Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng

Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng, Legal Service, Số 170 Mạc Toàn, phường Kinh Môn, Hai Phong.

Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Hải Phòng là kênh thông tin chính thức nhằm tuyên truyền pháp luật, phổ biến hoạt động nghiệp vụ, công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại địa bàn

📢THÔNG BÁO THỜI GIAN SƠ TUYỂN VÀO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT NĂM 2026 ĐỐI VỚI CHUYÊN NGÀNH LUẬT KIỂM SÁT👮👮♀️(Chuyên Ngành L...
14/04/2026

📢THÔNG BÁO THỜI GIAN SƠ TUYỂN VÀO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT NĂM 2026 ĐỐI VỚI CHUYÊN NGÀNH LUẬT KIỂM SÁT👮👮♀️(Chuyên Ngành Luật, Luật Kinh tế, Ngôn ngữ Anh không phải sơ tuyển tại Viện kiểm sát nhân dân).
Trường Đại học Kiểm sát chính thức công bố thời gian và hướng dẫn nộp hồ sơ sơ tuyển năm 2026 đối với thí sinh đăng ký ngành Luật – chuyên ngành Kiểm sát, cụ thể như sau:
☑️Nộp hồ sơ tại VKSND cấp khu vực nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Từ ngày 15/5/2026 đến hết ngày 01/6/2026;
🏢 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - thành phố Hải Phòng tiếp nhận hồ sơ của công dân có hộ khẩu thường trú tại 11 xã, phường trên địa bàn gồm: Xã Kim Thành, Phú Thái, Lai Khê, An Thành, Nam An Phụ; Phường Kinh Môn, Nguyễn Đại Năng, Trần Liễu, Bắc An Phụ, Phạm Sư Mạnh, Nhị Chiểu.
☑️Tổ chức sơ tuyển tại VKSND cấp tỉnh, thành phố nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Từ ngày 03/6/2026 đến hết ngày 11/6/2026.
☑️ Dự kiến công bố kết quả sơ tuyển: Trước ngày 14/6/2026.
📌 Các thí sinh có nguyện vọng chuẩn bị đầy đủ hồ sơ và thực hiện đúng thời gian quy định để đảm bảo quyền lợi dự tuyển của mình.
👉 Thí sinh truy cập đường link để tải thông báo và biểu mẫu trực tiếp tại đây:https://drive.google.com/drive/folders/1_o8R2mtVidUWXywZDvqWFSLXvdkYEvD?usp=sharing
https://tuyensinh.kiemsat.edu.vn/bieumau.html
* Mọi vấn đề thắc mắc xin liên hệ tại fanpage!

VKSND KHU VỰC 10 - HẢI PHÒNG: TUỔI TRẺ CHUNG TAY LAN TOẢ  - HÀNH ĐỘNG NHỎ, Ý NGHĨA LỚNHướng tới chào mừng hoạt động kỷ n...
01/04/2026

VKSND KHU VỰC 10 - HẢI PHÒNG: TUỔI TRẺ CHUNG TAY LAN TOẢ - HÀNH ĐỘNG NHỎ, Ý NGHĨA LỚN

Hướng tới chào mừng hoạt động kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/1931 – 26/3/2026), vào ngày 26/3/2026, tại điểm trường Tiểu học Long Xuyên, Đoàn Thanh niên phường Kinh Môn đã phối hợp với Chi đoàn VKSND khu vực 10 - thành phố Hải Phòng tổ chức trao tặng công trình thanh niên mang tên “Ngôi nhà kế hoạch nhỏ”.

Chương trình được xây dựng với mục đích hướng dẫn, tạo điều kiện để các em học sinh thực hành phân loại, thu gom giấy vụn, lon, chai nhựa tái chế. Thông qua đó, góp phần gây quỹ cho hoạt động Đội, phục vụ xây dựng các công trình công cộng trong nhà trường, đồng thời hỗ trợ, giúp đỡ các học sinh có hoàn cảnh khó khăn.

Bí thư Chi đoàn VKSND khu vực 10 - Hải Phòng chia sẻ với Ban giám hiệu nhà trường: Chương trình “Ngôi nhà kế hoạch nhỏ” không chỉ là hoạt động thiết thực chào mừng ngày thành lập Đoàn mà còn góp phần hình thành ý thức tiết kiệm, bảo vệ môi trường cho các em học sinh. Đồng chí cũng bày tỏ mong muốn nhà trường tiếp tục duy trì, phát huy hiệu quả công trình, qua đó lan tỏa những giá trị tích cực trong cộng đồng.

Đại diện Ban Giám hiệu điểm trường Tiểu học Long Xuyên đã bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Đoàn Thanh niên phường Kinh Môn và Chi đoàn VKSND khu vực 10 - Hải Phòng đã quan tâm, hỗ trợ nhà trường. Đồng thời khẳng định sẽ tổ chức triển khai, hướng dẫn học sinh sử dụng công trình một cách hiệu quả, góp phần giáo dục toàn diện cho các em học sinh, đặc biệt trong việc hình thành ý thức bảo vệ môi trường và tinh thần sẻ chia.

Hoạt động là minh chứng rõ nét cho tinh thần sáng tạo của tuổi trẻ trong việc chung tay vì cộng đồng. Qua đó, tiếp tục khẳng định vai trò của Đoàn thanh niên trong bồi dưỡng thế hệ trẻ, hướng tới xây dựng xã hội phát triển bền vững.

