30/01/2024
CÁCH XÁC ĐỊNH TÀI SẢN RIÊNG HAY TÀI SẢN CHUNG VỢ CHỒNG KHI SỔ NHÀ ĐẤT/CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE ĐỨNG TÊN MỘT NGƯỜI VỢ HOẶC CHỒNG
Chắc hẳn ai đã từng tham gia thực hiện các hợp đồng sang tên chuyển quyền tài sản cũng có thắc mắc:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở … (gọi chung là sổ đỏ) đứng tên ai là của người ấy cũng như xe ô tô, xe máy có giấy Chứng nhận đăng ký xe đứng tên ai là của người ấy, nếu dùng xe giấy tờ mang tên người khác (kể cả vợ/chồng) cũng là xe không chính chủ (!) Vậy tại sao Văn phòng Công chứng (VPCC) lại yêu cầu người vợ (chồng) không có tên trên sổ đỏ/đăng ký xe phải cùng ký vào hợp đồng/giao dịch tài sản (chuyển nhượng, mua bán, tặng cho, thế chấp …) và yêu cầu các thủ tục xác nhận về hôn nhân, giấy đăng ký kết hôn … quá rườm rà vậy?!
- Ở một số tỉnh/thành các trường hợp sổ đỏ/đăng ký xe mang tên cá nhân ai thì người đó có toàn quyền định đoạt, thực hiện các giao dịch … mà không cần người hôn phối cùng ký.
Xin trao đổi một số ý kiến như sau:
Quyền tài sản của cá nhân, tổ chức … được pháp luật bảo vệ. Không chỉ giữa các cá nhân, tổ chức ngoài xã hội với nhau được pháp luật bảo vệ mà ngay giữa các cá nhân trong gia đình (vợ/chồng; cha, mẹ/con cái; ông bà/cháu chắt; anh chị em …) ngoài các văn bản luật chung còn có Luật Hôn nhân và gia đình quy định chi tiết.
Công chứng viên chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch theo đúng quy định pháp luật. Do vậy nhiệm vụ của Công chứng viên trong trường hợp này phải xác định chính xác, đầy đủ ai có quyền định đoạt tài sản và tham gia giao dịch.
A. TRƯỜNG HỢP XÁC ĐỊNH LÀ TÀI SẢN CHUNG VỢ CHỒNG
Căn cứ khoản 4, Điều 98 Luật Đất đai 2013 thì nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với vợ chồng được quy định như sau:
“4. Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người.
Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu.”
Tuy nhiên, có các sổ đỏ cấp những năm trước khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực chỉ ghi tên một cá nhân và không thể hiện đó là tài sản riêng của người đó thì căn cứ vào đâu để xác định đó là tài sản chung vợ chồng?
Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 như sau:
“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”
Điều 26 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về trường hợp đại diện giữa vợ và chồng khi giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng:
“1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản chung có giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên vợ hoặc chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 24 và Điều 25 của Luật này.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi.”
Như vậy, quyền sử dụng đất là tài sản tạo lập trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của hai vợ chồng nên sổ đỏ phải ghi cả tên vợ và chồng. Trường hợp hai vợ chồng có văn bản thỏa thuận chỉ ghi tên vợ hoặc chồng thì trên sổ đỏ sẽ ghi tên người ấy. Ngược lại, nếu chỉ ghi mỗi tên vợ hoặc chồng đứng tên nhưng khi cấp đổi có thể ghi cả tên vợ và chồng (nếu có văn bản thỏa thuận lại).
Do vậy, nếu sổ đỏ, sổ hồng được cấp trong thời kỳ hôn nhân (sau khi kết hôn) DÙ ĐỨNG TÊN MỘT NGƯỜI vợ hoặc chồng NẾU KHÔNG GHI LÀ ĐƯỢC TẶNG CHO, THỪA KẾ RIÊNG HOẶC CHỨNG CỨ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN RIÊNG THÌ ĐỀU LÀ TÀI SẢN CHUNG VỢ CHỒNG. Trong Luật Đất đai không có nội dung nào quy định sổ đỏ đứng tên một người thì là tài sản riêng của một người như chúng ta đã nghĩ.
