11/08/2020
VAY TIỀN CHƯA TRẢ ĐƯỢC CÓ PHẠM TỘI?
Bạn Phạm Anh ở Quảng Ninh có câu hỏi “Cuối năm 2019, tôi có vay của một người bạn 30 triệu đồng để kinh doanh hàng nông sản xuất khẩu qua TQ. Nhưng do dịch bệnh Covid dẫn đến việc kinh doanh bị thua lỗ nên tôi chưa thể trả tiền và chủ nợ cho rằng tôi lừa đảo. Xin hỏi, tôi có bị truy tố về tội lừa đảo không?”
Luật sư xin chia sẻ như sau:
Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tại Điều 174 quy định Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các hành vi:
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Theo quy định trên thì người phạm tội chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc các trường hợp như trên thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nếu sự việc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì người có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác sẽ bị xử lý hành chính với mức tiền phạt đến 2 triệu đồng.
Trường hợp của bạn, khi bạn không có thủ đoạn gian dối và không cố ý chiếm đoạt số tiền 30 triệu thì bạn không bị xử phạt bằng biện pháp hành chính hay hình sự. Do làm ăn thua lỗ nên bạn chưa thể trả được khoản vay thì đây chỉ là vụ việc tranh chấp đơn thuần, hai bên có thể thương lượng phương thức trả nợ hoặc gia hạn thời gian trả nợ. Nếu chủ nợ của bạn không đồng ý thì họ có thể gửi đơn khởi kiện đến tòa án nhân dân cấp quận, huyện nơi bạn cư trú.
Luật sư chúc bạn kinh doanh gặp nhiều may mắn để sớm có tiền trả cho người đã giúp đỡ bạn.