Văn Phòng Luật Sư Thanh Liêm

ĐIỀU KIỆN CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI ĐƯỢC SỞ HỮU NHÀ Ở TẠI VIỆT NAM          Luật nhà ở 2014 đã mở rộng cho đối tượng người nư...
05/01/2016

ĐIỀU KIỆN CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI ĐƯỢC SỞ HỮU NHÀ Ở TẠI VIỆT NAM
Luật nhà ở 2014 đã mở rộng cho đối tượng người nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua các hình thức:
1/ Đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan;
2/ Mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ.
Như vậy người nước ngoài theo quy định mới của Luật nhà ở 2014 thì được phép mua, thuê mua nhà ở trong chung cư và nhà ở riêng lẽ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thuộc sở hữu của chính mình.

Văn Phòng Luật Sư Thanh Liêm nhận soạn thảo tất cả các loại đơn cho khách hàng trên cả nước. Điển hình một số loại như:+...
01/12/2015

Văn Phòng Luật Sư Thanh Liêm nhận soạn thảo tất cả các loại đơn cho khách hàng trên cả nước. Điển hình một số loại như:
+ Đơn Ly hôn: Đơn xin ly hôn (Đơn khởi kiện về việc xin ly hôn), Đơn thuận tình ly hôn, Đơn khởi kiện về việc chia tài sản sau khi ly hôn, ....
+ Đơn Yêu cầu: Đơn yêu cầu hòa giải, Đơn yêu cầu ngăn chặng, Đơn yêu cầu tuyên bố vắng mặt, Đơn yêu cầu tuyên bố mất tích,....
+ Đơn khởi kiện: Đơn khởi kiện về việc tranh chấp đất đai, Đơn khởi kiện về việc đòi nợ, đòi tài sản, Đơn khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng mua bán đất, cho thuê tài sản, .....
+ Các loại giấy tờ về việc làm sổ hộ khẩu mới, giấy tờ liên quan đến việc tạm trú: Phiếu khai hộ khẩu nhân khẩu, Thông báo về việc tách, nhập hộ khẩu,....
+ Và các loại giấy tờ khác.
Về việc chi phí đơn khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp để được biết cụ thể. Liên hệ qua Email và số điện thoại trên tranh Website.
Khách hàng có nhu cầu thì chỉ cần làm theo 03 bước đảm bảo sẽ nhận được kết quả sớm nhất:
- Bước 1: Gửi các tài liệu qua Email, chụp hình gửi trực tiếp qua điện thoại, gửi qua đường bưu điện....
- Bước 2: Cung cấp những yêu cầu của khách hàng đối với vụ việc của mình.
- Bước 3: Văn Phòng sẽ chuyển đơn vào Email, qua đường bưu điện, bằng các hình thức khá mà khách hàng nhận được sớm nhất và bảo đảm đơn sẽ tới nơi.

16/10/2015

ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 75 Luật đất đai 2013, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà bị Nhà nước thu hồi vì mục đích Quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng thì được bồi thường về đất trong trường hợp:
“Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này;..”.
Hộ gia đình, cá nhân được bồi thường khi bị Nhà nước thu hồi đất nếu đáp ứng được một trong các điều kiện sau:
- Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 100, 101 Luật đất đai 2014.
- Có một trong các loại giấy tờ được quy định tại Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP.
- Có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 15 Thông tư 02/2015/TT-BTNMT.
Ngoài việc bồi thường được bồi thường về đất, khi bị thu hồi đất, cá nhân, hộ gia đình còn có thể được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của nhà nước theo quy định tại Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

