23/07/2020
CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH KHI KHỞI KIỆN DÂN SỰ
Trước khi Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có hiệu lực, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định về “Chứng minh và chứng cứ” theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004 đã được sử đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 (sau đây gọi tắt là Nghị Quyết 04).
Hiện tại, Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 đang có hiệu lực, theo quy định Nghị Quyết 04 hết hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, tinh thần của Nghị Quyết hướng dẫn về Chứng minh và chứng cứ vẫn được áp dụng. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi sẽ chia sẻ với các bạn về vấn đề chứng cứ và chứng minh theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 trên tinh thần của Nghị quyết 04 và thực trạng chứng cứ, chứng minh khi giải quyết các vụ án trên thực tế.
Theo Quy định tại Điều 6, Bộ luật tố tụng dân sự 2015, “Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự”
Khi nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân (gọi tắt là đương sự) có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi khởi kiện, đương sự có nghĩa vụ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ bằng cách thu thập chứng cứ. Việc thu thập chứng cứ có thể từ các cá nhân, hoặc tổ chức, cơ quan Nhà nước – nơi đang lưu giữ hồ sơ tài liệu có liên quan.
NẾU KHÔNG ĐƯA RA ĐƯỢC CHỨNG CỨ CHỨNG MINH THÌ SAO???
Tại khoản 5 Điều 189 bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định “…Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.”
Trường hợp, đương sự đã đi xác minh, thu thập chứng cứ nhưng cơ quan Nhà nước không cung cấp, đương sự có thể đề nghị Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ.
Tại Điều 7 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây gọi là Viện kiểm sát) tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát”.
Cũng tại khoản 4 Điều 91 quy định “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”
Tại khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP quy định “đương sự phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ”
Tại khoản 2 Điều 24 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015, đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự.
Viết bởi: