Văn phòng công chứng Hoàng Giang Linh

Văn phòng công chứng Hoàng Giang Linh Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Văn phòng công chứng Hoàng Giang Linh, Legal Service, Số 35 Ngõ 45 phố Trần Thái Tông, phường Cầu Giấy, Thành phố Hanoi, Hanoi.

08/08/2026

Cơ sở dữ liệu (CSDL)

Thông tin tác nghiệp và hỗ trợ nghiệp vụ công chứng

Từ luật thực định đến thực tiễn hành nghề công chứng

Về CSDL thì bao gồm cơ sở dữ liệu công chứng của Bộ Tư pháp và cơ sở dữ liệu công chứng của địa phương (khoản 1 Điều 66 LCc năm 2024);

CSDL được sđ, bs tại khoản 16 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng năm 2026 như sau:

a) Thông tin về ccv, tchncc, giao dịch đã được công chứng;

b) Thông tin về tình trạng giao dịch của tài sản;

c) Thông tin về biện pháp ngăn chặn và cảnh báo rủi ro trong hoạt động công chứng;

d) Vbcc và tài liệu khác trong hồ sơ công chứng.

Lưu ý, “Bộ Tư pháp có trách nhiệm xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng đồng bộ, thống nhất từ trung ương đến địa phương theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong phạm vi cả nước” (khoản 4 Điều 66 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng năm 2026).

Khái quát nhất về CSDL thì CSDL là Uchi là CMC… là biện pháp ngăn chặn và cảnh báo rủi ro.

Trong khi đó, Hệ thống thông tin tác nghiệp và hỗ trợ nghiệp vụ công chứng được hiểu là “nền tảng dùng chung, phục vụ công tác quản lý, điều hành, hỗ trợ nghiệp vụ và bồi dưỡng, kết nối chia sẻ thông tin toàn hệ thống.”[1]

Theo ý kiến của người viết, chủ trương của HH khi xây dựng hệ thống tác nghiệp và hỗ trợ nghiệp vụ công chứng có thể đúng nhưng chưa đủ vì

Tính khả thi: Là nhu cầu "cần" của ccv, điều này có thể lấy ví dụ như xe của bạn muốn chạy trên đường, nếu không đổ xăng thì không chạy được trừ trường hợp xe của bạn là xe điện. Do vậy, cần đánh giá nhu cầu của ccv, có thể là bằng một khảo sát bởi nếu được đại đa số ccv ủng hộ thì mới có thể thực hiện vì ccv là người đóng góp kinh phí.

Chi phí: Phí dường như không phải là vấn đề nếu đáp ứng nhu cầu cần (3tr/ccv) tránh trường hợp người đóng, người không đóng thì khó có thể tạo nên cái chung.

Kế tiếp, Thông báo có đoạn "ccv hoàn thành nghĩa vụ đóng góp đúng thời hạn sẽ được hưởng các chính sách ưu đãi..., bao gồm giảm phí sử dụng phần mềm, giảm phí các dịch vụ đi kèm và các quyền lợi khác..."[2] thì cá nhân người viết cảm nhận về hàm ý ở đoạn này là:

Ccv hoàn thành "nghĩa vụ" đóng góp đúng thời hạn...[3], nếu ccv không đóng góp thì không được hưởng các chính sách ưu đãi... hay giảm phí các "dịch vụ đi kèm" và các quyền lợi khác... điều này có nghĩa là sau khi hệ thống đưa vào vận hành thì ccv phải đóng phí duy trì, sử dụng.

Như vậy, câu hỏi đặt ra là: Nếu không sử dụng hệ thống thì ccv có bảo đảm an toàn đối với giao dịch? tchncc có vận hành được không nếu thiếu hệ thống thông tin tác nghiệp và hỗ trợ nghiệp vụ công chứng.

Trong khi đó, Hệ thống thông tin tác nghiệp và hỗ trợ nghiệp vụ công chứng có phần trùng khớp với CSDL của Btp xây dựng đồng bộ, thống nhất trong cả nước.
/.

[1] xem https://vietnamnotary.org/ban-thuong-vu-hiep-hoi-cong-chung-vien-viet-nam-quyet-liet-doi-moi-day-manh-chuyen-doi-so-ngay-tu-dau-nhiem-ky/

[2] Tb số 422/TB-HHCCVVN.

[3] lỗi soạn thảo?

03/08/2026

Trường hợp NYCCC yêu cầu hủy/chấm dứt VBCC nếu họ chỉ giữ lại một bản chính/bản gốc thì có được không? Có quan điểm cho rằng cần phải xuất trình toàn bộ VBCC đã phát hành, nếu hủy; còn nếu chấm dứt thì phải xuất trình được bản gốc VBCC.