16/10/2015

ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Theo quy định tại khoản 1 điều 100 Luật đất đai 2013, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau thì được cấp GCNQSDĐ và không phải nộp tiền sử dụng đất:
“Khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai 2013
a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;
d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;
e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất, bao gồm:
- Bằng khoán điền thổ
- Văn tự đoạn mãi bất động sản (gồm nhà ở và đất ở) có chứng nhận của cơ quan thuộc chế độ cũ.
- Văn tự mua bán nhà ở, tặng cho nhà ở, đổi nhà ở, thừa kế nhà ở mà gắn liền với đất ở có chứng nhận của cơ quan thuộc chế độ cũ
- Bản án của cơ quan Tòa án của chế độ cũ đã có hiệu lực thi hành. ...
g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ, bao gồm:
- Sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước ngày 18 tháng 12 năm 1980.
- Một trong các giấy tờ được lập trong quá trình thực hiện đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị số 299-TTg ngày 10 tháng 11 năm 1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước do cơ quan nhà nước đang quản lý
- Giấy tờ có nội dung về quyền sở hữu nhà ở, công trình; về việc xây dựng, sửa chữa nhà ở, công trình được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, xây dựng chứng nhận hoặc cho phép
- Giấy tờ tạm giao đất của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh; Đơn đề nghị được sử dụng đất được Ủy ban nhân dân cấp xã, hợp tác xã nông nghiệp phê duyệt, chấp thuận trước ngày 01 tháng 7 năm 1980 hoặc được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh phê duyệt, chấp thuận....
Trường hợp không có các loại giấy tờ quy định tại điều 100 nêu trên, hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01/7/2004 mà không vi phạm pháp luật đất đai nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Không vi phạm pháp luật đất đai thuộc các trường hợp như không lấn, chiếm đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng như giao thông, đê điều, hệ thống thoát nước hay sử dụng đất sai mục đích…).
Căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định được quy định cụ thể tại điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP.
Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục đăng ký đất, xin cấp GCNQSDĐ, đăng ký biến động đất đai, cấp lại, đính chính lại GCNQSDĐ được quy định chi tiết cụ thể tại Điều 8,9,10 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT quy định cụ thể về hồ sơ địa chính.

MUA BÁN CHUYỂN NHƯỢNG ĐẤT VIẾT TAY, CÓ ĐƯỢC PHÁP LUẬT CÔNG NHẬN?Theo quy định của pháp luật hiện hành đối với những hợp ...
16/10/2015

MUA BÁN CHUYỂN NHƯỢNG ĐẤT VIẾT TAY, CÓ ĐƯỢC PHÁP LUẬT CÔNG NHẬN?
Theo quy định của pháp luật hiện hành đối với những hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất bắt buộc hợp đồng phải được công chứng thì mới có giá trị pháp lý. Tuy nhiên trước đây do chính sách quản lý đất đai của nhà nước còn chưa được tốt, vẫn còn rất nhiều trường hợp mua bán đất đai bằng hình thức viết tay, không có xác nhận của chính quyền địa phương, ủy ban nhân dân xã, thậm chí thửa đất còn chưa có giấy tờ nhưng các bên vẫn “mua bán” với nhau bằng hình thức này.
Về nguyên tắc, những giao dịch này đều không được công nhận và không có giá trị pháp lý, tuy nhiên vẫn có một số ngoại lệ nhất định, nếu các bên đáp ứng được những điều kiện này thì giao dịch vẫn được coi là hợp pháp.
Cụ thể theo quy định tại điểm b.3 tiểu mục 2.3 Mục 2 của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình thì đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập từ sau ngày 15/10/1993 vi phạm các điều kiện:
- Chưa có giấy tờ chứng nhận về quyền sử dụng đất
- Hợp đồng chuyển nhượng không được lập thành văn bản có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền.
Hợp đồng vi phạm những điều kiện trên vẫn được pháp luật công nhận nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố... và bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì Toà án công nhận hợp đồng.
Đối với những hợp đồng mua bán viết tay, chuyển nhượng được xác lập từ ngày 1/7/1980 đến trước ngày 15/10/1993 đều bị coi là trái pháp luật do pháp luật thời kỳ này nghiêm cấm việc mua, bán phát canh thu tô, chuyển nhượng đất đai dưới mọi hình thức, tuy nhiên vẫn được pháp luật công nhận nếu hợp đồng đã được thực hiện với điều kiện:
- Bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;
- Trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã hoàn tất thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền, Uỷ ban nhân dân đã cho phép việc chuyển nhượng;
- Bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã xây nhà ở, công trình kiến trúc, trồng cây lâu năm, đầu tư sản xuất, kinh doanh không vi phạm qui định về quy hoạch và bên chuyển nhượng cũng không phản đối khi bên nhận chuyển quyền sử dụng đất xây nhà ở, công trình kiến trúc, trồng cây lâu năm, đầu tư sản xuất, kinh doanh trên đất đó.