CHI ĐOÀN VKSND KHU VỰC 10 - HẢI PHÒNG KỶ NIỆM 95 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINHChiều 25/3, tại ...
30/03/2026

CHI ĐOÀN VKSND KHU VỰC 10 - HẢI PHÒNG KỶ NIỆM 95 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH

Chiều 25/3, tại trụ sở VKSND khu vực 10 – Hải Phòng, Chi đoàn VKSND khu vực 10 đã tổ chức Chương trình kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/1931-26/3/2026).

Tham dự hội nghị có các đồng chí Nguyễn Ngọc Đức, Viện trưởng cùng tập thể Lãnh đạo Viện và toàn thể Đoàn viên của Chi đoàn. Trình diễn văn hội nghị, đồng chí Chu Đức Anh, Bí thư Chi đoàn VKSND khu vực 10 – Hải Phòng khẳng định, đây không chỉ là dịp ôn lại truyền thống lịch sử của tổ chức Đoàn, mà còn là dịp để nhìn nhận nghiêm túc vai trò của thanh niên và tổ chức Đoàn trong bối cảnh đất nước trong công cuộc hội nhập và phát triển. Đối với ngành Kiểm sát hiện nay đang đứng trước yêu cầu ngày càng cao về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, cải cách tư pháp, xây dựng ngành trong sạch, vững mạnh. Tuổi trẻ ngành Kiểm sát giữ vai trò quan trọng, là lực lượng kế cận, nguồn sinh lực mới, hội tụ trí tuệ, nhiệt huyết và tinh thần đổi mới.

Các đồng chí đoàn viên đã ôn lại truyền thống vẻ vang của chặng đường 95 năm thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; phát biểu tham luận, trao đổi, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết, thiết thực, đề xuất những sáng kiến, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác Đoàn và phong trào thanh niên trong ngành Kiểm sát Hải Phòng thời gian tới.

Trong thời gian qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Chi ủy, Lãnh đạo Viện và sự phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể, Đoàn Thanh niên đơn vị VKSND khu vực 10 - Hải Phòng đã tích cực tham gia và có nhiều đóng góp thiết thực trong việc triển khai các phong trào thi đua do Ngành và VKSND thành phố phát động, gắn với nhiệm vụ chuyên môn, cải cách hành chính, chuyển đổi số và các hoạt động tình nguyện, an sinh xã hội, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác của đơn vị.

Bên cạnh đó, đoàn viên thanh niên trong Chi đoàn luôn nêu cao tinh thần chủ động, kỷ luật và tận tụy trong công tác. Dù ở bất kỳ vị trí nào, mỗi đoàn viên đều hiểu rằng kết quả công việc không chỉ phản ánh năng lực cá nhân mà còn thể hiện uy tín, hình ảnh và bản lĩnh của cả tập thể Chi đoàn. Với tinh thần “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”, các đoàn viên luôn sẵn sàng nhận việc khó, việc mới, cố gắng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Có thể nói, tổ chức Đoàn là môi trường để thanh niên trưởng thành, là cầu nối giữa lý tưởng và hành động, giữa ngọn lửa nhiệt huyết và nhiệm vụ thực tiễn của cơ quan, đơn vị.

Phát biểu chỉ đạo tại chương trình, đồng chí Nguyễn Ngọc Đức, Bí thư chi bộ, Viện trưởng VKSND khu vực 10 nhiệt liệt biểu dương và ghi nhận những nỗ lực, đóng góp xứng đáng của chi đoàn thời gian qua. Đồng chí đề nghị tuổi trẻ VKSND khu vực 10 phải thực sự là lực lượng xung kích, tiên phong, bản lĩnh và sáng tạo, tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, không ngừng phấn đấu, học tập, rèn luyện, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng ngành Kiểm sát nhân dân ngày càng trong sạch, vững mạnh.

NGUỒN: https://baovephapluat.vn/kiem-sat-24h/ban-tin-kiem-sat/chi-doan-vksnd-khu-vuc-10-hai-phong-ky-niem-95-nam-ngay-thanh-lap-doan-thanh-nien-cong-san-ho-chi-minh-195915.html

Đồng chí Nguyễn Hoàng Dương - Uỷ viên Ban chấp hành Đảng bộ thành phố, Uỷ viên Ban chấp hành Đảng bộ các cơ quan Đảng th...
11/03/2026

Đồng chí Nguyễn Hoàng Dương - Uỷ viên Ban chấp hành Đảng bộ thành phố, Uỷ viên Ban chấp hành Đảng bộ các cơ quan Đảng thành phố, Bí thư Đảng uỷ, Viện trưởng VKSND thành phố Hải Phòng ứng cử Đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố khoá XVII, nhiệm kỳ 2026- 2031 tại đơn vị bầu cử số 15!

02/03/2026
02/03/2026

🛑Đồng chí Nguyễn Hoàng Dương - Uỷ viên Ban chấp hành Đảng bộ thành phố, Uỷ viên Ban chấp hành Đảng bộ các cơ quan Đảng thành phố, Bí thư Đảng uỷ, Viện trưởng VKSND thành phố Hải Phòng ứng cử Đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố khoá XVII, nhiệm kỳ 2026- 2031 tại đơn vị bầu cử số 15

✅ Đơn vị bầu cử số 15 bao gồm phường Ái Quốc và 06 xã: Thanh Hà, Hà Tây, Hà Đông, Hà Nam, Hà Bắc và Lai Khê.

✅ Thành phố Hải Phòng có 18 đơn vị bầu cử đại biểu HĐND thành phố, 139 người ứng cử, được bầu 85 đại biểu.