Bình luận (tham khảo)

Nguồn luật điều chỉnh: BLDS năm 2015; Luật Công chứng năm 2024

Theo ý kiến của chúng tôi: Luật Công chứng năm 2024 không buộc NYCCC phải xuất trình bản gốc VBCC; cơ sở pháp ký căn cứ theo điểm d khoản 1 Điều 42 qui định về “giấy tờ khác có liên quan đến giao dịch mà pháp luật quy định phải có”, theo đó, “giấy tờ khác có liên quan” không phải là Giấy tờ tùy thân hoặc Giấy chứng nhận Qsh, Qsd ở điểm b, điểm c khoản 1 Điều 42 (vì điểm b, điểm c đã qui định về giấy tờ tùy thân và giấy chứng nhận). Kế tiếp, tại khoản 7 Điều 42 ghi “đối với các giấy tờ quy định tại điểm d khoản 1 Điều này mà người yêu cầu công chứng không có bản chính tại thời điểm công chứng viên ký vào lời chứng thì có thể xuất trình bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao có chứng thực”.

Như vậy, khi NYCCC yêu cầu hủy/chấm dứt VBCC thì không buộc phải có bản gốc hay toàn bộ bản gốc vì không có qui định nên có thể xuất trình bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao có chứng thực (được qui định tại khoản 7 Điều 42) nhưng ccv sẽ phải đối chiếu bản chính của giấy chứng nhận nếu trước đó là giao dịch chuyển nhượng Qsd đất và giấy tờ tuỳ thân là cccd căn cứ theo điểm b, điểm c khoản 1 và khoản 7 Điều 42 Luật Công chứng năm 2024.

Lưu ý, việc xuất trình bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao có chứng thực vẫn bảo đảm nguyên tắc cơ bản tại Điều 4 Luật Công chứng năm 2024 là “bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch; phòng ngừa tranh chấp; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; ổn định và phát triển kinh tế - xã hội”.

Liên quan đến Điều 4 Luật Công chứng năm 2024, trên thực tế hành nghề nếu các bên cùng yêu cầu hủy thì xét về ý chí tự nguyện (Điều 3 BLDS năm 2015) cũng như bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên thì ccv có thể thực hiện nhưng lưu ý rằng “Công chứng là dịch vụ công do công chứng viên… chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của giao dịch…” (khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2024); hay nói theo cách khác, CCV xác thực về ý chí nhưng tính hợp pháp cũng cần phải lưu ý. Chính vì vậy, trường hợp hai bên thỏa thuận hủy bỏ hợp đồng thì chúng tôi có ý kiến khác, cụ thể, hủy bỏ là hành vi của một bên căn cứ vào từ “bị” ở khoản 1 Điều 427 BLDS năm 2015: Khi hợp đồng “bị” hủy bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết.

Chúng tôi xin diễn giải từ "bị" tại khoản 1 Điều 427 như sau:

Trong cuộc đời con người thì hầu như không ai muốn mình “bị” làm sao đấy, chẳng hạn như khi đi học thì bị điểm kém, khi tỏ tình thì bị từ chối, khi đi đăng ký sang tên thì bị trả lại hồ sơ hay như một bên ly hôn thì bên còn lại là bị đơn còn khi hai vợ chồng thỏa thuận thì Thẩm phán không xét xử mà ra Qđ thuận tình… và trong mối tương quan pháp lý với hợp đồng là sự thỏa thuận về ý chí thì không ai “bị” làm sao cả, do đó, chúng tôi nghiêng về hủy bỏ hợp đồng là hành vi pháp lý của một bên trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

p/s: chúng tôi chưa tìm thấy pháp luật có quy định khác.

Góp ý dự thảo Nghị định 104/2025/NĐ-CPTừ luật thực định đến thực tiễn hành nghề công chứngDự thảo sđ, bs Nghị định 104 v...
02/08/2026

Góp ý dự thảo Nghị định 104/2025/NĐ-CP

Từ luật thực định đến thực tiễn hành nghề công chứng

Dự thảo sđ, bs Nghị định 104 về kết cấu có 3 Điều, trong đó Điều 1 là nội dung cơ bản cần sđ, bs; Điều 2 là thay thế cụm từ “Ủy ban...” và Điều 3 là Hiệu lực thi hành.

Chúng tôi chủ yếu góp ý ở Điều 1 qua đó tập trung vào một số nội dung:

1./ Thời gian bảo hiểm: “Thời hạn bảo hiểm tối thiểu là 05 năm, có thể đóng tiền từng năm”.

Lý do: không quan trọng về thời hạn là bao nhiêu năm mà quan trọng là số tiền đóng cụ thể là "từng năm"; nội dung này cần cụ thể bởi một số Dn bảo hiểm cho rằng phải đóng tiền đối với toàn bộ thời hạn.

2./ Về lý do chính đáng khác được thực hiện công chứng ngoài trụ sở của TCHNCC

Có hai đoạn diễn giải cho hai trường hợp được ký ngoài trụ sở (mở rộng, bsung Điều 43)

Một là, trường hợp giao dịch gắn với tài sản, công trình, dự án, địa điểm sản xuất, kinh doanh, bàn giao tài sản, hồ sơ, tài liệu quan trọng mà việc thực hiện tại trụ sở không thuận lợi hoặc không phù hợp với điều kiện thực tế.

