƯNG MỖI LẦN CHỈ 1-2 TRIỆU CÓ BỊ TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ?“Tôi thường xuyên đánh lô đề, đánh bài...
05/03/2026

ĐÁNH BẠC NHIỀU LẦN NHƯNG MỖI LẦN CHỈ 1-2 TRIỆU CÓ BỊ TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ?

“Tôi thường xuyên đánh lô đề, đánh bài ăn tiền nhưng mỗi lần chỉ chơi một vài triệu thì có bị đi tù không?” Đây là băn khoăn mà tôi nhận được rất nhiều từ khách hàng khi liên hệ tư vấn. Bài viết này xin giải đáp thắc mắc và cung cấp thêm kiến thức pháp lý cho mọi người về việc xác định trách nhiệm hình sự đối với hành vi đánh bạc. Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22 tháng 10 năm 2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo quy định nguyên tắc như sau: Không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét.
Cụ thể:

- Tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng và không thuộc trường hợp đã bị kết án mà chưa được xoá án tích thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc;

- Tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của lần nào bằng hoặc trên 5.000.000 đồng thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc đối với lần đánh bạc đó;

- Trường hợp đánh bạc từ hai lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần bằng hoặc trên 5.000.000 đồng thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần”.

- Trường hợp đánh bạc từ năm lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần bằng hoặc trên 5.000.000 đồng và lấy tiền, hiện vật do đánh bạc mà có làm nguồn sống chính thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết định khung “có tính chất chuyên nghiệp”.

Căn cứ theo quy định trên, với các trường hợp đánh bạc nhiều lần nhưng mỗi lần đánh đều dưới 5.000.000 đồng thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên người đánh bạc sẽ bị xử phạt hành chính và lưu tiền sự. Nếu tiếp tục tái diễn hành vi đánh bạc thì dù số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, người đánh bạc vẫn sẽ bị khởi tố theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

HIỂU THẾ NÀO VỀ “TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH” TRONG CÁC TỘI PHẠM XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE?Điểm b Mục 1 Ch...
26/02/2026

HIỂU THẾ NÀO VỀ “TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH” TRONG CÁC TỘI PHẠM XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE?

Điểm b Mục 1 Chương 2 Nghị quyết số 04/HĐTP/NQ ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn như sau:
“Tình trạng tinh thần bị kích động là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình. Nói chung, sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn tới hành vi giết người. Nhưng cá biệt có trường hợp do hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại, sự kích động đó đã âm ỷ, kéo dài, đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kiềm chế được; nếu tách riêng sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnh, nhưng nếu xét cả quá trình phát triển của sự việc, thì lại được coi là mạnh hoặc rất mạnh”.
Cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào thay thế Nghị quyết số 04/HĐTP/NQ để giải đáp về “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”. Qua quy định pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn giải quyết vụ án hình sự, có thể xác định trường hợp người phạm tội bị kích động về tinh thần qua điều kiện sau:
1. Phải có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân
2. Đối tượng chịu tác động bởi hành vi trái pháp luật của nạn nhân phải là người phạm tội hoặc người thân thích, người quan hệ thân thiết với người phạm tội.
3. Hành vi trái pháp luật của người bị hại phải là nguyên nhân khiến người phạm tội bị kích động mạnh về tinh thần
4. Trạng thái tinh thần của người phạm tội phải ở trạng thái bị kích động mạnh.
5. Trong trường hợp cá biệt, hành vi trái pháp luật của nạn nhân có thể không nghiêm trọng nhưng mang tính chất lặp đi lặp lại, kéo dài gây ra sức áp bức nặng nề khiến tâm lý của người phạm tội bị ức chế ở mức độ cao dẫn đến nhận thức bị hạn chế làm giảm đáng kể khả năng điều khiển hành vi.
Tuy nhiên trên thực tế mỗi người sẽ có ngưỡng chịu đựng riêng và mỗi vụ việc sẽ có tính chất, hoàn cảnh khác nhau. Vì vậy để đánh giá và xác định có hay không tình trạng tinh thần bị kích động mạnh cần xem xét vào từng trường hợp cụ thể.

THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN𝐁𝐮̛𝐨̛́𝐜 𝟏: Hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp ...
12/12/2025

THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN

𝐁𝐮̛𝐨̛́𝐜 𝟏: Hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp (Cơ sở pháp lý: Điều 235 Luật Đất đai năm 2024, điểm e khoản 1 Điều 17 Nghị định 151/2025/NĐ-CP)
- Một trong các bên nộp đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai đến UBND cấp xã.
- Chủ tịch UBND cấp xã thành lập Hội đồng hòa giải.
- Tổ chức hòa giải trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tham gia và có xác nhận hòa giải thành hoặc không thành của UBND cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp và lưu tại UBND cấp xã.
- Trường hợp hòa giải thành và có thay đổi hiện trạng về ranh giới, diện tích, người sử dụng đất thì trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, các bên tham gia hòa giải gửi văn bản đến cơ quan chức năng để đăng ký, cấp GCNQSDĐ theo quy định.

𝐁𝐮̛𝐨̛́𝐜 𝟐: Yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai theo thẩm quyền (Cơ sở pháp lý: Điều 236 điểm g khoản 2 Điều 5 Nghị định 151/2025/NĐ-CP và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025)
Tranh chấp đất đai mà các bên có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì do Tòa án giải quyết.
Tranh chấp đai đai mà các bên không có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì được lựa chọn 1 trong 2 hình thức giải quyết sau:
+ Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đến Chủ tịch UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp:
Chủ tịch UBND cấp xã ban hành Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai. Trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định mà các bên không khởi kiện hoặc khiếu nại thì Quyết định có hiệu lực thi hành. Nếu không đồng ý với Quyết định giải quyết thì trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định, các bên có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án hoặc khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Quyết định giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có hiệu lực thi hành.
+ Khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền:
Nộp hồ sơ khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án khu vực nơi có đất tranh chấp. Tòa án tiến hành thụ lý và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤTKhoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Việc...
30/10/2025

THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.”
Theo quy định này, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ phát sinh hiệu lực khi một trong các bên tiến hành thủ tục đăng ký biến động và thông tin giao dịch được ghi nhận tại sổ địa chính. Điều này đã dẫn đến một số tranh chấp khi một bên trong giao dịch chết trước khi đăng ký biến động. Trong trường hợp đó, hợp đồng sẽ chấm dứt trước khi có hiệu lực, giao dịch không thể thực hiện.

Tuy nhiên Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực kể từ ngày 01/8/2024 đã bãi bỏ quy định về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Lúc này việc xác định thời điểm hợp đồng có hiệu lực sẽ căn cứ theo các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Vì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được công chứng, chứng thực (điểm a khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024) nên chúng ta sẽ áp dụng Luật Công chứng để xác định thời điểm hợp đồng phát sinh hiệu lực. Cụ thể khoản 1 Điều 6 và khoản 2 Điều 64 Luật Công chứng năm 2024 quy định: Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ thời điểm được công chứng viên ký và tổ chức hành nghề công chứng đóng dấu vào văn bản; trường hợp là văn bản công chứng điện tử thì có hiệu lực kể từ thời điểm được ký bằng chữ ký số của công chứng viên và chữ ký số của tổ chức hành nghề công chứng.
Theo đó hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ phát sinh ngay sau khi công chứng, chứng thực mà không phải chờ đến khi đăng ký biến động đất đai. Việc Luật Đất đai năm 2024 bỏ đi quy định về việc đăng ký đất đai có hiệu lực kể từ thời điểm ghi vào sổ địa chính góp phần thống nhất quy định giữa các văn bản quy phạm pháp luật, phòng ngừa tranh chấp phát sinh trong trường hợp một bên trong quan hệ hợp đồng chết trước khi tài sản được đăng ký sang tên.