📍Đơn vị bầu cử số 15 có 8 ứng cử viên, được bầu 5 đại biểu.

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - HẢI PHÒNG TỔ CHỨC THĂM, CHÚC TẾT, TRI ÂN CÁN BỘ HƯU TRÍ NGÀNH KIỂM SÁT TRÊN ĐỊA BÀN ...
11/02/2026

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - HẢI PHÒNG TỔ CHỨC THĂM, CHÚC TẾT, TRI ÂN CÁN BỘ HƯU TRÍ NGÀNH KIỂM SÁT TRÊN ĐỊA BÀN NHÂN DỊP TẾT ĐẾN, XUÂN VỀ

Nhân dịp Tết Nguyên đán xuân Bính Ngọ năm 2026, trong không khí rộn ràng chào đón mùa Xuân mới, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - thành phố Hải Phòng đã tổ chức các đoàn công tác đến thăm, chúc Tết và tri ân các cán bộ hưu trí ngành Kiểm sát nhân dân trên địa bàn khu vực 10.

Tại các gia đình đến thăm, đại diện lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng đã ân cần thăm hỏi sức khỏe, đời sống, gửi lời chúc mừng năm mới an khang, hạnh phúc tới các đồng chí nguyên cán bộ, lãnh đạo cùng gia đình; đồng thời bày tỏ sự trân trọng, biết ơn sâu sắc đối với những đóng góp, cống hiến của các thế hệ đi trước đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển của ngành Kiểm sát nhân dân nói chung, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng nói riêng.

Trong không khí thân tình, đầm ấm, các đồng chí nguyên cán bộ, lãnh đạo đã chia sẻ nhiều kỷ niệm, kinh nghiệm quý báu trong công tác; bày tỏ niềm vui, sự phấn khởi trước những kết quả, thành tích mà đơn vị đã đạt được trong thời gian qua, đồng thời gửi gắm niềm tin, kỳ vọng vào đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên trẻ tiếp tục giữ vững bản lĩnh chính trị, nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Hoạt động thăm, chúc Tết và tri ân các đồng chí cán bộ hưu trí là nét đẹp truyền thống, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, sự quan tâm, gắn bó giữa các thế hệ cán bộ trong ngành Kiểm sát nhân dân. Qua đó góp phần tăng cường tình đoàn kết, tiếp thêm động lực để tập thể Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Hải Phòng bước vào năm mới với tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

NGUỒN: https://vienkiemsathaiphong.gov.vn/vksnd-khu-vuc/vien-kiem-sat-nhan-dan-khu-vuc-10-hai-phong-to-chuc-tham-chuc-tet-tri-an-can-bo-huu-tri-nganh-kiem-sat-tren-dia-ban-nhan-dip-tet-den-xuan-ve-22639

Chi đoàn Viện KSND Khu vực 10 – Hải Phòng phối hợp với Chi đoàn Tòa án nhân dân Khu vực 10 Hải Phòng và Đoàn phường Kinh...
04/02/2026

Chi đoàn Viện KSND Khu vực 10 – Hải Phòng phối hợp với Chi đoàn Tòa án nhân dân Khu vực 10 Hải Phòng và Đoàn phường Kinh Môn trao quà Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, chia sẻ yêu thương với các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.

Enjoy the videos and music you love, upload original content, and share it all with friends, family, and the world on YouTube.

LUẬT TƯ PHÁP NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NHÓM CHỦ THỂ YẾU THẾTrong tiến trình xây dựng Nhà nước phá...
02/02/2026

LUẬT TƯ PHÁP NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NHÓM CHỦ THỂ YẾU THẾ

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là quyền của nhóm các chủ thể yếu thế, luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của các cơ quan nhà nước, trong đó có các cơ quan tư pháp. Người chưa thành niên, do hạn chế về độ tuổi, nhận thức và khả năng tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, là nhóm đối tượng cần có cơ chế pháp lý riêng trong quá trình giải quyết các vụ việc tư pháp.

Những năm qua, hệ thống pháp luật Việt Nam đã từng bước hoàn thiện các quy định liên quan đến bảo vệ quyền trẻ em. Tuy nhiên, trước yêu cầu cải cách tư pháp và thực tiễn phát sinh ngày càng nhiều vụ việc có người chưa thành niên tham gia, việc xây dựng một đạo luật chuyên biệt điều chỉnh hoạt động tư pháp đối với người chưa thành niên là yêu cầu khách quan. Luật Tư pháp người chưa thành niên được ban hành đã thể hiện rõ sự chuyển biến trong tư duy lập pháp, từ cách tiếp cận thiên về xử lý, trừng phạt sang cách tiếp cận đề cao giáo dục, phòng ngừa và hỗ trợ tái hòa nhập xã hội. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu các nội dung cơ bản của Luật, đồng thời nhìn nhận những khó khăn trong thực tiễn áp dụng, có ý nghĩa thiết thực đối với công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp hiện nay. Từ yêu cầu thực tiễn nêu trên có thể thấy, Luật Tư pháp người chưa thành niên đã thiết lập nhiều quy định tiến bộ, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động tư pháp đối với người chưa thành niên.

