Công Ty Luật Hợp Danh Cao Nguyên

Công Ty Luật Hợp Danh Cao Nguyên Luật Sư tư vấn pháp luật miễn phí
- Dân sự, hình sự, đất đai, hành chính....
- Ly hôn nhanh

Chiếm đoạt Sổ đỏ của người khác có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?Đầu tiền, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ...
27/03/2024

Chiếm đoạt Sổ đỏ của người khác có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Đầu tiền, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ) là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp (Căn cứ theo khoản 16 Điều 3 Luật đất đai 2013).
GCN QSDĐ không được xem là tài sản mà chỉ là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác định quyền sử dụng đất. Hay nói cách khác là văn bản chứa đựng quyền sử dụng đất (quyền tài sản).
- Vậy, chiếm đoạt sổ đỏ của người khác có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Theo như phân tích trên, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản, vậy nên việc một người nào đó giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là giữ tài sản của thuộc về họ nên sẽ không bị buộc tội về hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác.
- Vậy người bị chiếm giữ Sổ đỏ có thể kiện người chiếm giữ không?
Theo Công văn 141/TANDTC-KHXX ngày 21/9/2011 của TAND Tối cao, về thẩm quyền giải quyết các yêu cầu trả lại GCN quyền sở hữu tài sản thì GCNQSDĐ không phải là giấy tờ có giá, nếu có yêu cầu tòa án giải quyết buộc người chiếm giữ trả lại các giấy tờ này thì tòa không thụ lý giải quyết.
Tuy nhiên, theo tình hình thực tế hiện nay, nếu có yêu cầu tòa án giải quyết buộc người chiếm giữ trả lại GCNQSDĐ, chấm dứt hành vi cản trở thực hiện quyền của người sử dụng đất thì Tòa án vẫn sẽ thụ lý, giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 26 BLTTDS 2015.

Bài học kinh nghiệm từ đặt cọc mua nhà đất mà chỉ xem giấy tờ bản sao!Nội dung vụ việc: Bà A đặt cọc để mua căn nhà tại ...
05/03/2024

Bài học kinh nghiệm từ đặt cọc mua nhà đất mà chỉ xem giấy tờ bản sao!

Nội dung vụ việc: Bà A đặt cọc để mua căn nhà tại thành phố Buôn Ma Thuột của ông B, với nội dung hợp đồng đặt cọc: số tiền đặt cọc là 40.000.000 đồng và tiền phạt cọc là 120.000.000 đồng nếu như bên bán không bán. Lúc đặt cọc bà A không xem bản chính của GCNQSDĐ mà chỉ xem bản sao.
Sau một thời gian đặt cọc xong thì bà mới biết là căn nhà đang được thế chấp tại ngân hàng. Đến ngày thực hiện việc mua bán theo hợp đồng đặt cọc thì ông B không thực hiện việc chuyển nhượng theo hợp đồng đặt cọc. Do đó, bà A đã khởi kiện yêu cầu ông B phải trả lại cho bà số tiền cọc và số tiền phạt cọc, tổng cộng là 160.000.000 đồng.
Vào thời điểm đặt cọc tài sản đang được thế chấp tại ngân hàng nên Tòa án đã tuyên hợp đồng đặt cọc vô hiệu vì bên bán không được quyền bán căn nhà, căn cứ theo Điều 320 và Điều 321 Bộ luật Dân sự 2015. Đồng thời, về xét yếu tố lỗi thì việc hợp đồng vô hiệu cũng có lỗi của bà A vì không xem kỹ nội dung bản chính GCNQSDĐ.
Kết quả cuối cùng: Bà A chỉ đòi lại được tiền cọc 40.000.000 đồng, còn với 120.000.000 đồng thì tòa không chấp nhận vì hợp đồng đặt cọc đã bị vô hiệu. Đồng thời bà A phải trả tiền án phí là 6.000.000 đồng vì phần tranh chấp phạt cọc không được chấp nhận.
Trong trường hợp này, nếu như trước khi mua bà A đã xem xét bản chính của GCN và biết được việc tài sản đang thế chấp tại ngân hàng thì đã không phải tốn nhiều thời gian như vậy vừa không mua được đất, vừa phải tốn thời gian đi kiện đòi tiền, mà lại vừa phải tốn thêm 6.000.000 đồng để nộp tiền án phí như vậy.
Do đó việc cần phải xem xét kỹ GCN bản gốc và một số vấn đề liên quan khác nữa trước khi quyết định đặt cọc là một điều cần thiết để đảm bảo quyền lợi của mình.

RỦI RO PHÁP LÝ KHI ĐẶT CỌC MUA ĐẤT VÌ SỬ DỤNG HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC “THEO MẪU”Để đảm bảo việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất...
24/01/2024

RỦI RO PHÁP LÝ KHI ĐẶT CỌC MUA ĐẤT VÌ SỬ DỤNG HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC “THEO MẪU”

Để đảm bảo việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, các bên thường ký hợp đồng đặt cọc với nhau để đảm bảo việc giao kết hợp đồng. Nhưng để tiện lợi, tiết kiệm thời gian và chi phí thì các bên hay sử dụng các mẫu hợp đồng đặt cọc có sẵn hoặc được bày bán trên mạng. Chính điều này sẽ có khả năng gây ra nhiều tiềm ẩn rủi ro và nguy hiểm nhất là mất tiền cọc.
Một số trường hợp rủi ro như sau:

Thứ nhất, bên nhận đặt cọc không phải là chủ sở hữu quyền sử dụng đất và không được ủy quyền nhận đặt cọc. Trường hợp này thường xảy ra nhiều trên thực tế, khi sốt đất trên thị trường, cò đất thường tự ý nhận cọc để sang tay ăn chênh lệch với chủ đất. Khi tranh chấp xảy ra, các hợp đồng đặt cọc trên vô hiệu, các bên hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận, một số người sau khi nhận đặt cọc (lướt sóng) thì không liên lạc được hoặc bỏ trốn gây khó khăn khi giải quyết tranh chấp.

Thứ hai, những hợp đồng đặt cọc mẫu có sẵn hay được bày bán trên thị trường không ghi rõ số tiền dùng để đặt cọc, số tiền chuyển nhượng, thời gian nhận tiền, phương thức thanh toán,… Việc chứng minh bên đặt cọc đã giao tiền, bên nhận cọc đã nhận tiền khi có tranh chấp xảy ra là rất quan trọng trong việc xác định hợp đồng đặt cọc đã thực hiện hay chưa. Do đó, vấn đề giao nhận tiền ngoài có người làm chứng cần có biên bản xác nhận và tốt nhất thông qua chuyển khoản ngân hàng.

Thứ ba, vấn đề rất quan trọng trong việc ký hợp đồng đặt cọc là cần phân biệt giữa TIỀN ĐẶT CỌC và TIỀN TRẢ TRƯỚC, bởi tiền đặt cọc khi có tranh chấp thì có quyền yêu cầu phạt cọc còn tiền trả trước thì chỉ phải hoàn trả lại cho nhau. Trường hợp một bên trong hợp đồng đặt cọc giao cho bên còn lại một khoản tiền mà các bên không xác định rõ là tiền đặt cọc hoặc tiền trả trước thì số tiền này được coi là tiền trả trước. Vì vậy, khi lập hợp đồng đặt cọc cũng như biên bản giao nhận tiền, người mua cần lưu ý ghi rõ khoản tiền mình giao trước cho bên bán là tiền cọc hay tiền trả trước, tránh phát sinh tranh chấp về sau để có cơ sở phạt cọc.

Thứ tư, thông thường hợp đồng đặt cọc theo mẫu không ghi chi tiết thông tin của thửa đất. Khi đặt cọc bằng mẫu có sẵn thì những mẫu này thường thể hiện rất chung chung các nội dung như không ghi rõ số tờ số thửa, địa chỉ mảnh đất, diện tích cụ thể, tài sản gắn liền trên đất... ĐÓ LÀ MỘT TRONG CÁC ĐIỀU KHOẢN DỄ LÀM HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC VÔ HIỆU DO CÓ ĐỐI TƯỢNG KHÔNG THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC.

Thứ năm, về quyền và nghĩa vụ các bên. Các hợp đồng đặt cọc theo mẫu thường quy định quyền và nghĩa vụ các bên rất sơ sài, do đó dẫn đến khi tranh chấp xảy ra không đảm bảo được quyền lợi cho bên muốn thực hiện tiếp hợp đồng hoặc bất lợi cho các bên khi từ bỏ quyền thỏa thuận của mình trong hợp đồng.

Đây là một số rủi ro, tranh chấp khi đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng hợp đồng mẫu có sẵn hoặc bày bán trên thị trường. Vậy, để hạn chế rủi ro và bảo đảm quyền lợi cho mình, các bên khi đặt cọc nên nhờ những người có chuyên môn, kinh nghiệm hoặc đến văn phòng luật sư để lập hợp đồng đặt cọc nhằm đầy đủ các điều khoản, đảm bảo quyền lợi cho cả đôi bên.

Đòi lại tiền đặt cọc mua nhà đất có được không?Câu hỏi: Tôi có mua một thửa đất do cò đất lướt cọc (Tôi là F3). Cho tôi ...
28/02/2023

Đòi lại tiền đặt cọc mua nhà đất có được không?

Câu hỏi: Tôi có mua một thửa đất do cò đất lướt cọc (Tôi là F3). Cho tôi hỏi trong trường hợp này khi tôi đã đặt cọc mua đất rồi thì có được đòi lại tiền đặt cọc nếu không muốn mua nữa không?

Trả lời: Trong trường hợp này (Nếu người cò đất không được chủ đất ủy quyền ký hợp đồng đặt cọc) thì bạn vẫn có thể đòi lại tiền cọc. Vì bên nhận đặt cọc (Tức cò đất - F2) không phải là người đứng tên trên GCNQSD đất mà lại trực tiếp đứng ra giao dịch, ký kết hợp đồng đặt cọc với bạn là trái quy định, nên giao dịch này đã bị vô hiệu ngày từ thời điểm được xác lập. Do đó, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, các bên hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận theo quy định tại khoản 2, Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015. Tức là bạn sẽ được nhận lại số tiền đã cọc.
Nếu F2 không chịu trả lại tiền cọc cho bạn thì bạn có quyền nộp hồ sơ khởi kiện đến Tòa án để giải quyết.

Hàng xóm lấn chiếm đất, không có mặt ở nhà để tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai nên Ủy ban xã không giải quyết và tr...
23/02/2023

Hàng xóm lấn chiếm đất, không có mặt ở nhà để tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai nên Ủy ban xã không giải quyết và trả lại đơn hòa giải thì có đúng không?

Câu hỏi: Nhà cạnh bên lấn đất của tôi. Tôi làm đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai lên UBND xã nhưng hàng xóm họ đóng cọc rào tường đi làm ăn xa, xã không gọi họ về mà lấy lý do là họ không có nhà và xã trả lại đơn của tôi . Luật sư cho hỏi vậy giờ tôi phải làm như thế nào để giải quyết vấn đề này? UBND xã làm vậy có đúng không?

Trả lời: - Căn cứ theo Điều 202 Luật Đất đai 2013 quy định về hòa giải tranh chấp đất đai thì việc bạn làm đơn đề nghị UBND xã tiến hành hòa giải là đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Căn cứ Điều 88 Nghị định 43/2014/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 27, khoản 28 Điều 1 Nghị định 148/2020/NĐ-CP và khoản 57 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP quy định về thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai thì UBND cấp xã phải có trách nhiệm thông báo cho bên tranh chấp (hàng xóm) về việc tiến hành hòa giải. Trường hợp hàng xóm vắng mặt lần thứ hai thì UBND xã lập biên bản hòa giải không thành. Việc UBND xã trả lại đơn với lý do người hàng xóm không có nhà, mà không tiến hành thủ tục hòa giải là không đúng pháp luật.
Do đó, trong trường hợp này bạn nên yêu cầu UBND xã tiến hành thủ tục hòa giải, nếu hàng xóm vắng mặt 2 lần thì đề nghị UBND xã lập biên bản hòa giải không thành. Sau đó, bạn nộp hồ sơ khởi kiện tranh chấp đất đai đến Tòa án để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Khi cha mẹ ly hôn thì con cái có được quyền chọn sống cùng ai không?Câu hỏi: Em năm nay 15 tuổi, bố mẹ em đang trong quá...
31/01/2023

Khi cha mẹ ly hôn thì con cái có được quyền chọn sống cùng ai không?