Nếu điều khoản nêu trên được thông qua thì có lẽ sẽ là điều khoản có nhiều cách hiểu khác nhau bởi phần lớn giao dịch công chứng đều liên quan đến tài sản, tài liệu; trong khi đó Tờ trình chỉ mở rộng "01 trường hợp".

Chúng tôi lấy ví dụ: A thế chấp Qsd đất tại ngân hàng thì với qui định trên có được coi là "giao dịch gắn với tài sản" không? hoặc các bên uỷ quyền, đặt cọc, mua bán (bao gồm cả thế chấp ts là bđs)... cần xuất trình sổ đỏ thì sổ đỏ có được xem là "tài liệu quan trọng" không?

Theo ý kiến của chúng tôi là "có" vì Giấy chứng nhận tuy không phải là tài sản nhưng là tài liệu quan trọng, ví dụ như mất sổ đỏ thì cả nhà ăn không ngon, ngủ không yên.

vì thế, theo chúng tôi chỉ nên viết ngắn gọn là "Giao dịch gắn với tài sản, tài liệu mà việc thực hiện tại trụ sở không thuận lợi hoặc không phù hợp với điều kiện thực tế”.

Như vậy, Dự thảo Nghị định bổ sung 01 trường hợp (nêu ở trên) được coi là có lý do chính đáng khác được thực hiện công chứng ngoài trụ sở nhưng có thể dẫn đến cách hiểu, áp dụng khác nhau.

Hai là, tại mục b) Bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2, cụ thể:

“Trong trường hợp một bên tham gia giao dịch thuộc trường hợp được công chứng ngoài trụ sở thì các bên còn lại có thể đến cùng địa điểm thực hiện công chứng ngoài trụ sở để thực hiện việc công chứng đó”.

Lý do: Chúng tôi hiểu tinh thần là hai bên mua bán hay ủy quyền, đặt cọc... mà một bên đủ đk ký ngoài trụ sở tchncc thì hiểu là bên còn lại có thể thực hiện ký ngoài cùng với bên đủ đk cho thuận tiện.

Tuy nhiên, dự thảo ghi “các bên còn lại” là không phù hợp nếu chỉ có “một bên còn lại” của giao dịch, hoặc nếu có ba hay bốn bên còn lại thì cũng chỉ cần ghi “bên còn lại” là đủ.

(bỏ từ "các")

3./ chúng tôi đề nghị bsung điểm c (sau điểm a, điểm b) khoản 2 Điều 44a như sau:

c) Giấy tờ hộ tịch hoặc giấy tờ khác của tổ chức chính trị có ghi nhận sự kiện chết.

Lý do: Thực tế hành nghề có người để lại di sản đã cao tuổi (90 tuổi) thì cha, mẹ (nếu còn sống) đều đã hơn 100 tuổi nên rất khó có thể có giấy tờ về hộ tịch theo qui định hiện tại; vì thế nên mở rộng ra giấy tờ khác có ghi nhận sự kiện chết chẳng hạn như hồ sơ đảng viên là tài liệu có độ tin cậy cao, điều nào góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trên thực tế[1].

("giấy tờ khác của tổ chức chính trị có ghi nhận sự kiện chết" chẳng hạn như Lí lịch đảng viên)

4./ Đề xuất sửa điểm a khoản 1 Điều 46 qui định:

a) Nhận diện được người ký văn bản công chứng và công chứng viên thực hiện việc công chứng;

Chúng tôi đề xuất sửa thành: Ảnh chụp phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:

a) Nhận diện được người yêu cầu công chứng và công chứng viên thực hiện việc công chứng;

(thay cụm từ "Nhận diện được người ký văn bản công chứng..." bằng cụm từ "Nhận diện được người yêu cầu công chứng...")

Lý do: Có cách hiểu cứng nhắc, máy móc rằng thời điểm chụp ảnh thì NYCCC phải có “hành vi cầm bút ký”... từ cách hiểu như vậy nên có ccv hướng dẫn NYCCC cầm bút “giả vờ ký” để chụp ảnh... điều này chúng tôi thấy không phù hợp với bản chất của qui định là chụp ảnh có sự chứng kiến của ccv tại thời điểm thực hiện việc công chứng[2].

Chính vì vậy, chỉ nên qui định ảnh chụp nhận diện được NYCCC và CCV thực hiện việc công chứng là phù hợp.