1. Những nội dung cơ bản, tiến bộ của Luật Tư pháp người chưa thành niên

Trước hết, Luật Tư pháp người chưa thành niên được xây dựng trên cơ sở quán triệt tinh thần của Hiến pháp năm 2013, đặc biệt là Điều 14 và Điều 37, trong đó khẳng định Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; bảo đảm để trẻ em được phát triển toàn diện. Luật đã thể chế hóa rõ nét nguyên tắc bảo vệ lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên, phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Nguyên tắc này được quán triệt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ việc, từ tiếp nhận, xác minh, điều tra, truy tố đến xét xử và thi hành các biện pháp tư pháp. Luật đã cụ thể hóa nguyên tắc bảo vệ lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên, phù hợp với Điều 3 Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em. Theo đó, trong mọi quyết định tư pháp liên quan đến người chưa thành niên, cơ quan tiến hành tố tụng phải ưu tiên xem xét đến sự phát triển thể chất, tinh thần, đạo đức và tương lai lâu dài của họ. So với các quy định trước đây vốn rải rác trong các đạo luật khác nhau, Luật Tư pháp người chưa thành niên đã tạo ra một chỉnh thể thống nhất, khắc phục tình trạng áp dụng pháp luật thiếu đồng bộ, qua đó nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên.

Thứ hai, Luật đã phân định rõ địa vị pháp lý của người chưa thành niên trong hoạt động tư pháp, bao gồm: Người chưa thành niên là người bị buộc tội; Người chưa thành niên là bị hại; Người chưa thành niên là người làm chứng; Người chưa thành niên có quyền, nghĩa vụ liên quan. Việc phân định này có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn, bởi mỗi nhóm chủ thể với tư cách tham gia tố tụng khác nhau sẽ có nhu cầu bảo vệ khác nhau và đòi hỏi cơ chế tố tụng phù hợp. Chẳng hạn, đối với người chưa thành niên là bị hại trong các vụ án xâm hại tình dục, Luật yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo vệ đặc biệt nhằm tránh gây tổn thương tâm lý thứ cấp, phù hợp với tinh thần Điều 91 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ ba, Luật ưu tiên áp dụng các biện pháp xử lý mang tính giáo dục, phục hồi. Luật tiếp tục kế thừa và phát triển nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật được quy định tại Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015, theo đó việc xử lý phải bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên, đặt mục tiêu giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm lên hàng đầu. Đáng chú ý, Luật mở rộng cơ chế áp dụng các biện pháp xử lý thay thế, hạn chế tối đa việc áp dụng hình phạt tù. Các biện pháp xử lý thay thế, biện pháp tư pháp không tước tự do được đặt ở vị trí trung tâm, góp phần tạo điều kiện cho người chưa thành niên sửa chữa sai lầm trong môi trường gia đình, cộng đồng. Các biện pháp như hòa giải, giáo dục tại cộng đồng, giám sát tại gia đình không chỉ giúp giảm thiểu tác động tiêu cực của việc cách ly xã hội mà còn tạo điều kiện để người chưa thành niên được sống trong môi trường quen thuộc, có sự hỗ trợ của gia đình và xã hội.

Ngoài ra, Luật còn quy định nhiều nội dung nhằm xây dựng thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với đặc điểm tâm lý của người chưa thành niên, như bảo đảm sự tham gia của người đại diện hợp pháp, người bào chữa; hạn chế việc hỏi cung, lấy lời khai nhiều lần; bảo vệ đời sống riêng tư, danh dự, nhân phẩm của người chưa thành niên. Những quy định này góp phần hiện thực hóa quyền tiếp cận công lý của người chưa thành niên, đồng thời phù hợp với các chuẩn mực tư pháp tiến bộ trên thế giới.

2. Tinh thần tiến bộ, nhân văn của Luật Tư pháp người chưa thành niên trong việc bảo vệ nhóm chủ thể yếu thế

Luật Tư pháp người chưa thành niên không chỉ có ý nghĩa đối với riêng nhóm chủ thể tội phạm là “Người dưới 18 tuổi” mà còn góp phần hoàn thiện tư duy lập pháp về bảo vệ các nhóm chủ thể yếu thế trong xã hội. Việc xây dựng một cơ chế tư pháp chuyên biệt thể hiện rõ quan điểm lấy con người làm trung tâm của chính sách pháp luật. Thay vì tiếp cận thuần túy theo hướng quản lý, xử lý vi phạm, Luật đã chuyển sang cách tiếp cận dựa trên quyền con người, coi người chưa thành niên là chủ thể đặc thù cần được bảo vệ, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển. Các quy định của Luật không chỉ tập trung vào hành vi vi phạm mà còn chú trọng đến hoàn cảnh, độ tuổi, mức độ phát triển tâm sinh lý và khả năng phục hồi của người chưa thành niên. Qua đó, tư duy lập pháp được định hình theo hướng đề cáo trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ, chăm sóc và bảo đảm quyền cho nhóm chủ thể yếu thế trong hoạt động tư pháp. Cách tiếp cận này phản ánh bước tiến trong nhận thức lập pháp, góp phần xây dựng hệ thống pháp luật nhân văn, tiến bộ và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người.

Tiếp đó, Luật cũng tạo tiền đề cho việc tiếp tục nghiên cứu, xây dựng các cơ chế tư pháp phù hợp đối với những nhóm chủ thể yếu thế khác, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Thông qua việc thiết kế một mô hình tư pháp chuyên biệt, lấy bảo vệ quyền con người làm trung tâm, Luật đã cung cấp kinh nghiệm lập pháp và khuôn khổ tham chiếu cho việc hoàn thiện các cơ chế bảo vệ người khuyết tật, người cao tuổi, nạn nhân của bạo lực gia đình, mua bán người…trong hạo động tư pháp. Đồng thời, các nguyên tắc như cá thể hóa xử lý, bảo đảm quyền tiếp cận công lý, hạn chế áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc và tăng cường biện pháp hỗ trợ, phục hồi phù hợp với xu hướng cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, thể hiện sự tiệm cận của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực tiến bộ quốc tế về nhân quyền, nhân văn và hiệu quả.