Xe máy, xe ô tô, tàu thuyền, thiết bị cơ giới máy móc khác… theo quy định pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu tuy chỉ đăng ký tên một cá nhân nhưng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân (nếu không có thỏa thuận khác hoặc không trong trường hợp được xác nhận là tài sản riêng) thì đều là tài sản chung vợ chồng.
B. TRƯỜNG HỢP XÁC ĐỊNH LÀ TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ HOẶC CHỒNG.
Về chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:
“1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”
Như vậy, theo Luật HNGĐ đã viện dẫn ở trên thì sổ đỏ, sổ hồng đứng tên một người (vợ hoặc chồng); xe ô tô, xe máy…tên chủ xe là cá nhân (một) người vợ/chồng nhưng được tạo lập (ngày đăng ký) trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân mà nguồn gốc là được tặng cho hay được nhận thừa kế, được tạo lập bằng tiền riêng (không phải tiền lương, thưởng hay thu nhập hàng ngày, hàng tháng của người đó) thì đó là tài sản riêng.
Trường hợp người vợ hoặc chồng nhận chuyển nhượng QSDĐ/mua nhà/mua xe… từ số tiền bố mẹ đẻ cho riêng hoặc từ việc bán của hồi môn riêng, nếu khi ký kết hợp đồng (nhận chuyển nhượng/mua… ) một mình kèm theo văn bản của chồng hoặc vợ mình xác nhận là tài sản riêng thì trên giấy chứng nhận (sổ đỏ) ghi tên một người đó và khi giao dịch (thế chấp, chuyển nhượng, tặng cho…) thì không cần sự đồng ý của người kia (chồng/vợ).
Trường hợp người vợ hoặc chồng nhận chuyển nhượng QSDĐ hoặc mua nhà/mua xe… mà hai vợ chồng làm Văn bản thỏa thuận về việc xác lập tài sản riêng của một người trước khi người đó giao kết hợp đồng thì tài sản đó là tài sản riêng.
C. MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG KHÔNG BẮT BUỘC NGƯỜI VỢ/CHỒNG PHẢI CÙNG KÝ HĐGD ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN LÀ XE MÁY, TÀI SẢN GIÁ TRỊ NHỎ ..
Như một số khách hàng thắc mắc tại sao có tình trạng không thống nhất giữa các địa phương (cấp tỉnh) về việc này.
Theo quy định của pháp luật thì xe máy, ô tô… làm thủ tục đăng ký và cấp giấy chứng nhận đăng ký cho cá nhân đang có vợ/chồng thì chỉ cần làm thủ tục một người và cấp chứng nhận đăng ký xe cho người đó. Nhưng khi định đoạt (mua bán, tặng cho, thừa kế, góp vốn …) thì phải xác định tài sản riêng hay tài sản chung vợ chồng (như nói trên đây). Từ đó mới xác định chính xác, đầy đủ chủ thể tham gia hợp đồng giao dịch.
Tuy nhiên có một số địa phương coi xe máy và một số tài sản khác thuộc vật dụng sử dụng riêng của cá nhân (vì gắn liền với cá nhân hàng ngày được vợ chồng và các thành viên khác mặc nhiên thừa nhận) nên có văn bản quy định/hướng dẫn về việc này. Cho nên ở các địa phương đó các thủ tục hành chính, pháp lý; các giao dịch dân sự… đều chấp nhận chỉ chủ thể có tên trên giấy chứng nhận đăng ký là đủ. Không yêu cầu các giấy tờ như: đăng ký kết hôn, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ….v..v.
Còn một số địa phương khi cấp giấy chứng nhận về nhà đất hoặc cập nhật đăng ký biến động sang người khác có ghi rõ hoặc ký hiệu là tài sản riêng thì khi định đoạt tài sản, chủ sở hữu tài sản (bao gồm cả QSDĐ) không phải qua thủ tục giấy tờ để xác định tài sản chung – riêng.
Hy vọng qua phân tích trên đây, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về chế định tài sản chung của vợ chồng, qua đó thuận lợi hơn trong quá trình thực hiện quyền đối với tài sản của mình.