Kế tiếp, khoản 15 Điều 1 của dự thảo ở điểm d) qui định ảnh chụp phải được lưu dưới định dạng JPG hoặc JPEG;

Theo ý kiến của chúng tôi, định dạng không quan trọng là gì mà khi lưu ở trên máy tính hay dữ liệu điện tử thì phải là ảnh màu để phục vụ thanh tra, kiểm tra hay cung cấp hs cho cơ quan tiến hành tố tụng; do vậy, chúng tôi kiến nghị sửa điểm d) khoản 15 Điều 1 của dự thảo như sau:

Dự thảo qui định:

d) Được lưu dưới định dạng JPG hoặc JPEG,…

Chúng tôi đề xuất sửa thành:

d) Lưu trên máy tính hay dữ liệu điện tử phải là ảnh màu, không được cắt ghép, chỉnh sửa, thêm, bớt chi tiết hoặc bối cảnh;...
/.

[1] Vđ xác minh của ccv có qui định nhưng cơ quan có thẩm quyền hiếm khi trả lời và luật công chứng là luật về trình tự, thủ tục nên khó có thể ấn định một thời hạn cụ thể cho cơ quan nhà nước; vì vậy, chúng tôi đề xuất giải pháp sử dụng Lí lịch đảng để tháo gỡ khó khăn.

[2] có Hội Cc hướng dẫn chụp ảnh (xem minh hình minh hoạ); theo ý kiến của chúng tôi khi chụp ảnh thì ccv không buộc phải "đeo" thẻ hay NYCCC không phải giả vờ cầm bút ký nhưng trước mặt nên có bút, dự thảo vbcc...;

31/07/2026

Tình huống: Mận yêu cầu công chứng "văn bản cam kết tặng cho tiền" cho Đào (đang ở Mỹ) thì có được không?

Xoay quanh nội dung trên có một số ý kiến như sau:

Một là: Không, vì yêu cầu cc không rõ ràng về hình thức chuyển quyền sở hữu; theo đó, trường hợp này phải lập hđ tặng cho căn cứ theo Điều 457 BLDS năm 2015.

Hai là: Có, vì vbck không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội,... cơ sở pháp lý theo Điều 117 BLDS năm 2015 cũng như sự tự nguyện yêu cầu công chứng theo khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2024.

Tình huống trên còn có quan niệm về cách thức thực hiện là chứng nhận hay chứng thực.

Bình luận (tham khảo)

Cam kết về ngữ nghĩa là lời hứa sẽ thực hiện trong tương lai, nếu kèm theo điều kiện thì có thể dẫn đến "ràng buộc" giữa các bên (giao dịch);

Tiền là tài sản do nhà nước phát hành, không phải là tài sản phải đăng ký nên ai đang chiếm hữu được suy đoán là chủ sở hữu (Điều 184 BLDS năm 2015).

Trên thực tế hiếm khi ccv từ chối yccc ở trên bởi xét về tính hợp pháp, tính xác thực thì Mận có tài sản, có đủ năng lực hành vi, tự nguyện về ý chí thì ccv có thể tiếp nhận yêu cầu mà không buộc phải quan tâm đến “lời hứa” trong tương lai bởi thực hiện lời hứa còn... phụ thuộc vào ý chí và hành vi chuyển giao quyền sở hữu của Mận.

Về chuyển quyền sở hữu theo qui định tại Điều 194 BLDS năm 2015 như sau: “Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu huỷ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản”.

Về chuyển quyền Qsd đất tại khoản 12 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024 qui định: “Chuyển quyền sử dụng đất là việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người này sang người khác thông qua hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất”.

Kế tiếp, tại điểm d, khoản 1 Điều 10 Luật Nhà ở năm 2023 qui định chủ sở hữu nhà ở có quyền “Bán, cho thuê mua, tặng cho, đổi, để thừa kế, thế chấp, góp vốn bằng nhà ở…; chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở,… theo quy định của pháp luật…”.

Liên quan đến định đoạt thì cam kết cũng được coi là hình thức định đoạt tương tự như tặng cho qui định tại điểm b khoản 3 Điều 44 Luật Đất đai năm 2024[1].

Trong phạm vi hiểu biết và rà soát chúng tôi chưa tìm thấy hình thức cam kết được coi là hình thức chuyển quyền ngoài điểm b khoản 3 Điều 44 Luật Đất đai năm 2024[2].

Theo ý kiến của chúng tôi, "cam kết" là của Mận và Mận có thực hiện hành vi "tặng cho" theo cam kết của mình hay không thì không liên quan đến ccv trừ khi Mận có yêu cầu kế tiếp hoặc Mận có thể tự thực hiện.

Như vậy, vbck tặng cho dường như không phải là giao dịch vì không được BLDS qui định và Mận cũng không có nghĩa vụ phải chuyển giao tài sản theo cam kết nên ccv thực hiện chứng thực chữ ký không phải là không có cơ sở.

Song, cũng phải thừa nhận rằng, tình huống nêu trên thì ý chí của người lập văn bản có bản chất là một giao dịch, minh chứng là sau khi lập vbck thì người lập vbck thường dùng vb này để thực hiện chuyển tiền (ở bank) để hiện thực hóa cam kết của mình; lúc này, hành vi chuyển tiền là giao dịch tặng cho căn cứ theo khoản 1 Điều 119 BLDS năm 2015[3].