14/10/2015

CÓ ĐƯỢC CHUYỂN NHƯỢNG NHÀ ĐẤT KHI CHƯA CÓ SỔ.
Theo quy định tại khoản 1 điều 188 Luật đất đai 2013 thì người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
- Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (sổ đỏ)
- Đất không có tranh chấp;
- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
- Trong thời hạn sử dụng đất.
Như vậy, có giấy tờ về nhà đất là một trong những điều kiện để chuyển nhượng, mua bán một mảnh đất hợp pháp. Tuy nhiên, trên thị trường bất động sản trong những năm gần đây tồn tại một số loại giao dịch hợp pháp mà tài sản là đối tượng của giao dịch vẫn chưa được hình thành, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, trong đó có giao dịch liên quan tới việc chuyển nhượng bất động sản hình thành trong tương lai. Thực chất đây là một trong những hình thức huy động vốn từ tiền mua nhà ứng trước của các đối tượng được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam, song cần đáp ứng một số điều kiện theo quy định tại điều 9 Nghị định 71/2010/NĐ-CP hướng dẫn Luật nhà ở 2005:
- Đã có thiết kế kỹ thuật nhà ở được phê duyệt,
- Đã xây dựng xong phần móng của nhà ở,
- Hoàn thành thủ tục mua bán qua sàn giao dịch BĐS theo đúng quy định của pháp luật về kinh doanh BĐS
- Đã thông báo cho Sở Xây dựng nơi có dự án phát triển nhà ở.
Ngoài ra, còn một số trường hợp các bên được phép chuyển nhượng tài sản là quyền sử dụng đất khi chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu như sau:
“ Khoản 1 Điều 168. Thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất
Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì người sử dụng đất được thực hiện quyền sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất”.
“Khoản 3 Điều 186. Quyền và nghĩa vụ về sử dụng đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam
Trường hợp tất cả người nhận thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất đều là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam quy định tại khoản 1 Điều này thì người nhận thừa kế không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng được chuyển nhượng hoặc được tặng cho quyền sử dụng đất thừa kế..”
Mọi giao dịch không thuộc các trường hợp nêu trên, khi chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất mà chưa có giấy chứng nhận (sổ đỏ) đều không được pháp luật công nhận.

14/10/2015

CÁCH XÁC ĐỊNH LOẠI ĐẤT
Việc xác định loại đất đang sử dụng theo quy định tại Điều 11 Luật đất đai 2013 và Nghị định 43/2014/NĐ-Cp dựa trên các căn cứ dưới đây:
1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã được cấp trước ngày 10 tháng 12 năm 2009; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
2. Giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật này đối với trường hợp chưa được cấp Giấy chứng nhận quy định tại khoản 1 Điều này;
3. Quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa được cấp Giấy chứng nhận quy định tại khoản 1 Điều này;
4. Đối với trường hợp không có giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này thì việc xác định loại đất thực hiện theo quy định của Chính phủ:
- Trường hợp đang sử dụng đất ổn định mà không phải do lấn, chiếm, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép thì loại đất được xác định theo hiện trạng đang sử dụng.
- Trường hợp sử dụng đất do lấn, chiếm, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép thì căn cứ vào nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất để xác định loại đất.
- Trường hợp thửa đất đang sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau (không phải là đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất) thì việc xác định loại đất được thực hiện theo quy định sau đây:
a) Trường hợp xác định được ranh giới sử dụng giữa các mục đích sử dụng thì tách thửa đất theo từng mục đích và xác định mục đích theo hiện trạng sử dụng của từng thửa đất đó;
b) Trường hợp không xác định được ranh giới sử dụng giữa các mục đích thì mục đích sử dụng đất chính được xác định theo loại đất hiện trạng có mức giá cao nhất trong bảng giá do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quy định; trường hợp sử dụng đất sau khi có quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất để xác định mục đích chính.
- Trường hợp đất có nhà chung cư có mục đích hỗn hợp được xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, trong đó có một phần diện tích sàn nhà chung cư được sử dụng làm văn phòng, cơ sở thương mại, dịch vụ thì mục đích sử dụng chính của phần diện tích đất xây dựng nhà chung cư được xác định là đất ở.
- Cơ quan xác định loại đất quy định tại các Khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện) đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Trường hợp thu hồi đất thì cơ quan có thẩm quyền xác định loại đất là cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

