11/08/2024
Vụ việc thực tế: B mua một ô tô không có giấy tờ với giá 80 triệu đồng nhưng không có giấy tờ. Khi Bình đậu xe không đúng quy định trên đường Nguyễn Hoàng, quận Nam Từ Liêm, CSGT lập biên bản vi phạm, đưa xe về bãi tạm giữ số 3 Lê Quang Đạo, Hà Nội. Sau đó, cả gan nhờ nhân viên của một gara sửa chữa ô tô gần đó lẻn vào bãi tạm giữ mang xe về. Phát hiện xe bị mất, nhân viên bãi xe đến trình báo công an. B bị khởi tố về tội trộm cắp tài sản.
Đây không phải là trường hợp đầu tiên bị khởi tố về tội trộm cắp tài sản với hành vi kể trên. Vấn đề này nổ ra tranh luận về vấn đề có tội hay không có tội ở trường hợp này. Quan điểm cho rằng không có tội thì lập luận với lý lẽ mà ai cũng có thể hiểu được rằng là “xe của bản thân mình khi mình lấy về thì sao phạm tội trộm cắp tài sản”. Vấn đề này không chỉ làm khó những người không được đào tạo bài bản về luật mà còn làm khó cả những cán bộ thực thi và áp dụng pháp luật. Đối với những người này, họ không chỉ tranh luận về có tội hay không có tội, mà họ còn tranh luận về tội danh, về bị hại, về trách nhiệm bồi thường,… Vấn đề này phổ biến đến mức để giải quyết những tranh luận về vấn đề tội danh hiện nay, Tòa án nhân dân tối cao đã lấy ý kiến dự thảo Án lệ số 02/2024 với tình tiết pháp lý tương tự.
Dự thảo Án lệ này đưa ra giải pháp rằng trong trường hợp này, cần phải xác định tội danh là trộm cắp tài sản. Với phần nội dung án lệ “Như vậy bị cáo lợi dụng lúc không có người trông coi đã lén lút vào trộm cắp xe máy hiệu Suzuki Raider đang bị Công an xã T, huyện H, tỉnh Khánh Hòa tạm giữ hành chính mang về cất giấu tại nhà mình. Nên Toà án cấp sơ thẩm xác định bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.” Theo quan điểm của người viết, việc xác định tội danh là phù hợp. Tuy nhiên, phần lập luận của Án lệ chỉ giải quyết được về mặt đường lối mà chưa có sự chặt chẽ, thuyết phục về mặt lập luận. Chưa có những phân tích chi tiết để khiến bị cáo nhận thức được hành vi của mình cấu thành tội phạm. Tác giả phân tích thêm để làm rõ vì sao hành vi này lại có tội và tội danh là trộm cắp tài sản.
Trước hết, cần giả định rằng về mặt chủ quan, mặt khách quan đều đã thỏa mãn yêu cầu của cấu thành tội phạm. Vấn đề cần đánh giá ở đây chính là hành vi khách quan biểu hiện ra bên ngoài. Sở dĩ có tranh cãi về mặt tội danh vì hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 là “Người nào trộm cắp tài sản của người khác”. Chính cụm từ “người khác” khiến chúng ta có một nhầm tưởng rằng việc trộm tài sản của chính mình thì không thỏa mãn cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, pháp luật không được hiểu và áp dụng theo một hướng rất hẹp như vậy. Nếu hiểu theo hướng như vậy, những tình huống kiểu như đã cầm cố, cho thuê, cho người khác mượn một động sản và sau đó lén lút lấy lại tài sản đã cầm cố, cho thuê, cho mượn cũng không phải là hành vi phạm tội (những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nêu trên không làm thay đổi chủ sở hữu tài sản). Vì về mặt bản chất, nếu tư duy theo lối quy nạp, thì những hành vi lén lút lấy lại tài sản đang thuộc sự quản lý hợp pháp của người khác đều không cấu thành tội phạm. Như vậy, việc cầm cố xe, rồi sau đó tới tiệm cầm đồ lén lấy xe về, cũng không là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Nếu tư duy theo kiểu như vậy, xã hội tất sẽ loạn.
Do vậy, hành vi chiếm đoạt tài sản của “người khác” trong không chỉ tội trộm cắp tài sản mà còn trong những tội danh khác như lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174), lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175),... phải được hiểu là chủ sở hữu tài sản, người đang quản lý tài sản một cách hợp pháp. Người ở đây cũng phải được hiểu không chỉ là cá nhân, mà còn là cơ quan, tổ chức. Ở trường hợp này, CSGT thuộc công an quận Nam Từ Liêm đã tiến hành lập biên bản một cách hợp pháp, trình tự thủ tục đều đúng quy định. Việc họ thực hiện việc tạm giữ phương tiện là phù hợp với quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Do đó, có cơ sở xác định rằng Công an quận Nam Từ Liêm quản lý tài sản bị tạm giữ một cách hợp pháp. Nên hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của pháp nhân đang quản lý hợp pháp tài sản đã cấu thành tội trộm cắp tài sản.
Ở góc nhìn về bị hại, quy định tại khoản 1 Điều 62 Bộ luật hình sự thì “Bị hại là người trực tiếp bị thiệt hại về tài sản...”. Có người lập luận rằng, Công an quận Nam Từ Liêm không phải là bị hại, vì tài sản là của B, B trộm tài sản của chính mình thì Công an quận đâu có thiệt hại. Lập luận này là chưa chính xác, vì theo quy định của Bộ luật dân sự, chủ thể đang quản lý hợp pháp tài sản của người khác khi xảy ra thiệt hại như mất mát, hư hỏng mà không thuộc những trường hợp loại trừ trách nhiệm dân sự thì phải bồi thường khi có yêu cầu. Trường hợp này, công an quận chính là người chịu trách nhiệm do sự cẩu thả khi quản lý tài sản mình đang tạm giữ. Trong trường hợp tìm không ra thủ phạm trộm cắp chiếc xe, về lý thuyết, chính B có thể yêu cầu công an quận phải bồi thường thiệt hại xảy ra do hành vi làm mất tài sản mình đang quản lý. Đây là điển hình của trường hợp “ăn cắp còn la làng”.
Bình luận: Việc không hiểu biết pháp luật như trường hợp của B sẽ dẫn đến rất nhiều hậu quả khôn lường, thực tế B phải đối diện với nguy cơ tù tội. Có những sự việc suy nghĩ thì rất đơn giản, nhưng nếu soi xét dưới góc độ pháp lý thì hành vi tưởng không có gì có thể đối diện với nhiều hậu quả khôn lường. Nếu dự thảo Án lệ được thông qua, Án lệ này sẽ là cơ sở pháp lý vững chắc cho cơ quan tố tụng mạnh dạn hơn trong việc xem xét, xử lý những hành vi có bản chất pháp lý tương tự.
Câu chuyện hi hữu xảy ra ở Hà Nội khi một người đàn ông vừa phải nhận án tù vì trộm cắp ô tô của chính mình.