Tóm lại, chứng nhận hay chứng thực không quan trọng mà quan trọng là có chứng.
/.

[1] Trong trường hợp tặng cho quyền sử dụng đất… người nhận thừa kế được đứng tên là bên tặng cho trong hợp đồng hoặc văn bản cam kết tặng cho.

[2] Dự thảo luật đất đai năm 2026 không còn qui định “văn bản cam kết tặng cho”.

[3] Giao dịch dân sự thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

26/07/2026

Khi “lá chắn an toàn” hay tấm khiên pháp lý bảo vệ người dân và doanh nghiệp bị vứt bỏ[1]

Dự thảo Luật Đất đai gần đây không còn qui định giao dịch chuyển quyền phải được công chứng, chứng thực[2]; liên quan đến nội dung này thì tờ trình không nêu rõ cơ sở cho việc bỏ giao dịch chuyển quyền phải được công chứng, chứng thực (có lẽ là cắt giảm thủ tục)[3] cũng như không có đánh giá tác động về nội dung này.

Kế tiếp, khi không qui định giao dịch chuyển quyền bđs phải được công chứng thì bên cạnh không có đánh giá tác động thì ban soạn thảo cũng chưa có giải pháp thay thế, dự phòng đối với tác động khi giao dịch chuyển quyền không buộc phải công chứng, chứng thực chẳng hạn như cơ quan đăng ký có giải pháp gì để kiểm soát “đầu vào” của giao dịch chuyển quyền khi không còn “tấm khiên pháp lý” là văn bản công chứng.

Hãy nhớ rằng: Người dân tích góp, dành dụm cả đời mới mua được thửa đất.

Bình luận (tham khảo)

Theo ý kiến của chúng tôi, dường như ban soạn thảo (Bộ Nông nghiệp và môi trường) chỉ nhìn mặt hình thức là giảm thủ tục và chi phí trước mắt mà chưa quan tâm đến hệ quả tác động lâu dài, chẳng hạn như thói quen sử dụng dịch vụ pháp lý trong thực tế hiện nay chưa phổ biến nên chủ thể dễ bị vướng vào một số tranh chấp bất lợi vì thiếu kiến thức chuyên ngành (điển hình là hợp đồng kỳ nghỉ; hay hội thảo, tặng quà sau đó bán hàng kém chất lượng với giá cao ở khu vực nông thôn); và trong trường hợp phát sinh tranh chấp, bên cạnh bđs có thể bị đóng băng, nguy cơ không còn giữ được bđs dẫn đến tâm trí bất an (đặc biệt là người cao tuổi) và để khắc phục sai lầm thì chi phí giải quyết tranh chấp thường lớn hơn rất nhiều số tiền công chứng mà kết quả chưa chắc đã đạt được.

Chính vì thế, Luật Công chứng sửa đổi năm 2026 qui định về giao dịch phải công chứng là "giao dịch quan trọng, đòi hỏi điều kiện tham gia giao dịch phải chặt chẽ,…” (Điều 3) nhằm phòng ngừa tranh chấp, bảo đảm đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch.

Bên cạnh đó, hiện nay hoạt động công chứng điện tử đang được triển khai với tốc độ thực hiện giao dịch nhanh chóng với tiêu chí “điện tử” góp phần không nhỏ trong việc giảm chi phí, thời gian và thủ tục cho người dân[4].

Tóm lại, nghề công chứng đang đứng trước bão táp phong ba nhưng chúng ta cần tự toả sáng và tự thể hiện được giá trị của mình.
/.

[1] https://cand.vn/la-chan-an-toan-bao-ve-nguoi-dan-va-doanh-nghiep-post812532.html?fbclid=IwdGRleATSUyxwZG9mAWZkaWQWULSY4twsuZeW1kjvhaKaKomZUPqBmWV4dG4DYWVtAjExAHNydGMGYXBwX2lkCjY2Mjg1NjgzNzkAAR6X6uo6_8AbA6YUfXnEuCOlJTmQzif-WNoEbqmzZSA76VpFdKoBm5weXBbp_g_aem_1lb7N--co3po_WY7MzQAiQ

[2] https://duthaoonline.quochoi.vn/dt/luat-dat-dai-sua-doi/260721165957997654

[3] hiểu là thủ tục chung đối với chủ thể khi thực hiện giao dịch.

[4] chẳng hạn như lộ trình thực hiện chứng nhận giao dịch có đối tượng là bđs sẽ ở phạm vi toàn quốc (sđ, bs Điều 44), việc ccđt theo hình thức “trực tuyến” sẽ giúp tiết kiệm thời gian, chi phí, thủ tục…;

19/07/2026

Tình huống: Hiện nay, NYCCC có được sử dụng Vneid để tham gia giao dịch hay không?