Thông qua Luật, các nguyên tắc bảo vệ quyền con người, quyền trẻ em được cụ thể hóa rõ hơn trong hoạt động tư pháp, góp phần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có Viện kiểm sát, trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và quyền con người. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền con người, quyền trẻ em và việc nội luật hóa các chuẩn mực của Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em, Luật đã xác lập hệ thống nguyên tắc xử lý riêng với người chưa thành niên, trong đó đặt lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên làm yêu cầu xuyên suốt. Các quyền tố tụng cơ bản của người chưa thành niên được cụ thể, đầy đủ hơn, từ quyền tham gia tố tụng phù hợp với độ tuổi, quyền có người đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, đến quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm và đời sống riêng tư. Đồng thời, Luật đề cao các biện pháp xử lý chuyển hướng, hạn chế áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc, thể hiện rõ tính nhân đạo, giáo dục và phục hồi. Qua đó nguyên tắc bảo vệ quyền con người, quyền trẻ em không chỉ được ghi nhận về mặt chính sách đã trở thành chuẩn mực pháp lý bắt buộc trong toàn bộ hoạt động tư pháp với người chưa thành niên.

Như vậy, có thể thấy Luật Tư pháp người chưa thành niên là bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên. Tuy nhiên, để Luật thực sự đi vào cuộc sống, cần tiếp tục quan tâm đến công tác tổ chức thực hiện, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp và tăng cường hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động tư pháp đối với người chưa thành niên.

3. Một số vấn đề đặt ra khi đưa Luật vào áp dụng trên thực tiễn từ góc nhìn công tác kiểm sát

Qua thực tiễn thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, cũng như kiểm sát điều tra, truy tố, xét xử các vụ việc có người chưa thành niên tham gia, cho thấy việc áp dụng Luật Tư pháp người chưa thành niên bên cạnh những kết quả tích cực vẫn còn tồn tại một số khó khăn cần đưa ra trao đổi, như:

Trước hết, yêu cầu về tính chuyên môn hóa đối với người tiến hành tố tụng theo tinh thần của Luật chưa được bảo đảm đồng đều giữa các địa phương. Việc phân công Kiểm sát viên giải quyết các vụ việc liên quan đến người chưa thành niên ở nhiều nơi vẫn mang tính kiêm nhiệm, trong khi đặc thù của loại việc này đòi hỏi kỹ năng nghiệp vụ và trình độ hiểu biết tâm lý riêng.

Bên cạnh đó, việc áp dụng các biện pháp xử lý thay thế đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật trên thực tế còn gặp nhiều vướng mắc. Một số địa phương còn lúng túng trong việc tổ chức giám sát, giáo dục tại cộng đồng do thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan tiến hành tố tụng với chính quyền cơ sở, gia đình và các tổ chức xã hội. Điều này phần nào sẽ ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả áp dụng các biện pháp mang tính giáo dục, phục hồi theo tinh thần của Luật.

Ngoài ra, điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho việc tổ chức thủ tục tố tụng thân thiện đối với người chưa thành niên ở một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu. Việc bố trí phòng hỏi cung, phòng xét xử phù hợp; bảo đảm ghi âm, ghi hình khi hỏi cung người chưa thành niên ở một số nơi chưa được thực hiện đồng bộ, có khả năng làm phát sinh nguy cơ vi phạm trình tự, thủ tục tố tụng.

Từ thực tiễn kiểm sát xét xử cũng cho thấy, trong một số trường hợp, việc quyết định biện pháp xử lý đối với người chưa thành niên vẫn còn chịu ảnh hưởng của tư duy xử lý truyền thống, chưa thực sự đặt trọng tâm vào mục tiêu giáo dục, phòng ngừa và tái hòa nhập xã hội, cộng đồng. Những khó khăn, vướng mắc nêu trên cho thấy việc ban hành Luật bước đầu là việc ghi nhận khung pháp lý, đặt nền móng những điều kiện cần; vấn đề quan trọng hơn là việc thực thi, tổ chức thực hiện và áp dụng các quy định của Luật trên thực tiễn một cách hiệu quả.

Từ những vướng mắc trên, để các quy định của Luật được áp dụng hiệu quả trên thực tế, thiết nghĩ cần thực hiện đồng bộ và hiệu quả các giải pháp sau:

Thứ nhất, cần tăng cường chuyên môn hóa trong tổ chức bộ máy, từng bước xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên, Điều tra viên, Thẩm phán chuyên trách giải quyết các vụ việc liên quan đến người chưa thành niên; đồng thời đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng nghiệp vụ, tâm lý học tư pháp trẻ em.

Thứ hai, cần hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành; ban hành hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm của chính quyền cơ sở, gia đình và các tổ chức xã hội trong việc thực hiện biện pháp xử lý thay thế; qua đó tạo điều kiện để các cơ quan tư pháp, trong đó có Viện kiểm sát, mạnh dạn áp dụng các biện pháp mang tính giáo dục, phục hồi theo đúng tinh thần tiến bộ, nhân văn của Luật.

Thứ ba, Nhà nước cần có lộ trình đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất phục vụ tố tụng đối với người chưa thành niên; Viện kiểm sát cần tăng cường kiểm sát chặt chẽ hoạt động hỏi cung, lấy lời khai, kịp thời phát hiện và yêu cầu khắc phục các vi phạm, bảo đảm tuân thủ nghiêm các quy định của Luật.

Kết luận: Như vậy, có thể thấy việc xây dựng, hoàn thiện và đưa Luật Tư pháp người chưa thành niên vào thực tiễn áp dụng là bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên. Tuy nhiên, để Luật thực sự đi vào cuộc sống, thiết nghĩ các cấp, các ngành cần tăng cường hơn nữa quan tâm đến công tác tổ chức thực hiện, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp và tăng cường hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động tư pháp đối với người chưa thành niên. Việc áp dụng và thực thi hiệu quả các quy định của Luật cũng là việc ghi nhận và đánh dấu ý nghĩa, giá trị lâu dài của Luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

NGUỒN: https://vienkiemsathaiphong.gov.vn/vksnd-khu-vuc/luat-tu-phap-nguoi-chua-thanh-nien-va-van-de-bao-ve-quyen-cua-nhom-chu-the-yeu-the-22598

NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT: HÌNH THỨC CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC CỦA GIAO DỊCH...
29/01/2026

NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT: HÌNH THỨC CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ

Giao dịch dân sự là một trong những phương thức phổ biến nhất để duy trì sự phát triển của xã hội qua các thời kỳ. Các nhu cầu hằng ngày của con người trong sinh hoạt, lao động, sản xuất, kinh doanh… có thể được đáp ứng thông qua giao dịch dân sự. Con người chỉ có thể nhận biết được sự tồn tại của giao dịch dân sự và thực hiện giao dịch đó khi được thể hiện ra bên ngoài bằng một hình thức nhất định, gọi là hình thức của giao dịch dân sự. Trong quá trình giao kết, thực hiện, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự hoặc khi các bên trong giao dịch dân sự xảy ra tranh chấp thì hình thức của giao dịch dân sự là một trong những yếu tố quan trọng được đưa ra xem xét, đánh giá. Do vậy, để thúc đẩy sự phát triển của xã hội trong khuôn khổ pháp luật, đòi hỏi Nhà nước phải ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh đối với hình thức của giao dịch dân sự. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn một số văn bản pháp luật, nhất là Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 còn có một số quy định không phù hợp, chưa rõ ràng, dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau, nhận thức không thống nhất trong quá trình áp dụng và giải quyết tranh chấp.

Qua nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định pháp luật về hình thức của giao dịch dân sự, gắn với thực tiễn áp dụng pháp luật, nhận thấy còn nhiều bất cập. Để thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật liên quan đến hình thức của giao dịch, tác giả đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hình thức của giao dịch dân sự một số nội dung như sau:

1. Một số thuật ngữ liên quan được quy định trong BLDS và văn bản pháp luật liên quan đến nay chưa có quy định giải thích, có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau. Để thống nhất nhận thức, đề xuất bổ sung quy định về khái niệm đối với một số thuật ngữ này:

- Khái niệm về hình thức của giao dịch dân sự là sự biểu hiện ra bên ngoài, là phương tiện truyền đạt, cách thức thể hiện của nội dung giao dịch dân sự mà thông qua đó các bên trong giao dịch dân sự và bên thứ ba có thể nhận biết được sự tồn tại của giao dịch dân sự.

- Khái niệm về hành vi pháp lý đơn phương là hành vi xuất phát từ ý chí của một chủ thể làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

- Khái nhiệm chứng thực là việc các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền chứng thực xác nhận tính chính xác, có thật của các tài liệu, chữ ký, con dấu của cơ quan, tổ chức, cá nhân, các sự kiện pháp lý, thông tin liên quan… theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

2. Một số quy định của BLDS không phù hợp, đề nghị sửa đổi, bổ sung cho phù hợp:

- Để phù hợp với quy định “Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải thể hiện bằng…” tại khoản 2 Điều 119 BLDS năm 2015, tức là hình thức bắt buộc của giao dịch dân sự phải do “luật quy định”, cần thống nhất sử dụng thuật ngữ “luật” thay cho “pháp luật” trong một số quy định về hình thức bắt buộc của một số giao dịch dân sự cụ thể, như: khoản 2 Điều 455 BLDS năm 2015 nên sửa thành“Hợp đồng trao đổi tài sản phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký, nếu luật có quy định”; khoản 1 Điều 502 BLDS năm 2015 nên sửa thành “Hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này và Luật Đất đai”…

- “Đăng ký” là thủ tục hành chính, không phải hình thức của giao dịch dân sự, nên bỏ “đăng ký” ra khỏi quy định về hình thức của giao dịch dân sự, tại khoản 2 Điều 119 BLDS năm 2015 chỉ nên quy định “Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực thì phải tuân theo quy định đó”.