RA ĐI “TAY TRẮNG” KHI LY HÔN VÌ NGHĨ ĐỂ LẠI TÀI SẢN CHO CON – NÊN HAY KHÔNG?Trong quá trình làm nghề mình gặp nhiều khác...
27/10/2025

RA ĐI “TAY TRẮNG” KHI LY HÔN VÌ NGHĨ ĐỂ LẠI TÀI SẢN CHO CON – NÊN HAY KHÔNG?

Trong quá trình làm nghề mình gặp nhiều khách hàng chấp nhận từ bỏ quyền tài sản của mình khi ly hôn vì nghĩ sau này tài sản cũng sẽ thuộc về con nhưng kết quả là bản thân mất tài sản mà con cũng không nhận được gì.
Về bản chất, tại thời điểm bạn ký hợp đồng tặng cho hoặc thỏa thuận giao tài sản cho vợ/chồng trước sự công nhận của Tòa án tức là quyền lợi của bạn đối với tài sản sẽ chấm dứt. Tài sản hoàn toàn thuộc về người kia và họ được tự do định đoạt tài sản. Đặc biệt là người kia đi bước nữa, có gia đình mới thì không thể tránh được khả năng họ sẽ dành tài sản đó cho vợ mới, con riêng. Hệ quả con bạn không nhận được tài sản là hoàn toàn có thể xảy ra. Tóm lại khi bạn đã từ bỏ quyền tài sản của mình thì vợ/chồng bạn có toàn quyền chuyển nhượng, tặng cho hoặc đơn giản là giữ tài sản cho riêng họ mà bạn không thể can thiệp.
Đây là lý do bạn không nên nhường lại tài sản của mình trong khối tài sản chung cho vợ/chồng khi ly hôn. Nếu muốn dành tài sản cho con cái, hai vợ chồng nên lựa chọn 1 trong 2 phương án sau:
1. Hai vợ chồng cùng ký kết hợp đồng tặng cho tài sản cho con, để con đứng tên tài sản;
2. Yêu cầu Tòa án công nhận thỏa thuận phân chia hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản theo quy định pháp luật. Trên cơ sở Quyết định/Bản án của Tòa án đã xác định rõ phần tài sản của mỗi bên, bạn có thể tặng phần tài sản riêng của mình cho con.

HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THEO MẪU IN SẴN – RỦI RO PHÁP LÝ TIỀM TÀNGCó thể ít nhất một lần bạn đã...
22/10/2025

HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THEO MẪU IN SẴN – RỦI RO PHÁP LÝ TIỀM TÀNG

Có thể ít nhất một lần bạn đã nhìn thấy mẫu hợp đồng đặt cọc này, thậm chí bạn có thể dễ dàng mua mẫu hợp đồng này trên các sàn thương mại điện tử. Mẫu hợp đồng này có ưu điểm là nhanh gọn, dễ áp dụng nhưng ẩn sau sự tiện lợi ấy là vô số rủi ro pháp lý khiến các bên rơi vào tranh chấp pháp lý đáng tiếc.
Bài viết này mình sẽ phân tích nhược điểm của loại hợp đồng này:

1. Về chủ thể hợp đồng:
Mình đã xem qua rất nhiều mẫu hợp đồng đặt cọc dạng này và thấy 1 điểm chung là bên nhận đặt cọc sẽ có 2 chủ thể nhưng với bên đặt cọc, người làm chứng chỉ có 1 chủ thể. Trên thực tế chủ thể tham gia giao dịch sẽ không chỉ giới hạn ở 1 cá nhân/tổ chức. Nếu bên đặt cọc là 1 cặp vợ chồng, 1 nhóm người góp vốn đầu tư chung,... thì thông tin của họ cũng cần được ghi nhận đầy đủ tại hợp đồng đặt cọc.

