Luật sư Newton

Call Directions Contact the business

Luật sư Newton - LUẬT SƯ TRANH TỤNG
- LUẬT SƯ TƯ VẤN
- DỊCH VỤ PHÁP LÝ VỀ NHÀ ĐẤT

TỪ 01/9/2026, NGƯỜI DÂN CẦN BIẾT GÌ VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN?Từ ngày 01/9/2026, Nghị định số 337/2026/NĐ-CP của Chính...
14/09/2026

TỪ 01/9/2026, NGƯỜI DÂN CẦN BIẾT GÌ VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN?

Từ ngày 01/9/2026, Nghị định số 337/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin chính thức có hiệu lực. Đây là văn bản đáng chú ý không phải vì tạo ra một quyền hoàn toàn mới, mà bởi nó tiếp tục cụ thể hóa cơ chế để cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tiếp cận thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra hoặc nắm giữ.

Trong thực tế, khi giải quyết một vụ việc liên quan đến đất đai, xây dựng, quy hoạch, thủ tục hành chính, môi trường hoặc các quyết định quản lý nhà nước, người dân thường gặp một tình huống rất phổ biến: cần biết một thông tin đang được cơ quan nhà nước quản lý nhưng không biết mình có quyền yêu cầu cung cấp hay không. Ngược lại, cũng có trường hợp cơ quan nhà nước cho rằng thông tin thuộc hồ sơ nội bộ hoặc không thuộc diện cung cấp mà không giải thích đầy đủ căn cứ pháp lý.

Vấn đề pháp lý cần phân biệt ở đây là: quyền tiếp cận thông tin không đồng nghĩa với việc mọi thông tin do cơ quan nhà nước quản lý đều phải được cung cấp cho bất kỳ người nào, nhưng cơ quan nhà nước cũng không thể tùy ý từ chối cung cấp thông tin chỉ vì thông tin đó đang được lưu giữ trong hồ sơ của mình.

Bản chất của quyền tiếp cận thông tin là tạo điều kiện để người dân biết được những thông tin mà pháp luật cho phép tiếp cận, qua đó thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Đặc biệt, trong các vụ việc hành chính, việc tiếp cận đúng thông tin có thể quyết định khả năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một cá nhân hoặc tổ chức. Chẳng hạn, một người đang thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thể cần tiếp cận thông tin về quy hoạch, hồ sơ địa chính, căn cứ xử lý hồ sơ hoặc một văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Một người khiếu nại một quyết định hành chính có thể cần biết những tài liệu, thông tin được sử dụng làm căn cứ để ban hành quyết định đó. Khi tranh chấp phát sinh, việc xác định cơ quan nào đang quản lý thông tin và thông tin đó có thuộc phạm vi được tiếp cận hay không có ý nghĩa rất quan trọng.

Điều đáng lưu ý là pháp luật về tiếp cận thông tin được xây dựng theo nguyên tắc thông tin thuộc phạm vi phải công khai thì phải được công khai; thông tin mà cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu tiếp cận thì cơ quan có trách nhiệm phải xem xét và cung cấp theo đúng trình tự; còn đối với thông tin không được tiếp cận hoặc tiếp cận có điều kiện thì việc hạn chế phải có căn cứ pháp luật. Vì vậy, câu trả lời “đây là hồ sơ của cơ quan” tự nó chưa phải là một căn cứ đủ để từ chối yêu cầu tiếp cận.
Ngược lại, người yêu cầu cũng không thể dựa vào quyền tiếp cận thông tin để yêu cầu cung cấp mọi tài liệu mà mình mong muốn. Pháp luật đặt ra những giới hạn nhất định đối với thông tin không được tiếp cận, thông tin được tiếp cận có điều kiện và những trường hợp liên quan đến bí mật nhà nước, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác. Do đó, khi yêu cầu cung cấp thông tin, vấn đề quan trọng không chỉ là “có cần thông tin hay không”, mà phải xác định thông tin đó thuộc loại nào và pháp luật cho phép tiếp cận ở mức độ nào.

Đây cũng là điểm có ý nghĩa thực tiễn đối với các tranh chấp và thủ tục hành chính liên quan đến đất đai. Người dân nhiều khi cho rằng muốn bảo vệ quyền của mình thì phải tự thu thập toàn bộ hồ sơ đang được cơ quan nhà nước lưu giữ. Tuy nhiên, có những thông tin thuộc trách nhiệm quản lý của cơ quan nhà nước và người dân có quyền yêu cầu tiếp cận theo trình tự pháp luật. Việc cơ quan có thẩm quyền không cung cấp thông tin hoặc từ chối không đúng căn cứ có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện hoặc thực hiện một thủ tục hành chính khác của người dân.

