03/09/2026
Ký số
Chữ ký số
Chữ ký điện tử
Tài khoản định danh điện tử
Từ luật thực định đến thực tiễn hàng nghề công chứng
Nguồn văn bản điều chỉnh:
Luật Công chứng năm 2024; Luật Căn cước năm 2023; Luật Giao dịch điện tử năm 2023;
Nghị định số 104/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Công chứng năm 2024; Nghị định số 23/2025/NĐ-CP quy định về chữ ký điện tử và dịch vụ tin cậy; Nghị định số 69/2024/NĐ-CP quy định về định danh và xác thực điện tử (được sđ, bs bởi Nghị định số 320/2026/NĐ-CP do Chính phủ ban hành 13/08/2026, có hiệu lực ngày 28/9/2026).
…
Về nguyên tắc cơ bản, mang tính phổ quát khi hành nghề công chứng nói chung là CCV cần xác định đúng chủ thể, đối tượng và nội dung của giao dịch dù là công chứng giấy hay là CCĐT (khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2024).
Theo pháp luật về công chứng, để cung cấp dịch vụ CCĐT thì CCV cần có “tài khoản" và “chữ ký số” (Điều 49 Nghị định số 104/2025/NĐ-CP)[1].
Đối với chủ thể tham gia giao dịch CCĐT cũng cần phải có tài khoản định danh điện tử, có chữ ký số (khoản 3 Điều 4 Nghị định số 23/2025/NĐ-CP).
Khi thực hiện CCĐT thì CCV cần xác định được chủ thể trên môi trường điện tử với một số khái niệm, thuật ngữ, ý nghĩa nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch tương tự như hình thức công chứng giấy.
Dưới đây là một số khái niệm, thuật ngữ có liên quan:
“Ký số” là việc đưa khóa bí mật vào một chương trình phần mềm để tự động tạo và gắn chữ ký số vào thông điệp dữ liệu (khoản 2 Điều 3 Nghị định số 23/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Giao dịch điện tử năm 2023) phần này thường là của đơn vị cung cấp chữ ký số, liên quan về vấn đề “kĩ thuật” hơn là phần việc của CCV[2].
"Chữ ký số" là chữ ký điện tử… (khoản 12 Điều 3 Luật Giao dịch điện tử năm 2023).
"Chữ ký điện tử" là chữ ký được tạo lập dưới dạng dữ liệu điện tử gắn liền hoặc kết hợp một cách lô gíc với thông điệp dữ liệu để xác nhận chủ thể ký và khẳng định sự chấp thuận của chủ thể đó đối với thông điệp dữ liệu (khoản 11 Điều 3 Luật Giao dịch điện tử năm 2023).
"Tài khoản định danh điện tử" là tập hợp gồm tên đăng nhập, mật khẩu hoặc phương tiện xác thực khác được tạo lập bởi cơ quan quản lý định danh và xác thực điện tử… (khoản 5 Điều 3 Nghị định số 69/2024/NĐ-CP); lưu ý, “cơ quan quản lý định danh và xác thực điện tử” được hiểu là Cục Cảnh sát QLHC về TTXH - BCA (khoản 4 Điều 3 Nghị định số 69/2024/NĐ-CP).
Việc sử dụng tài khoản định danh điện tử, dịch vụ xác thực điện tử có giá trị pháp lý để khẳng định, chứng minh chủ thể danh tính điện tử đã thực hiện và chấp thuận đối với giao dịch (khoản 3 Điều 14 Nghị định số 69/2024/NĐ-CP).
Trong khi đó, Danh tính điện tử của công dân Việt Nam… là một số thông tin... của công dân trong Cơ sở dữ liệu căn cước cho phép xác định duy nhất người đó trên môi trường điện tử thông qua hệ thống định danh và xác thực điện tử và để tạo lập căn cước điện tử (khoản 13 Điều 3 Luật Căn cước năm 2023). Nội dung này cũng được hướng dẫn tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 69/2024/NĐ-CP, cụ thể: Danh tính điện tử là thông tin của một cơ quan hoặc một tổ chức hoặc một cá nhân trong hệ thống định danh và xác thực điện tử cho phép xác định duy nhất cá nhân, cơ quan, tổ chức đó trên môi trường điện tử.