2. Sai về đối tượng hợp đồng
Điều 1 Hợp đồng quy định về “TÀI SẢN ĐẶT CỌC” nhưng ở nội dung mẫu lại liệt kê thông tin về thửa đất – đây là lỗi sai khi không xác định chính xác đối tượng hợp đồng. Theo Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015: Đặt cọc là việc bên đặt cọc giao tài sản đặt cọc cho bên kia bên nhận đặt cọc trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
Như vậy trong giao dịch đặt cọc, tài sản đặt cọc chính là khoản tiền mà bên đặt cọc giao cho bên nhận đặt cọc chứ không phải là “thửa đất” như hợp đồng mẫu thể hiện. Quyền sử dụng đất là đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng, không phải đối tượng của hợp đồng đặt cọc.

3. Sử dụng sai thuật ngữ pháp lý, từ ngữ “đóng khung”, thiếu linh hoạt, tiềm ẩn rủi ro pháp lý cao
Đất đai là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện quản lý, các cá nhân, tổ chức sẽ chỉ được nhà nước giao quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu đất đai. Vì vậy với các giao dịch đất đai, pháp luật sẽ sử dụng thuật ngữ “chuyển nhượng quyền sử dụng đất/nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất” chứ không phải “bán đất/mua đất”. Do đó hợp đồng mẫu dùng từ như “bên bán”, “bên mua”, “giá bán”,… là không hợp lý. Mặt khác, do đây là hợp đồng đặt cọc nên chủ thể của hợp đồng nên là bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc.
Không chỉ mắc lỗi trong việc sử dụng thuật ngữ pháp lý, nhiều mẫu hợp đồng còn đẩy các bên vào rủi ro bởi ngôn từ vừa cứng nhắc vừa mơ hồ - đây chính là mảnh đất màu mỡ cho tranh chấp nảy sinh. VD, về chế tài xử lý khi vi phạm hợp đồng: “Bên A sẽ phải trả lại số tiền Bên B đã đặt cọc và bồi thường gấp … lần số tiền Bên B đã đặt cọc. Tổng số tiền hoàn trả và bồi thường là … đồng”.
Vấn đề phát sinh nằm ở cụm từ “bồi thường gấp … lần”. Tôi đã gặp nhiều trường hợp khách hàng thỏa thuận đặt cọc 100 triệu, phạt cọc 100 triệu nhưng lại điền trong hợp đồng đặt cọc là “bồi thường gấp 2 lần” rồi tính tổng số tiền hoàn trả và bồi thường là 200 triệu. Nhưng nếu tính bồi thường gấp 2 tức là riêng khoản bồi thường đã là 100 triệu x 2 = 200 triệu. Tổng số tiền Bên A phải trả là 300 triệu. Rõ ràng việc đóng khung từ ngữ đã dẫn đến sự bất nhất về nội dung hợp đồng. Đây chính là điểm tai hại của hợp đồng mẫu gây ra các tranh chấp pháp lý giữa các bên.

4. Không quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các bên.
Có vẻ người soạn thảo văn bản đã cố gắng thu gọn nội dung cho vừa 1 trang A4 nên các điều khoản hết sức sơ sài, đặc biệt là không có điều khoản cụ thể về quyền, nghĩa vụ của các bên. Đương nhiên có nhiều người nghĩ rằng bản thân toàn bộ hợp đồng chính là quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch rồi, việc soạn điều khoản riêng là không cần thiết. Nhưng với thực tiễn hành nghề luật sư tranh tụng, tôi thấy nên có điều khoản riêng liệt kê từng quyền, nghĩa vụ của bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc. Việc này không chỉ giúp các bên dễ dàng nắm bắt quyền lợi và nghĩa vụ của bản thân, mà còn giúp cơ quan tiến hành tố tụng thuận tiện hơn trong việc xác định lỗi và hành vi vi phạm nếu có tranh chấp phát sinh.