- Nên bổ sung quy định riêng về “đăng ký” là thủ tục hành chính tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của luật, là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp luật có quy định; trường hợp vi phạm thủ tục đăng ký, nhưng một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

- Theo quy định tại khoản 2 Điều 132 BLDS năm 2015 thì khi hết thời hiệu mà chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoặc chủ thể khác có quyền, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức thì giao dịch dân sự đó có hiệu lực. Đây là quy định mới, tuy nhiên không hợp lý và không khả thi. Bởi các lý do: Thứ nhất, giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức không làm phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trường hợp các bên đã thực hiện giao dịch còn phải gánh chịu hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu theo quy định tại Điều 131 BLDS năm 2015, do vậy, không có lý do gì khi hết thời gian 02 năm kể từ ngày giao dịch được xác lập mà giao dịch đó lại đương nhiên có hiệu lực được. Mặt khác, nếu giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức mà không được Tòa án công nhận hiệu lực bằng bản án, quyết định thì cũng không thể có hiệu lực và thực hiện được trên thực tế vì mâu thuẫn với luật chuyên ngành. Ví dụ như: A và B ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng văn bản, không công chứng, chứng thực. Quá 02 năm kể từ ngày giao dịch được xác lập mà A hoặc B đều không có yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu, tức là đã hết thời hiệu yêu cầu. Trường hợp này bên mua sẽ không thể sử dụng hợp đồng này để đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xác lập quyền sử dụng đất do mâu thuẫn với quy định của Luật Đất đai. Do vậy, nên sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 132 BLDS năm 2015 theo hướng loại trừ đối với giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức, để đảm bảo phù hợp với luật chuyên ngành và khả thi trên thực tế, đề nghị sửa thành: “Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này”.

3. Ban hành văn bản pháp luật hướng dẫn một số quy định liên quan đến hình thức của giao dịch dân sự:

- Hiện nay có 02 Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao (Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003, số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004) có nhiều nội dung hướng dẫn áp dụng pháp luật khi giải quyết tranh chấp liên quan đến hình thức của giao dịch dân sự. Tuy nhiên, hai nghị quyết này hướng dẫn quy định của BLDS đã hết hiệu lực, có một số nội dung mâu thuẫn với nhau, nhiều nội dung không còn phù hợp với quy định của BLDS hiện hành. Thực tiễn xét xử cho thấy có nơi Viện kiểm sát, Tòa án vẫn áp dụng tinh thần của các Nghị quyết này, có nơi lại không áp dụng, dẫn đến không thống nhất về đường lối giải quyết tranh chấp. Do vậy, cần thiết ban hành hướng dẫn mới để thống nhất trong việc áp dụng.

- Hướng dẫn cụ thể tiêu chí định lượng “hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch” theo hướng: Việc xác định một hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch được hiểu là nghĩa vụ của mỗi bên trong giao dịch, không phải tổng nghĩa vụ, nghĩa vụ có thể là nghĩa vụ về tài sản thì phải thực hiện ít nhất 2/3 trị giá tài sản được thỏa thuận trong giao dịch, không bao gồm thuế, phí… hoặc nghĩa vụ là công việc thì phải thực hiện được ít nhất 2/3 công việc phù hợp với tiến độ nếu có thỏa thuận…

- BLDS năm 2015 có quy định về sự vô hiệu của hợp chính, hợp đồng phụ, tuy nhiên, không có quy định về cách tính xác định thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng chính, hợp đồng phụ. Theo quy định tại khoản 4 Điều 402 BLDS năm 2015 thì hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính. Như vậy, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng phụ có phụ thuộc vào hợp đồng chính hay không, trong khi thời điểm xác lập của các hợp đồng này có thể xảy ra trường hợp không trùng nhau. Do vậy, cần có hướng dẫn về cách xác định thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng chính, hợp đồng phụ theo hướng không phụ thuộc mà vẫn áp dụng nguyên tắc thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức tính từ thời điểm giao dịch được xác lập.

- BLDS năm 2015 có quy định “Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần nội dung của giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch” (Điều 130). Tuy nhiên, tiêu chí đánh giá thế nào là “không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch” thì BLDS năm 2015 không quy định và chưa có hướng dẫn. Do vậy, cần có quy định hướng dẫn tiêu chí đánh giá để tránh tùy nghi trong việc xác định giao dịch vô hiệu từng phần hay toàn bộ.

- Hướng dẫn một số quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu tại Điều 131 BLDS năm 2015, như: “khôi phục lại tình trạng ban đầu” là tình trạng trước khi một bên hoặc các bên thực hiện giao dịch (khoản 2); “bên ngay tình” bao gồm một bên hoặc các bên trong giao dịch hoặc bên thứ ba ngay tình (khoản 3); “bên có lỗi” được hiểu là lỗi của một bên hoặc các bên trong giao dịch dẫn đến việc giao dịch dân sự vô hiệu, gây thiệt hại cho chủ thể khác thì phải bồi thường tương ứng với mức độ lỗi (khoản 4).

- Thực tiễn xét xử cho thấy, khi tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức, có trường hợp Tòa án giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu, có trường hợp không giải quyết hoặc có giải quyết nhưng không có căn cứ, không khả thi... Bộ luật Tố tụng dân sự và văn bản hướng dẫn thi hành cũng không có quy định bắt buộc phải giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu. Do vậy, cần có văn bản pháp luật hướng dẫn về việc khi giải quyết vụ án liên quan đến tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, Tòa án phải giải thích cho đương sự biết về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, giải quyết khi đương sự có yêu cầu, trường hợp đã giải thích nhưng các đương sự không có yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu thì Tòa án phải ghi nhận trong bản án.

- Việc xác định lỗi, mức độ lỗi, trách nhiệm bồi thường của Tòa án hiện nay còn mang tính tùy nghi, phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Thẩm phán khi giải quyết. Do vậy, cần có văn bản pháp luật hướng dẫn về vấn đề xác định lỗi, mức độ lỗi, cách xác định thiệt hại và trách nhiệm bồi thường để đảm bảo thống nhất trong việc áp dụng pháp luật và giải quyết tranh chấp trên thực tế.

4. Sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến hình thức của di chúc:

- Bổ sung thêm hình thức di chúc đối với hình thức ghi âm, ghi hình hoặc dữ liệu điện tử khác đối với di chúc để phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện đại.

- Bổ sung vào Điều 634 BLDS năm 2015 đối với người làm chứng ký hoặc điểm chỉ vào di chúc. Trường hợp có căn cứ xác định chữ ký, điểm chỉ đúng là của người lập di chúc và có người làm chứng sau này xác nhận thì những trường hợp này nên xem xét công nhận di chúc để đảm bảo tôn trọng ý chí của người lập di chúc.

- Khoản 2 Điều 630 BLDS năm 2015 nên bổ sung quy định về hình thức di chúc miệng và có quy định rõ về hình thức, thời điểm thể hiện sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ đối với việc lập di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi nhằm đảm bảo tôn trọng ý chí và đảm bảo quyền lợi cho nhóm đối tượng này.

- Bổ sung loại trừ trường hợp bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh hoặc lý do chính đáng khác mà người làm chứng không thực hiện được việc công chứng hoặc chứng thực di chúc miệng vào khoản 5 Điều 630 BLDS năm 2015.

- Đối với di chúc miệng sau đó đã được người làm chứng thực hiện việc công chứng, chứng thực theo quy định thì không nên quy định bị mặc nhiên huỷ bỏ theo quy định tại Điều 629 BLDS năm 2015, mà chỉ huỷ bỏ khi có ý chí của người lập di chúc.

- Cần có quy định về hình thức, thủ tục liên quan đến việc rút hoặc hủy bỏ di chúc đã được công chứng, chứng thực.

- Khi giải quyết các vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế, việc trích trả công sức cho người quản lý di sản khi chia di sản thừa kế không thống nhất trong thực tiễn giải quyết. Theo tác giả, việc trích trả công sức cho người quản lý di sản là cần thiết nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của người quản lý di sản trong việc tôn tạo, duy trì giá trị của di sản. Do “công sức quản lý di sản” không đồng nghĩa với “chi phí bảo quản di sản” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 618 BLDS năm 2015, nên bổ sung quy định về quyền của người quản lý di sản là “Được thanh toán chi phí bảo quản di sản, trích trả công sức quản lý di sản”. Bên cạnh đó, cần có hướng dẫn về cách thức, định mức trích trả như thế nào, ưu tiên trích trả bằng hiện vật hay trị giá bằng tiền… để thống nhất trong việc áp dụng pháp luật khi giải quyết tranh chấp.

5. Ban hành quy định hướng dẫn về trách nhiệm bồi thường đối với cơ quan, tổ chức thực hiện hoạt động công chứng, chứng thực và các cá nhân có liên quan:

Thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến hình thức của giao dịch dân sự cho thấy, có nhiều giao dịch dân sự đã được công chứng, chứng thực nhưng vẫn bị Tòa án tuyên bố vô hiệu, trong đó có trường hợp có trách nhiệm của Văn phòng công chứng, Công chứng viên trong hoạt động công chứng, UBND cấp xã và cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động chứng thực. Tuy nhiên, khi giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, các Tòa án thường chỉ xem xét xác định lỗi, mức độ lỗi, thiệt hại và trách nhiệm bồi thường của các bên đương sự mà ít khi xem xét đến trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có vi phạm quy định về hoạt động công chứng, chứng thực, là một trong những nguyên nhân dẫn đến giao dịch bị tuyên vô hiệu. Đối với trường hợp này, tác giả đề xuất nên có quy định buộc cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động công chứng, chứng thực phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu các quy định pháp luật, tìm hiểu tình hình tranh chấp về giao dịch dân sự và thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp liên quan đến hình thức của giao dịch dân sự cho thấy: Hiện nay các tranh chấp về hình thức của giao dịch xảy ra tương đối nhiều và đa dạng, trong đó phổ biến liên quan đến giao dịch về quyền sử dụng đất và thừa kế theo di chúc, nhiều giao dịch dân sự bị tuyên vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng vi phạm quy định về hình thức của giao dịch là: Chủ thể tham gia giao dịch còn thiếu hiểu biết pháp luật về điều kiện có hiệu lực của giao dịch hoặc còn có tâm lý “ngại” đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc công chứng, chứng thực, đăng ký giao dịch theo quy định pháp luật; Cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động công chứng, chứng thực, đăng ký còn tình trạng thiếu trách nhiệm hoặc yếu kém về nghiệp vụ dẫn đến giao dịch vô hiệu… Việc áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về hình thức của giao dịch còn chưa thống nhất, do một số quy định pháp luật chưa rõ ràng, chưa có hướng dẫn thống nhất, dẫn đến việc áp dụng khác nhau, cũng có trường hợp là do năng lực, trình độ của người tiến hành tố tụng còn hạn chế… Tác giả đã đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và mong muốn nhận được ý kiến tham gia của đồng nghiệp, sự quan tâm của cấp có thẩm quyền để giải quyết những bất cập trong thực tiễn./.

NGUỒN: https://vienkiemsathaiphong.gov.vn/kiem-sat-vien-viet/nghien-cuu-phap-luat-hinh-thuc-cua-giao-dich-dan-su-va-mot-so-kien-nghi-hoan-thien-phap-luat-ve-hinh-thuc-cua-giao-dich-dan-su-22591

Address

Số 170 Mạc Toàn, Phường Kinh Môn
Hai Phong

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category