29/07/2020
GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA VĂN BẢN CÔNG CHỨNG
Công chứng đóng vai trò quan trọng trong đời sống bởi những giá trị pháp lý mà văn bản công chứng (các hợp đồng, giao dịch) mang lại. Bài viết dưới đây sẽ phân tích ngắn gọn giá trị pháp lý của văn bản công chứng để chúng ta thấy rõ hơn vai trò quan trọng của việc công chứng trong các giao dịch dân sự, trong đời sống xã hội.
Văn bản được công chứng có hai giá trị pháp lý cụ thể:
1. Giá trị thi hành
Theo khoản 2, Điều 5 Luật công chứng năm 2014 quy định: “Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên có liên quan; Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác”.
Những nội dung đã thoả thuận trong văn bản công chứng có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên tham gia hợp đồng, giao dịch đồng thời đối với bên thứ ba. Trong mối quan hệ giữa các bên tham gia hợp đồng thì những gì họ đã cam kết trong hợp đồng, giao dịch thì họ có nghĩa vụ thực hiện. Đó cũng là nguyên tắc của luật dân sự. Mặt khác, trong mối quan hệ với người thứ ba thì văn bản công chứng cũng có hiệu lực bắt buộc người thứ ba phải tôn trọng và thi hành. Như cơ quan thuế, cơ quan tài nguyên môi trường, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất... đối với các hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản là bất động sản hoặc cơ quan, tổ chức khác…Điều này cũng là xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng quyền tự do giao kết hợp đồng của chủ thể. Trong trường hợp một bên không thực hiện đúng thỏa thuận, bên kia có quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền liên quan áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết buộc bên kia phải thi hành mà không cần đặt lại vấn đề xem xét hiệu lực của hợp đồng đó.
2. Giá trị chứng cứ
Giá trị chứng cứ không phải chứng minh của văn bản công chứng quy định tại khoản 3 Điều 5 Luật Công chứng năm 2014. “Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu”.
Văn bản công chứng luôn mang tính chất xác thực của chứng cứ, do luôn được thực hiện theo những thể thức, trình tự mà pháp luật bắt buộc. Nhờ vậy những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng luôn đảm bảo tính xác thực. Không những thế, tính xác thực của bất cứ tình tiết, sự kiện nào trong văn bản công chứng còn phải đáp ứng tiêu chí phù hợp các quy định pháp luật nội dung và không trái đạo đức xã hội. Vì vậy, hợp đồng, giao dịch đã được công chứng phản ánh một cách xác thực nhất những tình tiết, sự kiện được chứa đựng trong nó (về chủ thể tham gia ký kết hợp đồng, giao dịch; đối tượng, hình thức của hợp đồng, giao dịch; thời gian, địa điểm, nội dung thể hiện ý chí và thống nhất ý chí của các bên, sự tự nguyện, xác thực về tính hợp pháp, về bản chất thực của những thỏa thuận mà các đương sự thiết lập..) Đó là lý do tại sao mà văn bản công chứng luôn có độ tin cậy, chính xác cao mà không thể bác bỏ trong quá trình sử dụng làm chứng cứ. Hệ quả tất yếu là bản thân những tình tiết, sự kiện được ghi nhận trong văn bản công chứng không cần phải được đánh giá lại tính xác thực, mặc nhiên xem nó là chứng cứ không thể phủ nhận. Trong hoạt động tố tụng, chứng cứ đóng vai trò quyết định trong việc làm sáng tỏ các quan hệ, nhầm lẫn, tranh chấp cần giải quyết và làm cơ sở để tòa án phân xử.