Nguồn luật điều chỉnh:

Luật Căn cước công dân năm 2023 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự năm 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

Luật Công chứng năm 2024 được sửa đổi năm 2026.

Nghị định số 69/2024/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2024 về định danh và xác thực điện tử có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

Bình luận (tham khảo)

Để trao đổi về câu hỏi nêu trên thì trước hết, cần hiểu Vneid là gì; theo wikipedia thì VNeID là một ứng dụng định danh điện tử của Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội thuộc Bộ Công an Việt Nam[1].

Trong khi đó, “Căn cước điện tử là căn cước của công dân Việt Nam được thể hiện thông qua tài khoản định danh điện tử....” (khoản 17 Điều 3 Luật Căn cước công dân năm 2023) và “Căn cước điện tử sử dụng để thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công, các giao dịch và hoạt động khác theo nhu cầu của công dân” (khoản 3 Điều 31 Luật Căn cước công dân năm 2023).

Liên quan đến Vneid thì tại điểm d Khoản 1 Mục II Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 20/5/2024 của Thủ tướng Chính phủ ghi “VNeID là tài khoản duy nhất trong thực hiện TTHC, cung cấp dịch vụ công trên môi trường điện tử từ ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Nghị định số 59/2022/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2022 của Chính phủ”[2].

Lưu ý, hiện nay Nghị định số 69/2024/NĐ-CP thay thế Nghị định số 59/2022/NĐ-CP về định danh và xác thực điện tử.

Lưu ý khác, theo khoản 9 Điều 3 Nghị định số 69/2024/NĐ-CP thì “Tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử là đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp trong Công an nhân dân…” và theo khoản 3 Điều 14 Nghị định số 69/2024/NĐ-CP thì “Việc sử dụng tài khoản định danh điện tử, dịch vụ xác thực điện tử có giá trị pháp lý để khẳng định, chứng minh chủ thể danh tính điện tử đã thực hiện và chấp thuận đối với giao dịch”.

Như vậy thì tài khoản định danh điện tử hay tài khoản định danh điện tử mức độ 02 hay VneID dường như là một và được dùng để thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công, các giao dịch và hoạt động khác.

Vấn đề ở chỗ, Ccv chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp nhằm bảo đảm an toàn pháp lý của giao dịch bao gồm loại hình văn bản “giấy” hay “điện tử” thì đều phải xác định được chính xác chủ thể (bên cạnh đối tượng và nội dung của giao dịch). Trong khi đó VneID do NYCCC cung cấp thì tài khoản này thường hiện hữu ở smatphone của họ và không có dấu vân tay nên Ccv rất cần có biện pháp xác thực an toàn, khách quan và tin cậy cho giao dịch (hoặc cần có văn bản hướng dẫn cụ thể).

Để góp phần tháo gỡ, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự năm 2025 có Sửa đổi, bổ sung khoản 11 Điều 10 như sau: “11. Chính phủ quy định chi tiết các khoản 1, 2, 3, 5 và 9 Điều này; quy định trình tự, thủ tục khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; lộ trình và thời hạn hoàn thành việc kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư”.

Luật Công chứng là luật về thủ tục cũng nhắc đến việc khai thác thông tin trong CSDL quốc gia về dân cư (điểm d khoản 1 Điều 42 Luật Công chứng năm 2024 được bổ sung ở điểm 7a năm 2026).

Chúng tôi cần nhấn mạnh rằng luật công chứng là luật về thủ tục nên bản thân luật không qui định nội dung của luật chuyên ngành khác; cụ thể là theo luật căn cước thì căn cước điện tử có giá trị thi hành, sử dụng là do luật căn cước chứ không phải do luật công chứng qui định.

Từ một số phân tích ở trên, để bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch chúng tôi nhận thấy Ccv cần chủ động khai thác CSDL có liên quan đến Vneid do NYCCC cung cấp.

Theo rà soát thì hiện nay tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử là Trung tâm nghiên cứu ứng dụng dữ liệu dân cư và căn cước công dân (RAR) thuộc Cục CS QLHC về TTXH (C06) của BCA cung cấp dịch vụ “xác thực danh tính” và “so khớp khuôn mặt”; trong đó, giá của dịch vụ xác thực danh tính là 8.000 đồng/lượt còn so khớp khuôn mặt là 1.000 đồng/lượt; trường hợp "mua" thêm xác thực dấu vân tay sẽ phải trả thêm phí[3]. Tuy nhiên, việc tiếp cận để sử dụng dịch vụ này của BCA không thực sự dễ dàng nên tạm thời các TCHNCC có nhu cầu có thể sử dụng thông qua bên thứ ba được cấp quyền[4].

Theo ý kiến của chúng tôi, việc thực hiện hay đồng ý sử dụng tài khoản định danh điện tử (VneID) cần nhận được sự ủng hộ của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện kế tiếp, chẳng hạn như Trung tâm PVHCC cũng như cơ quan đăng ký, cơ quan thuế… hay nói cách khác là cần sự đồng bộ của các cơ quan, tổ chức có liên quan đến giao dịch[5].