Ở chiều ngược lại, người dân cũng cần tránh một cách hiểu khác: cứ gửi yêu cầu là cơ quan nhà nước bắt buộc phải cung cấp ngay toàn bộ hồ sơ. Quyền tiếp cận thông tin phải được thực hiện theo đúng trình tự, hình thức và phạm vi mà pháp luật quy định. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm xem xét yêu cầu, xác định thông tin có thuộc phạm vi được tiếp cận hay không và thực hiện việc cung cấp hoặc từ chối theo căn cứ pháp luật tương ứng.
Như vậy, giá trị thực tế của Nghị định 337/2026/NĐ-CP không chỉ nằm ở việc quy định thêm về thủ tục, mà còn nằm ở việc làm rõ hơn mối quan hệ giữa quyền được biết của người dân và trách nhiệm cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước. Trong một nền hành chính ngày càng hướng đến công khai, minh bạch và số hóa, người dân không chỉ là đối tượng thực hiện thủ tục mà còn có quyền biết những thông tin mà pháp luật cho phép mình tiếp cận.

Đặc biệt, khi một quyết định hành chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của mình, người dân cần phân biệt rõ ba vấn đề: thông tin nào mình có quyền tiếp cận; cơ quan nào có trách nhiệm cung cấp; và trường hợp nào cơ quan có quyền từ chối hoặc hạn chế việc cung cấp. Nếu không làm rõ ba vấn đề này, việc yêu cầu thông tin rất dễ rơi vào tình trạng hoặc yêu cầu những tài liệu pháp luật không cho phép tiếp cận, hoặc ngược lại bỏ qua những thông tin mà mình thực sự có quyền yêu cầu.

Từ ngày 01/9/2026, khi Nghị định 337/2026/NĐ-CP có hiệu lực, quyền tiếp cận thông tin tiếp tục được đặt trong một khuôn khổ pháp lý cụ thể hơn. Đối với người dân, điều quan trọng không phải là yêu cầu càng nhiều thông tin càng tốt, mà là xác định đúng thông tin cần thiết, đúng cơ quan đang quản lý, đúng căn cứ pháp luật và đúng trình tự yêu cầu.

Bởi trong nhiều vụ việc, có được thông tin đúng và đầy đủ không chỉ giúp người dân hiểu rõ vấn đề, mà còn là cơ sở để thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình một cách có căn cứ.

TỪ 01/9/2026, ĐỊNH DANH ĐỊA ĐIỂM: MỖI THỬA ĐẤT SẼ CÓ MỘT MÃ ĐỊNH DANH RIÊNGTừ ngày 01/9/2026, Nghị định 326/2026/NĐ-CP c...
04/09/2026

TỪ 01/9/2026, ĐỊNH DANH ĐỊA ĐIỂM: MỖI THỬA ĐẤT SẼ CÓ MỘT MÃ ĐỊNH DANH RIÊNG

Từ ngày 01/9/2026, Nghị định 326/2026/NĐ-CP của Chính phủ chính thức có hiệu lực, đặt nền móng cho việc xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu định danh địa điểm thống nhất trên phạm vi cả nước. Điểm đáng chú ý của Nghị định không đơn thuần nằm ở việc mỗi thửa đất, công trình hay địa điểm sẽ được gắn một mã số, mà quan trọng hơn là hình thành một hệ thống dữ liệu thống nhất để các cơ quan nhà nước có thể kết nối, chia sẻ và khai thác thông tin về địa điểm trong quá trình quản lý.

Theo Nghị định, mỗi địa điểm sẽ được cấp một mã định danh gồm 12 chữ số, có tính duy nhất, không trùng lặp và được duy trì ổn định trong thời gian dài. Phạm vi định danh cũng khá rộng, không chỉ bao gồm thửa đất mà còn có nhà ở, công trình xây dựng, đường giao thông, địa danh và nhiều nhóm đối tượng vật chất khác. Phụ lục của Nghị định xác định tổng cộng 71 nhóm đối tượng được định danh, trong đó thửa đất được xác định là đối tượng LA01.

Đáng chú ý, mã định danh địa điểm không phải là một loại giấy tờ mới thay thế Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay các giấy tờ pháp lý hiện có. Nghị định 326/2026/NĐ-CP cũng xác định rõ việc định danh và cấp mã phải được thực hiện trên cơ sở các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và dữ liệu địa phương; đồng thời việc định danh không làm thay đổi chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan chuyên ngành. Vì vậy, có thể hiểu đây là một lớp dữ liệu mới được xây dựng để kết nối và chuẩn hóa thông tin, chứ không phải một cơ chế mới để xác lập quyền sử dụng đất.

Một điểm khác cũng rất đáng chú ý là trách nhiệm cập nhật dữ liệu được đặt trực tiếp lên cơ quan đang quản lý đối tượng hoặc cơ sở dữ liệu nguồn. Khi thửa đất, công trình, địa chỉ hoặc các thông tin liên quan có thay đổi, dữ liệu phải được cập nhật, đồng bộ theo quy định. Trường hợp người dân phát hiện thông tin trong cơ sở dữ liệu không chính xác thì có quyền phản ánh để cơ quan có thẩm quyền kiểm tra và xử lý. Đây là điểm có ý nghĩa thực tế bởi khi dữ liệu được sử dụng ngày càng rộng rãi, tính chính xác và thống nhất của thông tin sẽ trở thành vấn đề đặc biệt quan trọng.