14/10/2015

TRÌNH TỰ, THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI.
Theo quy định tại Điều 202, Luật đất đai 2013:
“Điều 202
1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.
2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai..”
Như vậy, một trong những điều kiện để Tòa án thụ lý, giải quyết các vụ án tranh chấp về đất đai đó là vụ việc của các bên phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải tại xã, phường trước đó, việc hòa giải này phải được lập thành biên bản. Nếu chưa có biên bản hòa giải thì Tòa án khi tiếp nhận những đơn khởi kiện nêu trên thường không thụ lý, trả lại đơn khởi kiện. Nếu Tòa có thụ lý đơn thì cũng bị coi là vi phạm thủ tục tố tụng và phải đình chỉ vụ án, từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích của các bên do thời gian giải quyết tranh chấp bị kéo dài.
Tuy nhiên theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành BLTTDS thì thủ tục hòa giải trên chỉ áp dụng đối với những trường hợp khởi kiện về tranh chấp xem ai là người có quyền sử dụng đất. Đối với tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,… thì không phải tiến hành hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp mà một trong các bên có thể trực tiếp nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền.
Sau khi hòa giải không thành, người có tranh chấp có thể lựa chọn hình thức khiếu nại lên UBND hoặc khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền. Việc khiếu nại không phải là điều kiện bắt buộc để được khởi kiện và người có tranh chấp có thể khởi kiện trong bất cứ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại.

08/10/2015

5 điểm mới nổi bật của Luật Doanh nghiệp vừa có hiệu lực

Luật Doanh nghiệp đã sửa đổi, bổ sung những quy định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của luật cũ, tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, phù hợp với xu hướng chung của thế giới.

1. Đăng ký kinh doanh

a. Thời gian cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

Theo quy định tại khoản 2 Điều 27 và khoản 3 Điều 31 Luật Doanh nghiệp 2014, thời hạn để cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho các loại hình doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp (chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh) được rút ngắn từ 5 ngày làm việc (theo luật Doanh nghiệp 2005) xuống còn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ.

b. Nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

Theo quy định tại Điều 29 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ còn 4 nội dung chính (Luật Doanh nghiệp 2005 là 10 nội dung chính) là: Tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp; địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; thông tin chi tiết nhân thân của cá nhân là người đại diện theo pháp luật, chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, thành viên công ty và thông tin của thành viên tổ chức; vốn điều lệ của doanh nghiệp.

Theo đó, luật Doanh nghiệp 2014 đã bỏ nội dung ngành, nghề kinh doanh; bỏ việc xác định vốn pháp định và chứng chỉ hành nghề. Điều này đã hiện thực hóa quyền tự do kinh doanh tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm theo quy định tại Hiến pháp 2013. Đồng thời, khi có sự thay đổi ngành, nghề kinh doanh, doanh nghiệp chỉ phải thông bảo với cơ quan đăng ký kinh doanh để được bổ sung trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp mà không phải đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới như luật cũ. Điều này giúp cho các doanh nghiệp không phải mất thời gian và thủ tục để chờ cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp khi muốn bổ sung ngành nghề kinh doanh.

2. Con dấu của doanh nghiệp

Trước đây việc cấp, sử dụng con dấu của doanh nghiệp do Bộ Công an quy định, theo luật Doanh nghiệp 2014 tại Điều 44, doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp. Thay vì phải đăng ký với cơ quan công an như luật cũ, doanh nghiệp chỉ cần thông báo mẫu dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Quy định này giúp doanh nghiệp đỡ phiền hà, tốn kém về chi phí, thời gian và phù hợp với xu thế chung của thế giới.

3. Điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông công ty

Theo quy định tại Điều 141 Luật Doanh nghiệp 2014, điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông chính thức thay đổi theo đúng thông lệ quốc tế khi giảm tỷ lệ dự họp từ 65% (luật Doanh nghiệp 2005) xuống còn 51%. Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành theo đúng kế hoạch của doanh nghiệp, tránh tình trạng phải triệu tập lần thứ 2, lần thứ 3 do không đủ điều kiện.

4. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Khác với luật Doanh nghiệp 2005, Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014 cho phép công ty TNHH và công ty cổ phần có thể tự quyết định, chỉ định một người đại diện theo pháp luật hoặc trong trường hợp cần thiết thì có quyền tự chủ quyết định việc có nhiều người đại diện theo pháp luật.

Số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được quy định cụ thể tại Điều lệ công ty. Đây là quy định hoàn toàn mới mẻ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tận dụng được mọi cơ hội kinh doanh thông qua các đại diện theo pháp luật, đồng thời, gỡ rối cho doanh nghiệp trong các trường hợp: người đại diện duy nhất không hợp tác, không thực hiện các yêu cầu của thành viên/cổ đông trong quá trình quản lý điều hành nội bộ cũng như giao dịch với bên ngoài công ty.

5. Hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp

Theo quy định tại Điều 194, 195 Luật Doanh nghiệp 2014, các công ty có thể hợp nhất, sáp nhập vào nhau để tạo thành một công ty mới mà không bắt buộc phải là “công ty cùng loại” như quy định tại luật cũ. Quy định này là sự đổi mới quan trọng góp phần thúc đẩy thị trường mua bán doanh nghiệp đang hết sức sôi động hiện nay.

07/10/2015

Ly hôn với người mất tích như thế nào?
Danh mục: Thủ tục ly hôn
Pháp luật HNGĐ gần đây tiếp nhận nhiều vụ việc yêu cầu giải quyết ly hôn với người mất tích, Vậy trình tự, thủ tục, và thực trạng giải quyết thường gặp phải khó khăn hay vướng mắc gì?

Bằng nhiều lý do, khách quan hay chủ quan thì sự việc vợ hoặc chồng đang sống chung bình thường đột nhiên mất tích là không hề hiếm gặp. Có thể do mâu thuẫn gia đình, tình cảm rạn nứt, kinh tế khó khăn…một trong hai bên đã lựa chọn việc tìm cho mình một hướng đi khác mà không để lại lời từ biệt…từ đó nhiều hệ quả pháp lý phát sinh liên quan đến quan hệ nhân thân, tài sản, đặc biệt quan hệ hôn nhân của chính người mất tích được đặt ra và yêu cầu ly hôn với người mất tích là yêu cầu bức thiết và chính đáng nhất để người còn lại có thể bắt đầu cuộc hôn nhân có tương lai sau này.

Trải qua một khoảng thời gian nhất định không có tin tức của đối phương, người vợ hoặc chồng của người mất tích có nhu cầu ly hôn với người mất tích cần phải thông qua Tòa án để được yêu cầu giải quyết việc dân sự “yêu cầu tuyên bố một người mất tích”.

Trước đây việc dân sự tuyên bố người mất tích và xin ly hôn với người mất tích được gộp chung vào một vụ án, tuy nhiên theo quy định của pháp luật hiện hành thì phải tách ra làm hai thủ tục riêng biệt. Mặc dù tách làm 2 thủ tục rõ ràng cụ thể, xong cũng chính vì thế lại có nhiều khó khăn cho đương sự bởi không phải ai cũng có điều kiện, hoặc làm đúng, làm đủ theo quy định đó.

Theo quy định tại Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì một trong hai bên là vợ hoặc chồng biệt tích từ sáu tháng trở lên thì người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Toà án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nếu không có tin tức gì từ hai năm liền trở lên sau khi tìm kiếm thì theo Khoản 1 Điều 78 Bộ luật Dân sự năm 2005 người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích. Kể từ khi có quyết định tuyên bố một người mất tích, vợ hoặc chồng của người đó có thể xin ly hôn với người mất tích và Tòa án sẽ giải quyết theo đúng thủ tục, thẩm quyền.

Vấn đề vướng mắc các đương sự gặp phải thường là vấn đề thời gian và chi phí mà đương sự phải tự chi trả. Với quy định cũ nêu tại Nghị quyết số 03/HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì sau khi nhận được đơn khởi kiện của đương sự, Tòa án yêu cầu đương sự đến cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của tỉnh và trung ương nhắn tin tìm người vắng mặt và lấy giấy xác nhận của cơ quan đó về việc đã nhắn tin tìm người vắng mặt nộp cho Tòa án để Tòa án thụ lý vụ án. Trong đó không quy định cụ thể cần phải đăng báo hoặc phát sóng thông báo tìm người vắng mặt trên đài, báo là bao nhiêu lần. Do vậy, thực tiễn giải quyết vụ án này trong những năm qua thường là Tòa án chỉ gửi thông báo tìm người vắng mặt cho cơ quan báo chí đăng báo hoặc đài phát thanh phát sóng một lần. Việc này khiến chi phí bỏ ra là không đáng kể và thời gian cũng không kéo dài.

Còn hiện nay quy định mới nêu rõ sau khi thụ lý Tòa án sẽ ra quyết định thông báo tìm người mất tích trên báo hàng ngày của trung ương trong 3 số liên tiếp và phát sóng trên Đài Phát thanh hoặc Đài Truyền hình của Trung ương 3 lần trong 3 ngày liên tiếp. Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú do người yêu cầu chịu. Qua đó có thể thấy thời gian và chi phí để giải quyết vấn đề này hiện nay là không hề nhỏ.