Nói tóm lại, về lí thuyết thì NYCCC có thể sử dụng Vneid để tham gia giao dịch. Tuy nhiên, về thực tế hiện nay để các qui định của luật thực sự đi vào cuộc sống thì rất rất cần có sự đồng bộ, thống nhất của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền liên quan đến giao dịch.
/.

[1] https://vi.wikipedia.org/wiki/VNeID.

[2] Theo khoản 2 Điều 9 Nghị định số 69/2024/NĐ-CP thì “Tài khoản định danh điện tử mức độ 02 của công dân Việt Nam được sử dụng để truy cập, khai thác, sử dụng căn cước điện tử,...”.

Và khoản 6 Điều 9 Nghị định số 69/2024/NĐ-CP thì “Thông tin về danh tính điện tử và thông tin tích hợp trên căn cước điện tử, tài khoản định danh điện tử có giá trị chứng minh, tương đương với việc cung cấp thông tin hoặc sử dụng, xuất trình giấy tờ, tài liệu có chứa thông tin đó trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công, các giao dịch và hoạt động khác”.

[3] Hiện tại, nếu NYCCC xuất trình Căn cước thì chúng tôi thường đề nghị họ xác thực điện tử (do Căn cước không có dấu vân tay); dự kiến trong tương lai khi NYCCC xuất trình Căn cước là chính thì dịch vụ xác thực điện tử sẽ lan rộng.

[4] Cục BTTP/Hiệp hội cần có trao đổi với C06/RAR để các TCHNCC được cấp quyền sử dụng dịch vụ.

[5] Ở thời điểm mới thực hiện công chứng điện tử chúng tôi cũng đã gặp rất nhiều khó khăn, ví dụ như sau khi "sản xuất" được văn bản điện tử rồi nhưng vẫn phải liên hệ, trao đổi với Trung tâm PVHCC để được tiếp nhận cũng như VPĐK chấp thuận đăng ký giao dịch.

18/07/2026

Tình huống: A có nhà, đất duy nhất thì có thể lập di chúc để lại toàn bộ tài sản dùng vào việc thờ cúng hay không.

Nguồn luật điều chỉnh: BLDS năm 2015.

Có hai câu trả lời khác nhau như sau:

NYCCC chỉ có thể để lại một phần bởi tại khoản 3 Điều 626 qui định về quyền của người lập di chúc “Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng” và tại Điều 645 qui định “…Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng…” thì cần hiểu là người lập di chúc chỉ được để lại một phần mà thôi.

Theo đó, Ccv có quan điểm trên thường hướng dẫn người lập di chúc có thêm tài sản (tiền mặt) nhằm để lại một phần là toàn bộ nhà, đất trong tổng số tài sản của mình.

Chúng tôi có ý kiến khác.

Căn cứ Điều 645 thì “... Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng…” nên có thể hiểu là người lập di chúc có quyền để lại một phần nhưng không hạn chế quyền để lại toàn bộ vì Điều 194 qui định về Quyền định đoạt của chủ sở hữu thì "Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản".

Theo ý kiến của chúng tôi, việc dành toàn bộ di sản dùng vào việc thờ cúng không ảnh hưởng, không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hay lợi ích của nhà nước là phù hợp với nguyên tắc cơ bản của BLDS (Điều 3).

Như vậy, luật không qui định người lập di chúc chỉ được dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng (khoản 3 Điều 626) mà việc dành một phần hay toàn bộ là Quyền của chủ sở hữu thể hiện ý chí cá nhân để định đoạt tài sản “của mình” theo Điều 624.

14/07/2026

Tình huống: Ông A không nhìn được và không nghe được cũng như không có khả năng "đọc" được có yêu cầu công chứng (nhận di sản) thì có thực hiện được không?

Trao đổi: Chúng tôi thấy tình huống nêu trên là khó khăn trong thực tế hành nghề công chứng bởi về nguyên tắc, Ccv cần bảo đảm NYCCC phải hiểu được YCCC và thực hiện giao dịch theo đúng ý chí tự nguyện của họ hay nói cách khác, Ccv cần bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch; phòng ngừa tranh chấp; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; ổn định và phát triển kinh tế - xã hội (Điều 4 Luật Công chứng năm 2024).

Đối với người không nhìn được và không nghe được cũng như không có khả năng "đọc" được chữ nổi thì chúng tôi tìm thấy qui định liên quan ở khoản 2 Điều 49 Luật Công chứng năm 2024 như sau "Trường hợp người yêu cầu công chứng không đọc được hoặc không nghe được hoặc không ký được và không điểm chỉ được... thì việc công chứng phải có người làm chứng".