Nghị định cũng mở ra cơ chế khai thác dữ liệu định danh địa điểm thông qua hệ thống điện tử. Một số thông tin thuộc dữ liệu công khai có thể được khai thác trên VNeID, trong khi những thông tin liên quan đến Giấy chứng nhận, chủ sử dụng, chủ sở hữu và một số dữ liệu khác thuộc nhóm dữ liệu không công khai, việc tiếp cận phải tuân thủ điều kiện và quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo mật thông tin. Do đó, không nên hiểu rằng từ ngày 01/9/2026, toàn bộ thông tin về thửa đất hoặc chủ sử dụng đất sẽ được công khai trên VNeID.

Điểm mới đáng chú ý nhất của Nghị định 326/2026/NĐ-CP vì thế nằm ở việc xây dựng một hệ thống định danh địa điểm thống nhất trên toàn quốc và kết nối dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước. Khi được triển khai đầy đủ, dữ liệu về một địa điểm có thể được liên kết với nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau, hạn chế tình trạng mỗi cơ quan quản lý một nguồn thông tin riêng biệt, đồng thời tạo điều kiện để người dân và cơ quan nhà nước khai thác thông tin thuận tiện hơn.

Tuy nhiên, đây là một hệ thống được triển khai theo lộ trình. Nghị định quy định đối với những đối tượng đã có đủ dữ liệu tối thiểu thì thực hiện đồng bộ, còn những trường hợp dữ liệu chưa đầy đủ sẽ tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện theo lộ trình. Vì vậy, không nên hiểu rằng ngay khi Nghị định có hiệu lực, toàn bộ 71 nhóm địa điểm trên cả nước đều đã được cấp mã và đồng bộ hoàn chỉnh.

Nhìn rộng hơn, Nghị định 326/2026/NĐ-CP cho thấy xu hướng chuyển từ quản lý địa điểm chủ yếu bằng hồ sơ, giấy tờ sang quản lý bằng dữ liệu định danh thống nhất. Với lĩnh vực đất đai, mã định danh thửa đất có thể trở thành một trong những thông tin quan trọng giúp kết nối dữ liệu đất đai với các hệ thống dữ liệu khác trong tương lai. Tuy nhiên, mã định danh chỉ có ý nghĩa trong việc nhận diện và kết nối dữ liệu; quyền sử dụng đất vẫn được xác lập, thực hiện và bảo vệ theo pháp luật đất đai và các giấy tờ pháp lý có liên quan.

ĐẶT CỌC MUA ĐẤT NHƯNG ĐẤT CHƯA ĐỦ ĐIỀU KIỆN BÁN: NGƯỜI MUA CÓ MẤT TIỀN CỌC?Trong thực tế mua bán nhà đất, không ít trườn...
25/08/2026