5. Áp dụng máy móc nội dung mẫu khiến các bên không thể tự do thỏa thuận
Vì hợp đồng mẫu thường được soạn sẵn với các trường thông tin cố định nên các bên buộc phải điền dữ liệu theo khung có sẵn mà không được tự do điều chỉnh. Hệ quả là nhiều điều khoản trong hợp đồng trở nên khiên cưỡng, không phản ánh đúng thực tế giao dịch. Thực tế cho thấy, mỗi thửa đất, mỗi chủ thể và mỗi giao dịch đều có những đặc thù riêng, nên việc sử dụng 1 mẫu hợp đồng áp cho mọi trường hợp là cách làm tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Lời khuyên đưa ra là trước khi xác lập giao dịch các bên nên trao đổi cụ thể và thống nhất các nội dung đặt cọc. Sau đó, dựa trên kết quả thỏa thuận đã thống nhất mới tiến hành soạn thảo hợp đồng đặt cọc để đảm bảo tính hợp lý, khách quan và hiệu lực pháp lý của hợp đồng.

PHẦN 2: NGÂN HÀNG CÓ PHẢI NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH?Tiếp nối bài viết “Hậu quả pháp lý khi ký hợp đồng chuyển nhượng tài sả...
22/08/2025

PHẦN 2: NGÂN HÀNG CÓ PHẢI NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH?

Tiếp nối bài viết “Hậu quả pháp lý khi ký hợp đồng chuyển nhượng tài sản để che giấu giao dịch vay nợ”, hôm nay chúng ta đi sâu hơn về trường hợp tài sản đã chuyển giao cho người thứ ba thông qua giao dịch thế chấp tài sản để vay Ngân hàng. Khi này hợp đồng thế chấp tài sản xác lập với Ngân hàng có bị vô hiệu hay không?

Khoản 2 Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.”

Như đã nhắc ở bài trước, thay vì xác lập hợp đồng vay tài sản, bên cho vay sẽ yêu cầu bên vay ký hợp đồng chuyển nhượng bất động sản và tiến hành thủ tục đăng ký biến động đất đai. Sau khi đứng tên GCN, bên cho vay được toàn quyền định đoạt tài sản. Nhiều trường hợp lựa chọn thế chấp tài sản để vay tiền Ngân hàng (bản chất bên cho vay chỉ bỏ ra 1 khoản tiền nhỏ để chiếm tài sản của bên cho vay, trong khi thế chấp tài sản Ngân hàng lại có thể được giải ngân khoản tiền tương ứng với 70-75% giá trị tài sản, tóm lại bên cho vay được lời rất nhiều từ phương thức này).
Để thực hiện thủ tục vay, Ngân hàng sẽ yêu cầu bên vay thế chấp tài sản. Sau khi hợp đồng thế chấp được công chứng, Ngân hàng sẽ đăng ký thủ tục thế chấp tại cơ quan chức năng. Căn cứ theo khoản 2 Điều 133 BLDS, khi Ngân hàng là bên thứ ba ngay tình, hợp đồng thế chấp vẫn sẽ có hiệu lực pháp luật. Trên cơ sở đó, nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng sẽ kê biên tài sản để xử lý nợ.
Tuy nhiên nếu đủ căn cứ chứng minh Ngân hàng “không ngay tình” thì hợp đồng thế chấp vẫn có thể bị tuyên vô hiệu. Cụ thể trước khi nhận thế chấp, Ngân hàng bắt buộc phải thẩm định tài sản. Hoạt động này nhằm mục đích xác minh pháp lý và tình trạng thực tế của tài sản thế chấp, xác định ai đang sinh sống, quản lý, sử dụng đất, việc thế chấp tài sản có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ hay không, trên đất có công trình, tài sản gì khác… Nhưng thực tế có nhiều vụ việc Ngân hàng không thực hiện thủ tục thẩm định hoặc chỉ thực hiện thủ tục hình thức, không kiểm tra chi tiết, cố tình làm qua loa để hồ sơ vay được phê duyệt. Trong trường hợp này Tòa án hoàn toàn có thể tuyên hợp đồng thế chấp vô hiệu, hai bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Address

Cau Giay
Hanoi

Opening Hours

Monday 08:00 - 17:00
Tuesday 08:00 - 17:00
Wednesday 08:00 - 17:00
Thursday 08:00 - 17:00
Friday 08:00 - 17:00
Saturday 08:00 - 17:00

Telephone

+84813541916

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tư vấn & hỗ trợ pháp lý - Cộng đồng hiểu luật posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share