Phân tích câu chữ thì hình như nhà làm luật chỉ qui định mang tính đơn lẻ hay ở mức độ nhẹ (khuyết tật nhẹ) minh chứng là từ "hoặc" giữa các mức độ như:

không đọc được hoặc

không nghe được hoặc

không ký được và không điểm chỉ được

Trên thực tế thì NYCCC không đọc, viết được - thì có thể nghe, nói được (Không đọc viết được có thể do không biết chữ hoặc người khuyết tật nhìn và cũng có người khuyết tật nhìn không biết đọc chữ nổi).

hoặc không nghe được - thì có thể nói được hoặc không nghe, nói được (khuyết tật nghe, nói) nhưng có thể nhìn được[1].

hoặc không ký được và không điểm chỉ được nhưng nhìn được, nói được thì NYCCC có thể biểu đạt ý chí của mình.

Khoản 2 Điều 49 Luật Công chứng năm 2024 là dự liệu của nhà làm luật còn khi đối chiếu với tình huống nêu trên thì NYCCC thuộc trường hợp khá đặc biệt là: Không nhìn được và không nghe được cũng như không đọc được.

Theo đó, nếu chủ thể không nhìn được thì người làm chứng/người phiên dịch không thể sử dụng ngôn ngữ ký hiệu bằng tay và các bộ phận khác trên cơ thể để biểu đạt cho họ hiểu được[2]; đồng thời, họ cũng không nghe được thì họ không biết được người khác nói gì và họ cũng không đọc được chữ nổi nên họ khó có thể thể biểu đạt được ý chí của mình.

Như vậy, tình huống nêu trên và qui định về người làm chứng hay người phiên dịch ở Điều 49 dường như không đáp ứng được bởi NYCCC rơi vào tình trạng khá đặc biệt như đã phân tích.

Trên thực tế, nếu gặp tình huống nêu trên chúng tôi có ý kiến là gia đình nên lập hồ sơ đề nghị toà án tuyên NYCCC là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi[3] bởi người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được xem là “người gặp những khuyết tật nhất định về mặt thể chất hoặc có những vấn đề về mặt tinh thần tác động trực tiếp đến việc biểu đạt ý chí chính xác của họ ra bên ngoài”[4] và như vậy, khi có người giám hộ thì giao dịch sẽ do người giám hộ thực hiện.

Trên thực tế, có trường hợp khác (nhẹ hơn) như NYCCC bị khuyết tật nhìn và không đọc được chữ nổi nhưng nghe, nói được thì phương án sử dụng người làm chứng kết hợp với quay video để trao đổi, giải thích dự thảo vbcc thì có thể đáp ứng được qui định tại Điều 4 Luật Công chứng năm 2024[5]. Tuy nhiên, lưu ý qui định "cứng" ở khoản 3 Điều 48 Luật Công chứng năm 2024 là "người khuyết tật nhìn, người khuyết tật nghe, nói thì phải có người phiên dịch" trong khi đó, NYCCC bị khuyết tật nhìn và không đọc được chữ nổi thì qui định "phải có người phiên dịch" dường như lại là một cản trở cho Ccv bởi người phiên dịch sẽ phiên dịch gì khi NYCCC không đọc được chữ nổi?

Theo chúng tôi, ở bất kỳ VBQPPL nào cũng có thể có tồn tại và trong pháp luật công chứng cũng vậy, nhà làm luật khó có thể dự liệu hết mọi tình huống trong thực tế, chẳng hạn như tình huống ở trên.
....

[1] Thường khi nhìn được thì người khuyết tật nghe, nói có thể sử dụng ký hiệu được sử dụng bằng tay và các bộ phận khác trên cơ thể để có thể "nói" được.

[2] Khoản 3 Điều 48 Luật Công chứng năm 2024 qui định "người khuyết tật nhìn, người khuyết tật nghe, nói thì phải có người phiên dịch"; và nếu lắp ráp khoản 3 Điều 48 vào tình huống nêu trên khi NYCCC không biết "đọc" chữ nổi thì dường như cũng chẳng có ý nghĩa gì.

[3] khác với hoạt động công chứng, Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng (khoản 2 Điều 14 BLDS năm 2015).

[4] Bộ Tư pháp, Những điểm mới cơ bản của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2017, tr. 59.

[5] xem khoản 6 Điều 46 Nghị định 104/2025/NĐ-CP.

Address

Số 35 Ngõ 45 Phố Trần Thái Tông, Phường Cầu Giấy, Thành Phố Hanoi
Hanoi

Opening Hours

Monday 08:00 - 12:00
13:30 - 17:30
Tuesday 08:00 - 12:00
13:30 - 17:30
Wednesday 08:00 - 12:00
13:30 - 17:30
Thursday 08:00 - 12:00
13:30 - 17:30
Friday 08:00 - 12:00
13:30 - 17:30
Saturday 08:00 - 12:00

Telephone

+84912904555

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Văn phòng công chứng Hoàng Giang Linh posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Văn phòng công chứng Hoàng Giang Linh:

Shortcuts

Share

Category