ĐẶT CỌC MUA ĐẤT NHƯNG ĐẤT CHƯA ĐỦ ĐIỀU KIỆN BÁN: NGƯỜI MUA CÓ MẤT TIỀN CỌC?
Trong thực tế mua bán nhà đất, không ít trường hợp người mua sau khi xem đất, thống nhất giá và ký giấy đặt cọc thì mới phát hiện thửa đất đang có tranh chấp, chưa được cấp Giấy chứng nhận, đang bị kê biên hoặc chưa đủ điều kiện để thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất. Khi đó, một câu hỏi thường được đặt ra là: nếu hợp đồng mua bán đất chưa thể thực hiện thì khoản tiền đặt cọc có được lấy lại hay không?
Để trả lời câu hỏi này, trước hết cần phân biệt giữa hợp đồng đặt cọc và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đặt cọc là biện pháp bảo đảm được quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc tài sản có giá trị trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Vì vậy, bản thân việc đặt cọc không đồng nghĩa với việc quyền sử dụng đất đã được chuyển cho người mua.
Trong khi đó, Luật Đất đai năm 2024 đặt ra những điều kiện cụ thể để người sử dụng đất được thực hiện quyền chuyển nhượng. Theo khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai năm 2024, về nguyên tắc, người sử dụng đất phải có Giấy chứng nhận, đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết, quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án, đất còn trong thời hạn sử dụng và không thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Điều này dẫn đến một điểm rất dễ nhầm lẫn: đất chưa đủ điều kiện chuyển nhượng không có nghĩa mọi thỏa thuận đặt cọc liên quan đến thửa đất đó đương nhiên vô hiệu. Cần xem xét cụ thể mục đích của việc đặt cọc, nội dung thỏa thuận và nguyên nhân khiến hợp đồng chuyển nhượng không được giao kết hoặc không được thực hiện.
Chẳng hạn, A có một thửa đất nhưng tại thời điểm ký giấy đặt cọc, thửa đất đang có tranh chấp. A vẫn nhận của B 300 triệu đồng và cam kết sau khi giải quyết tranh chấp sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng. Nếu sau đó A không thể thực hiện việc chuyển nhượng vì đất vẫn đang tranh chấp thì cần xác định nguyên nhân không thực hiện hợp đồng thuộc về ai, nội dung cam kết của các bên như thế nào và việc đặt cọc nhằm bảo đảm giao kết hay thực hiện hợp đồng nào.
Ngược lại, nếu người bán biết rõ đất đang có vấn đề nhưng vẫn cung cấp thông tin không đúng, cam kết rằng đất hoàn toàn đủ điều kiện và sau khi nhận tiền cọc lại không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết thì việc xử lý tiền cọc phải được xem xét trên cơ sở chính hành vi và nghĩa vụ của bên nhận cọc. Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì về nguyên tắc phải trả lại tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Tuy nhiên, cũng không nên hiểu rằng cứ hợp đồng chuyển nhượng không thực hiện được thì người mua mặc nhiên được nhận tiền cọc và tiền phạt cọc. Nếu chính người đặt cọc từ chối giao kết hợp đồng mà không thuộc trường hợp do lỗi của bên bán hoặc không có căn cứ khác theo thỏa thuận thì hậu quả có thể ngược lại: tiền đặt cọc có thể thuộc về bên nhận đặt cọc theo quy định của Điều 328 Bộ luật Dân sự.
Đặc biệt, đối với giao dịch đất đai, việc xác định lỗi của các bên có ý nghĩa rất quan trọng. Một thửa đất có thể chưa đủ điều kiện chuyển nhượng tại thời điểm ký đặt cọc nhưng các bên lại thỏa thuận rõ rằng sau khi hoàn tất thủ tục thì mới ký hợp đồng chuyển nhượng. Trong trường hợp này, không thể chỉ nhìn vào tình trạng pháp lý của thửa đất tại thời điểm đặt cọc để kết luận ngay rằng người mua được quyền hủy bỏ thỏa thuận và yêu cầu trả lại tiền.
Ngược lại, nếu người bán cam kết rằng mình có đầy đủ quyền đối với đất, đất đủ điều kiện giao dịch nhưng thực tế lại đang bị kê biên, đang có tranh chấp hoặc thuộc trường hợp không được thực hiện quyền chuyển nhượng thì đây lại là vấn đề khác. Khi đó, cần xem xét trách nhiệm của người bán đối với cam kết đã đưa ra cũng như hậu quả của việc không thực hiện được hợp đồng.
Một vấn đề nữa thường gây tranh cãi là trường hợp hai bên chỉ lập một tờ giấy viết tay với nội dung “đặt cọc mua đất”, trong đó có ghi rõ số tiền, diện tích, giá bán, thời hạn ký hợp đồng và các điều kiện liên quan. Tờ giấy này không phải là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Vì vậy, khi xảy ra tranh chấp, Tòa án cần xác định đúng bản chất của văn bản: đây là thỏa thuận đặt cọc để bảo đảm giao kết hợp đồng trong tương lai hay các bên đã thực sự thỏa thuận việc chuyển quyền sử dụng đất nhưng gọi tên văn bản là “giấy đặt cọc”.
Việc xác định đúng bản chất của giao dịch có thể quyết định hoàn toàn hướng giải quyết tranh chấp. Nếu là quan hệ đặt cọc thì trọng tâm là nghĩa vụ giao kết, thực hiện hợp đồng và lỗi của bên làm cho hợp đồng không được giao kết hoặc không được thực hiện. Nếu thực chất các bên đã xác lập giao dịch chuyển quyền sử dụng đất thì phải tiếp tục xem xét các điều kiện có hiệu lực của giao dịch và điều kiện thực hiện quyền theo pháp luật đất đai.
Luật Đất đai năm 2024 cũng cho thấy pháp luật không phải lúc nào cũng xử lý theo hướng phủ nhận hoàn toàn giao dịch chỉ vì thủ tục về đất đai chưa được hoàn tất. Nghị định 101/2024/NĐ-CP còn quy định một số trường hợp người đang sử dụng đất do nhận quyền sử dụng đất trước đây nhưng chưa thực hiện thủ tục đăng ký vẫn có thể thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận nếu đáp ứng các điều kiện luật định. Điều này cho thấy khi giải quyết tranh chấp đất đai, cần xem xét toàn bộ quá trình hình thành, sử dụng và thực hiện giao dịch chứ không nên chỉ căn cứ vào việc tại một thời điểm nào đó thủ tục đăng ký chưa hoàn tất.
Vì vậy, khi đặt cọc mua đất, điều quan trọng không chỉ là ghi rõ số tiền đặt cọc. Người mua cần kiểm tra tình trạng pháp lý của thửa đất, người đứng tên Giấy chứng nhận, tình trạng tranh chấp, kê biên, thời hạn sử dụng đất và khả năng thực hiện thủ tục đăng ký. Đồng thời, giấy đặt cọc cũng cần thể hiện rõ thời hạn ký hợp đồng, trách nhiệm của từng bên nếu không thể giao kết hợp đồng và trường hợp nào được trả lại tiền cọc, trường hợp nào phải chịu phạt cọc.