Lưu ý, khi CCCD hết hạn thì Tài khoản định danh điện tử cũng hết hạn và để tiếp tục sử dụng thì chủ thể cần phải cấp đổi CCCD để tiếp tục sử dụng; lưu ý khác, khi số thuê bao di động của chủ thể sử dụng để đăng ký tài khoản đã thay đổi và không chính chủ thì tài khoản định danh điện tử có thể bị tự động khoá bởi cơ quan quản lý định danh và xác thực điện tử (Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 320/2026/NĐ-CP).
Như vậy, có thể hiểu ngắn gọn tài khoản định danh điện tử tương tự như CCCD dùng để xác định danh tính chủ thể và một trong những công việc của CCV đối với CCĐT là Xác nhận chủ thể ký và khẳng định sự chấp thuận của chủ thể ký đối với thông điệp dữ liệu (điểm a khoản 3 Điều 22 Luật Giao dịch điện tử năm 2023).
Trong trường hợp cần xác minh giá trị pháp lý của văn bản CCĐT sẽ thực hiện thông qua Cổng Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia (NEAC) kết hợp quét mã QR Code để xác định nguồn gốc, tính hợp pháp của văn bản[3].
Lưu ý, đối với chữ ký số được tạo ra bởi chứng thư chữ ký số nước ngoài được công nhận tại Việt Nam... thì phải kiểm tra hiệu lực chứng thư chữ ký số trên cả hệ thống chứng thực dịch vụ tin cậy của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực điện tử quốc gia và hệ thống cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử của tổ chức nước ngoài (điểm c khoản 1 Điều 16 Nghị định số 23/2025/NĐ-CP)[4].
p/s Nghị định số 320/2026/NĐ-CP do Chính phủ ban hành 13/08/2026 sđ, bs Nghị định số 69/2024/NĐ-CP có hiệu lực ngày 28/9/2026[5].
/.
[1] CCV có thể có nhiều cks, miễn là phải đăng ký với Stp trước khi sử dụng.
[2] Khi gia hạn chữ ký số hoặc thay đổi thiết bị... có thể dẫn đến số serial bị thay đổi, điều này có nghĩa: Vẫn là cks của CCV hoặc TCHNCC nhưng số serial đăng ký trước đó đã bị thay đổi. Tuy nhiên, điều này không ảnh hưởng đến hiệu lực của văn bản bởi việc thay đổi số serial không làm thay đổi cks đã được đăng ký hợp lệ và minh chứng là cổng tham chiếu (tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực điện tử quốc gia- NEAC) vẫn ghi nhận tính hiệu lực của văn bản.
[3] Xem cv số: 710/TTPVHCC-BPMC ngày 30/3/2026 của Trung tâm Phục vụ hành chính công Thành phố Hà Nội.
[4] Ngược lại, việc sử dụng phần mềm của nước ngoài để tham chiếu vb CCĐT sử dụng cks của tổ chức trong nước cung cấp cũng đặt ra vấn đề về tính chính danh.
[5] Thay đổi quan trọng: Theo Điều 2 Nghị định số 320/2026/NĐ-CP (sửa đổi khoản 4 Điều 4 Nghị định số 69/2024/NDD-CP) qui định: Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công, giao dịch dân sự và các hoạt động khác phải khai thác, sử dụng danh tính điện tử, thông tin, giấy tờ đã tích hợp trên ứng dụng định danh quốc gia.
Như vậy, CCV không được yêu cầu cá nhân, tổ chức nộp hoặc xuất trình bản chính, bản sao giấy tờ, tài liệu đã tích hợp trên Vneid, chẳng hạn như giấy đăng ký kết hôn... song lưu ý rằng: Vneid chỉ thể hiện quan hệ vợ chồng nhưng không thể hiện thời điểm quan hệ vợ chồng được xác lập.