07/10/2015

Tôi kết hôn năm 2000, hiện có một con 4 tháng tuối. Vợ chồng tôi thường xuyên mâu thuẫn và dường như không thể hàn gắn. Chồng tôi thường xuyên xúc phạm tôi, thậm chí đánh đập. Chúng tôi đã ly thân 3 tháng nay. Cả hai vợ chồng đều muốn ly hôn. Luật sư cho tôi hỏi, chúng tôi có được làm đơn thuận tình ly hôn không, có giải quyết ly hôn nhanh không cần qua các thủ tục hòa giải có được không?

Chào bạn,

Thứ nhất, vấn đề thuận tình ly hôn của vợ chồng bạn

Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định các chủ thể có quyền yêu cầu ly hôn gồm:

– Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

– Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

Bên cạnh đó, Luật còn quy định “Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”. Đây là quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Như vậy, con bạn mới chỉ 6 tháng tuổi nên chồng bạn không có quyền yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật. Luật chỉ quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng trong trường hợp vợ mang thai, sinh con, nuôi con dưới 12 tháng tuối nhưng không hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của chính người vợ đó. Như vậy, khi nhận thấy cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được thì chính bạn có thể nộp đơn yêu cầu đơn phương ly hôn.

Thứ hai, ly hôn nhanh không cần hòa giải

Điều 52 Luật hôn nhân và gia đình quy định “Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hòa giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở”. Như vậy, trước khi nộp đơn yêu cầu ly hôn, việc hòa giải cơ sở có thể được tiến hành hoặc không. Hòa giải cơ sở chỉ mang tính chất khuyến khích thực hiện, không có ý nghĩa bắt buộc.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Khác với hoạt động hòa giải ở cơ sở, hòa giải tại Tòa án là một thủ tục bắt buộc, kể cả khi hai bên thuận tình ly hôn.

Như vậy, dù đơn phương ly hôn hay thuận tình ly hôn thì thủ tục hòa giải tại Tòa án là thủ tục bắt buộc.

Tuy nhiên, bạn cân nhắc kĩ việc đơn phương ly hôn vì con bạn còn quá nhỏ, đứa trẻ sẽ rất thiệt thòi hơn nữa bạn sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống sau này.

Hòa giải trong ly hôn tại Tòa án        Danh mục: Thủ tục ly hôn    Hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp tr...
07/10/2015

Hòa giải trong ly hôn tại Tòa án
Danh mục: Thủ tục ly hôn
Hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực dân sự, thương mại, và tranh chấp hôn nhân gia đình là không ngoại lệ. Các bên giải quyết tranh chấp tự nguyện tham gia, tự thỏa thuận các biện pháp giải quyết tranh chấp với sự hỗ trợ của bên thứ ba trung lập. Hòa giải là hành vi của một bên thứ ba thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa và đi đến những thỏa thuận nhất đinh. Hòa giải bằng việc các bên dàn xếp, thương lượng với nhau và có sự tham gia của bên thứ ba (không phải là bên tranh chấp).

Theo Điều 54 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Trước khi tiến hành phiên hoà giải, Toà án thông báo cho các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự biết về thời gian, địa điểm tiến hành phiên hoà giải, nội dung các vấn đề cần hoà giải.

Thành phần phiên hoà giải gồm có:

Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải;
Thư ký Toà án ghi biên bản hoà giải;
Người phiên dịch, (nếu đương sự không biết tiếng Việt);
Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự.
Trong phiên hòa giải phải có mặt cả hai bên vợ chồng. Nếu vắng mặt một trong hai vợ chồng, thì Thẩm phán phải hoãn phiên hòa giải. Khi tiến hành hoà giải, Thẩm phán phổ biến cho các bên biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hoà giải thành để họ tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Việc hoà giải được Thư ký Toà án ghi vào biên bản. Biên bản hoà giải phải có đầy đủ các nội dung: ngày, tháng, năm tiến hành phiên hoà giải; địa điểm tiến hành phiên hoà giải; thành phần tham gia phiên hoà giải; ý kiến của các bên vợ chồng; những nội dung đã được các bên thoả thuận, không thoả thuận. Biên bản hoà giải phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên có mặt trong phiên hoà giải, chữ ký của Thư ký Toà án ghi biên bản và của Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải.

Nếu vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Address

580, Đường Cách Mạng Tháng Tám, Phường Bùi Hữu Nghĩa, Quận Bình Thủy, Thành Phố Cần Thơ
Can Tho

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Văn Phòng Luật Sư Thanh Liêm posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Văn Phòng Luật Sư Thanh Liêm:

Share