ĐIỀU KIỆN CẦN VÀ ĐỦ ĐỂ MỘT NGƯỜI ĐANG BỊ TẠM GIAM ĐƯỢC TẠI NGOẠIKhông ít người cho rằng chỉ cần có đơn xin bảo lãnh, có ...
19/08/2026

ĐIỀU KIỆN CẦN VÀ ĐỦ ĐỂ MỘT NGƯỜI ĐANG BỊ TẠM GIAM ĐƯỢC TẠI NGOẠI

Không ít người cho rằng chỉ cần có đơn xin bảo lãnh, có người thân đứng ra cam kết hoặc nộp tiền bảo đảm thì chắc chắn sẽ được tại ngoại. Nhưng thực tế không đơn giản như vậy. Căn cứ pháp lý Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, có thể hiểu tạm giam là một trong các biện pháp ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng minh người bị buộc tội sẽ gây khó khăn trong việc điều tra, truy tố và xét xử hoặc người bị buộc tội sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án. Tạm giam không phải là biện pháp ngăn chặn bắt buộc trong mọi vụ án. Khi xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam, cơ quan tiến hành tố tụng có thể thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Để một người đang bị tạm giam được tại ngoại, cần hội đủ một điều kiện cần và một điều kiện đủ.

Để được xem xét tại ngoại, trước hết người bị tạm giam phải thuộc trường hợp pháp luật cho phép áp dụng biện pháp ngăn chặn thay thế. Việc cho tại ngoại chỉ được đặt ra khi có căn cứ cho thấy người đó sẽ không bỏ trốn, không tiếp tục phạm tội, không tiêu hủy, che giấu hoặc làm sai lệch chứng cứ, không mua chuộc hay đe dọa người làm chứng, người bị hại và không cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án. Tuy nhiên, đây mới chỉ là điều kiện cần. Yếu tố quyết định là cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải đánh giá rằng việc tiếp tục tạm giam không còn cần thiết. Vì vậy, việc có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, gia đình bảo lãnh, công việc ổn định, nhiều giấy khen hay đang mắc bệnh chỉ là những tình tiết để xem xét, chứ không đồng nghĩa chắc chắn sẽ được tại ngoại. Nếu cơ quan tiến hành tố tụng nhận thấy việc tạm giam vẫn cần thiết để bảo đảm giải quyết đúng đắn vụ án thì vẫn có quyền từ chối yêu cầu.

Ví dụ, một người bị khởi tố về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ do gây tai nạn làm bị thương người khác nhưng đã thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại, có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự và toàn bộ chứng cứ đã được thu thập đầy đủ, không còn nguy cơ tác động đến quá trình giải quyết vụ án thì cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét thay thế tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm. Ngược lại, nếu người bị khởi tố là giám đốc doanh nghiệp trong một vụ án sản xuất, buôn bán hàng giả, dù gia đình có đơn bảo lĩnh hoặc đề nghị đặt số tiền lớn để bảo đảm nhưng vụ án vẫn còn nhiều đồng phạm, chứng cứ đang được thu thập và có nguy cơ tác động đến người làm chứng hoặc tiêu hủy tài liệu thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có căn cứ tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam và không chấp nhận yêu cầu xin tại ngoại.

Trong nhiều vụ án, có những bị can được tại ngoại ngay từ giai đoạn điều tra. Nhưng cũng có những vụ, mặc dù gia đình đã chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, có nhiều tổ chức, cá nhân uy tín đứng ra bảo lĩnh, song cơ quan tiến hành tố tụng vẫn quyết định tiếp tục tạm giam vì xét thấy việc này là cần thiết để bảo đảm giải quyết khách quan, toàn diện vụ án. Do đó, khi làm thủ tục xin tại ngoại, điều quan trọng nhất không phải là viết một lá đơn thật hay, mà là chứng minh được rằng người bị tạm giam không còn gây ra bất kỳ nguy cơ nào đối với quá trình giải quyết vụ án. Khi những căn cứ đó đủ sức thuyết phục, khả năng được chấp nhận sẽ cao hơn rất nhiều. Vì vậy, trước khi làm đơn xin bảo lĩnh gia đình nên trao đổi với luật sư để đánh giá đầy đủ tính chất vụ án, giai đoạn tố tụng và các yếu tố pháp lý liên quan. Một hồ sơ được chuẩn bị đúng hướng không bảo đảm chắc chắn được tại ngoại, nhưng sẽ giúp cơ quan có thẩm quyền có thêm căn cứ để xem xét một cách khách quan và toàn diện. Tại ngoại không phải là quyền đương nhiên của người bị tạm giam. Đó là quyết định tố tụng được đưa ra khi cơ quan có thẩm quyền thấy rằng việc tiếp tục tạm giam không còn cần thiết. Hiểu đúng quy định sẽ giúp người dân bảo vệ quyền lợi của mình bằng con đường pháp luật, thay vì kỳ vọng vào những điều pháp luật không quy định.

XÁC ĐỊNH THÔNG TIN CHA, MẸ KHI ĐĂNG KÝ KHAI SINH - NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN LƯU Đăng ký khai sinh không chỉ là thủ tục h...
11/08/2026

XÁC ĐỊNH THÔNG TIN CHA, MẸ KHI ĐĂNG KÝ KHAI SINH - NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN LƯU

Đăng ký khai sinh không chỉ là thủ tục hành chính nhằm ghi nhận sự ra đời của một cá nhân mà còn là quá trình xác lập những thông tin nhân thân có ý nghĩa pháp lý lâu dài, trong đó có thông tin về cha và mẹ. Trong những trường hợp thông thường, việc xác định cha, mẹ của trẻ tương đối đơn giản. Tuy nhiên, khi cha mẹ không đăng ký kết hôn, cha chưa nhận con, quan hệ cha con có tranh chấp, người mẹ đang trong thời kỳ hôn nhân nhưng sinh con với người khác, hoặc quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, việc xác định thông tin cha, mẹ trên Giấy khai sinh có thể phát sinh nhiều vấn đề cần được giải quyết đồng thời theo Luật Hộ tịch năm 2014 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Điểm xuất phát của vấn đề là quyền được khai sinh của trẻ. Khoản 1 Điều 30 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cá nhân từ khi sinh ra có quyền được khai sinh. Luật Hộ tịch năm 2014 quy định đăng ký khai sinh là trách nhiệm của cha, mẹ và những người có liên quan, đồng thời xác định các thông tin về người được khai sinh, cha và mẹ là nội dung của đăng ký khai sinh. Tuy nhiên, việc pháp luật yêu cầu đăng ký các thông tin về cha, mẹ không có nghĩa trong mọi trường hợp phải có đầy đủ tên của cả cha và mẹ ngay tại thời điểm đăng ký khai sinh. Pháp luật đồng thời dự liệu nhiều tình huống khác nhau tùy thuộc vào việc quan hệ cha, mẹ, con đã được xác lập hay chưa.

Trong trường hợp tại thời điểm đăng ký khai sinh chưa xác định được cha của trẻ, pháp luật hộ tịch cho phép đăng ký khai sinh mà phần thông tin về cha được để trống. Khoản 2 Điều 15 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định nếu chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh, phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh để trống. Đây là một quy định có ý nghĩa bảo đảm quyền được khai sinh của trẻ, bởi việc chưa xác định được cha không thể trở thành lý do khiến trẻ không được đăng ký khai sinh. Quan hệ cha con có thể được xác lập sau đó thông qua thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con nếu đáp ứng các điều kiện theo pháp luật.

Tuy nhiên, quy định về việc để trống thông tin cha không thể được hiểu theo nghĩa người mẹ có quyền tùy ý quyết định có ghi hay không ghi tên một người vào Giấy khai sinh. Muốn xác định nội dung khai sinh trước hết phải xác định tình trạng pháp lý của quan hệ cha, mẹ, con. Đây là điểm mà pháp luật hộ tịch phải được đọc cùng với các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Đáng chú ý nhất là Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về xác định cha, mẹ cho con. Khoản 1 Điều 88 quy định con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Trường hợp con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân thì cũng được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Đây là một cơ chế suy đoán pháp lý nhằm xác lập quan hệ cha con trên cơ sở tình trạng hôn nhân của người mẹ.

Quy định này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc đăng ký khai sinh. Trong trường hợp người mẹ đang có chồng, việc xác định thông tin người cha không thể chỉ dựa vào câu trả lời của người mẹ về việc ai là cha sinh học của đứa trẻ. Nếu đứa trẻ được sinh trong thời kỳ hôn nhân hoặc thuộc trường hợp 300 ngày sau khi hôn nhân chấm dứt, pháp luật đã đặt ra căn cứ để xác định người chồng là cha của trẻ. Khi đó, nếu có người cho rằng người chồng không phải cha của trẻ thì vấn đề cần giải quyết không còn đơn thuần là thủ tục khai sinh mà liên quan đến việc xác định hoặc phủ nhận quan hệ cha con.

Khoản 2 Điều 88 quy định khi cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định. Điều 89 tiếp tục quy định về quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con: người được nhận là cha, mẹ có quyền yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình; người không được nhận là cha, mẹ có quyền yêu cầu Tòa án xác định mình là cha, mẹ của người đó. Những quy định này cho thấy pháp luật phân biệt rõ giữa việc đăng ký một thông tin hộ tịch và việc xác lập hoặc phủ nhận một quan hệ nhân thân. Khi quan hệ cha con đã có căn cứ pháp lý hoặc đang có tranh chấp, thủ tục hộ tịch không thể được sử dụng để thay thế cho cơ chế xác định cha, mẹ, con theo pháp luật hôn nhân và gia đình.

Ngược lại, trong trường hợp không có căn cứ pháp lý xác định cha và cũng không có tranh chấp, pháp luật tạo điều kiện để người cha sinh học thực hiện thủ tục nhận con. Điều 14 Thông tư số 04/2020/TT-BTP quy định về chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con, trong đó có văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận quan hệ cha con, mẹ con. Trường hợp không có chứng cứ theo quy định, pháp luật còn cho phép sử dụng văn bản cam đoan về quan hệ cha, mẹ, con cùng với người làm chứng trong những trường hợp đáp ứng điều kiện luật định. Điều 15 Thông tư này cũng quy định việc đăng ký khai sinh có thể được kết hợp với đăng ký nhận cha, mẹ, con trong trường hợp đáp ứng điều kiện.

Một vấn đề khác cần lưu ý là sự khác nhau giữa cha sinh học và cha pháp lý. Người có quan hệ huyết thống với trẻ chưa đương nhiên trở thành cha về mặt pháp lý nếu quan hệ cha con chưa được xác lập theo quy định của pháp luật. Ngược lại, trong trường hợp thuộc cơ chế suy đoán của Điều 88, người chồng có thể được xác định là cha về mặt pháp lý dù sau đó phát sinh vấn đề về quan hệ huyết thống. Vì vậy, kết quả giám định huyết thống có thể là chứng cứ quan trọng trong việc xác định quan hệ cha con, nhưng không phải trong mọi trường hợp chỉ cần có kết quả ADN là có thể trực tiếp thay đổi thông tin trên Giấy khai sinh. Việc thay đổi địa vị pháp lý của người cha phải được thực hiện theo đúng thủ tục mà pháp luật quy định.

Đối với quan hệ cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài, cần đồng thời xem xét các quy định tại Chương VIII Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 121 xác định nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên; Điều 122 quy định về pháp luật áp dụng; Điều 123 quy định về thẩm quyền giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Điều 124, Điều 125 liên quan đến giá trị pháp lý và việc công nhận, ghi chú các giấy tờ, bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài. Riêng Điều 128 quy định về pháp luật áp dụng đối với việc xác định cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, khi cha hoặc mẹ là người nước ngoài, cần xác định tình trạng hôn nhân, nơi đăng ký kết hôn, nơi cư trú, thời điểm sinh con và các giấy tờ liên quan trước khi xác định thông tin cha, mẹ trên Giấy khai sinh.

Chẳng hạn, một phụ nữ Việt Nam đã đăng ký kết hôn với một người Trung Quốc nhưng sau đó về Việt Nam sinh sống với một người đàn ông khác và sinh con. Việc hai vợ chồng không còn chung sống không làm hôn nhân đương nhiên chấm dứt. Nếu tại thời điểm sinh con quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại thì phải xem xét Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình về căn cứ xác định người chồng là cha của trẻ. Muốn xác lập người đàn ông khác là cha thì phải giải quyết quan hệ cha, mẹ, con theo đúng trình tự pháp luật, đặc biệt trong trường hợp người chồng không thừa nhận hoặc phát sinh tranh chấp.

Trường hợp không có tranh chấp và người cha sinh học tự nguyện nhận con, việc nhận cha, con có thể được thực hiện theo thủ tục hộ tịch nếu có đủ căn cứ chứng minh quan hệ cha con. Trường hợp có tranh chấp hoặc cần phủ nhận quan hệ cha con đã được pháp luật suy đoán, vấn đề phải được giải quyết theo cơ chế xác định cha, mẹ, con, trong đó Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình trao quyền cho các bên yêu cầu Tòa án xác định hoặc phủ nhận quan hệ cha, con. Như vậy, việc đăng ký khai sinh phải được đặt trong mối quan hệ với tình trạng pháp lý của cha, mẹ, con; không thể chỉ căn cứ vào việc ai là cha sinh học hoặc ý chí của người mẹ để lựa chọn thông tin ghi trên Giấy khai sinh.

Trong thực tiễn, ranh giới giữa các trường hợp này có thể được nhìn thấy qua một tình huống cụ thể. Chẳng hạn, một phụ nữ Việt Nam đã đăng ký kết hôn với một người Trung Quốc nhưng sau đó về Việt Nam sinh sống với một người đàn ông khác và sinh con. Nếu tại thời điểm sinh con, quan hệ hôn nhân với người chồng Trung Quốc vẫn tồn tại về mặt pháp lý thì không thể chỉ căn cứ vào việc người đàn ông đang chung sống với người mẹ mới là cha sinh học để bỏ qua Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình. Cần xác định tình trạng hôn nhân, thời điểm sinh con và có hay không có tranh chấp về quan hệ cha con. Nếu người mẹ hoặc người đàn ông đang chung sống muốn phủ nhận quan hệ cha con của người chồng và xác lập người khác là cha, thì phải giải quyết vấn đề này theo cơ chế xác định cha, mẹ, con chứ không đơn thuần bằng việc yêu cầu cơ quan hộ tịch để trống tên cha.

Trường hợp này cũng cho thấy cần phân biệt giữa tình trạng thực tế và tình trạng pháp lý của quan hệ hôn nhân. Việc vợ chồng không còn chung sống, sống xa nhau hoặc một bên đã chung sống với người khác không đồng nghĩa với việc hôn nhân đã chấm dứt. Nếu chưa có căn cứ pháp lý làm chấm dứt hôn nhân thì vẫn phải xem xét cơ chế suy đoán cha được quy định tại Điều 88. Tương tự, nếu người mẹ đã ly hôn thì cũng không thể chỉ dựa vào ngày ly hôn để kết luận người chồng cũ không còn liên quan đến việc xác định cha, bởi Điều 88 còn đặt ra mốc 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân.

Một vấn đề khác cũng cần lưu ý là sự khác nhau giữa cha sinh học và cha pháp lý. Người có quan hệ huyết thống với trẻ chưa đương nhiên trở thành cha về mặt pháp lý nếu quan hệ cha con chưa được xác lập theo quy định. Ngược lại, trong trường hợp thuộc cơ chế suy đoán của Điều 88, người chồng có thể được xác định là cha về mặt pháp lý dù sau đó phát sinh vấn đề về quan hệ huyết thống. Vì vậy, kết quả giám định huyết thống có thể là chứng cứ quan trọng nhưng không phải trong mọi trường hợp chỉ cần có kết quả ADN là có thể trực tiếp thay đổi thông tin trên Giấy khai sinh. Việc thay đổi địa vị pháp lý của người cha phải được thực hiện theo đúng thủ tục mà pháp luật quy định.

Từ những quy định trên có thể thấy, thông tin cha, mẹ trên Giấy khai sinh không phải là một nội dung có thể xác định hoàn toàn theo ý chí của người đi đăng ký. Cơ quan hộ tịch phải căn cứ vào tình trạng pháp lý của quan hệ cha, mẹ, con tại thời điểm đăng ký. Có trường hợp thông tin cha chưa được xác lập nên được để trống; có trường hợp cha có thể được xác định ngay thông qua thủ tục nhận cha, con; cũng có trường hợp phải giải quyết tranh chấp về quan hệ cha con trước khi có thể xác định chính xác thông tin cần ghi nhận.

Vì vậy, khi xem xét một trường hợp khai sinh có vấn đề về thông tin cha, mẹ, không nên bắt đầu và cũng không nên dừng lại ở câu hỏi “Giấy khai sinh có bắt buộc phải có tên cha hay không?”. Câu hỏi quan trọng hơn là quan hệ cha, mẹ, con đã được pháp luật xác lập như thế nào tại thời điểm đăng ký khai sinh, và việc xác định hoặc thay đổi thông tin đó thuộc thẩm quyền của cơ quan hộ tịch hay cần có sự can thiệp của Tòa án? Từ câu trả lời này mới có thể xác định đúng thủ tục khai sinh, thủ tục nhận cha, mẹ, con hoặc thủ tục xác định, phủ nhận quan hệ cha, mẹ, con.

Xét cho cùng, mục tiêu của pháp luật không phải là buộc mọi Giấy khai sinh phải có đủ tên cha và mẹ trong mọi hoàn cảnh, mà là bảo đảm hai yêu cầu song song: trẻ em phải được đăng ký khai sinh và các thông tin nhân thân được ghi nhận phải phù hợp với tình trạng pháp lý thực tế. Việc chưa xác định được cha không làm mất quyền được khai sinh của trẻ; nhưng ngược lại, việc một người không muốn ghi tên cha cũng không thể tự thân làm mất đi một quan hệ cha con mà pháp luật đã xác lập hoặc suy đoán. Chính sự kết hợp giữa Luật Hộ tịch và Luật Hôn nhân và gia đình là cơ sở để giải quyết cân bằng hai yêu cầu này.

Address

Lê Trọng Tấn
Da Nang

Opening Hours

Monday 07:30 - 17:30
Tuesday 07:30 - 17:30
Wednesday 07:30 - 17:30
Thursday 07:30 - 17:30
Friday 07:30 - 17:30
Saturday 07:30 - 11:30

Telephone

+84905145585

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật sư Newton posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Luật sư Newton:

Shortcuts

Share