Câu hỏi: Em năm nay 15 tuổi, bố mẹ em đang trong quá trình ly hôn. Nhưng mà em muốn sống với mẹ vì em với bố không hòa hợp với nhau cho lắm. Em có được quyền chọn ai trong 2 người không ạ?
Trả lời: Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
"Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Như vậy, con từ đủ 7 tuổi trở lên có quyền lựa chọn được sống cùng cha hoặc mẹ khi ly hôn. Bạn đã 15 tuổi và việc bạn muốn sống cùng mẹ, đó chính là nguyện vọng của bạn. Tòa án sẽ xem xét vấn đề này rồi đưa ra quyết định nuôi con khi ly hôn.

Bịa đặt, nói xấu người khác trên mạng xã hội bị xử lý như thế nào?Câu hỏi: Tôi thấy gần đây có một số người có hành vi l...
06/01/2023

Bịa đặt, nói xấu người khác trên mạng xã hội bị xử lý như thế nào?

Câu hỏi: Tôi thấy gần đây có một số người có hành vi lợi dụng mạng xã hội để bịa đặt, nói xấu và xúc phạm người khác. Cho tôi hỏi hành vi trên thì sẽ bị xử lý như thế nào? Hành vi bịa đặt, nói xấu người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Trả lời: Căn cứ theo Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP (được sửa đổi bởi khoản 37 Điều 1 Nghị định 14/2022/NĐ-CP) được quy định như sau:
Vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội; trang thông tin điện tử được thiết lập thông qua mạng xã hội
1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau:
a) Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;......
2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này.
Theo đó, nếu một người bịa đặt, nói xấu mà có ý xúc phạm danh dự uy tín nhân phẩm của cá nhân trên mạng xã hội vì bất cứ mục đích gì thì đều bị xử phạt từ 10 đến 20 triệu đồng hoặc từ 20 đến 30 triệu đồng nếu tiết lộ bí mật đời tư người khác. Đồng thời buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật theo quy định.
Ngoài ra, mức độ vi phạm nghiêm trọng hơn còn có thể chịu trách nhiệm hình sự.
Cụ thể nếu hành vi có các yếu tố cấu thành Tội vu khống tại Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015 và người bị hại có yêu cầu khởi tố, người nói xấu có thể chịu các mức phạt sau đây:
- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm đối với hành vi:
+ Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
+ Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
Mức phạt tối đa đối với hành vi này có thể lên đến 07 năm tù, cùng với các hình phạt bổ sung khác như phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC CHUYỂN NHƯỢNG ĐẤT - PHẠT CỌC Câu hỏi: Vào thời điểm đất sốt năm 2021, bà Thủy có mua 01 thửa đất của ôn...
27/12/2022

HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC CHUYỂN NHƯỢNG ĐẤT - PHẠT CỌC

Câu hỏi: Vào thời điểm đất sốt năm 2021, bà Thủy có mua 01 thửa đất của ông Việt sau đó lướt cọc bán thửa đất này cho tôi. Tôi tiếp tục lướt cọc bán cho ông Cường, ông Cường có đặt cọc cho tôi số tiền 100tr. Tuy nhiên, vì không làm được thủ tục tách sổ nên khi đến thời hạn ông Việt không thể bán cho bà Thủy, bà Thủy không thể bán cho tôi và tôi cũng không thể bán cho ông Cường. Vậy nên, ông Cường đã khởi kiện ra Tòa yêu cầu tôi trả số tiền 100tr và phạt cọc 100tr. Cho tôi hỏi trong trường hợp này giải quyết như nào và tôi có bị phạt cọc không?

Trả lời: Trong trường hợp này anh sẽ không bị phạt cọc. Vì tại thời điểm giao kết hợp đồng đặt cọc thì anh không phải là người đứng tên trên GCNQSD đất, ông Cường cũng biết rõ việc này mà hai bên lại thỏa thuận đặt cọc giao dịch đối với thửa đất trên là không thể thực hiện được, nên giao dịch này đã bị vô hiệu ngày từ thời điểm được xác lập. Do đó, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, các bên hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận theo quy định tại khoản 2, Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015. Tức anh phải trả cho ông Cường 100tr đồng và không bị phạt cọc do hợp đồng vô hiệu.

Hợp đồng đặt cọc bán đất có cần cả vợ và chồng cùng ký tên không? Vợ hoặc chồng tự ý đặt cọc, khi phát hiện một bên khôn...
21/11/2022

Hợp đồng đặt cọc bán đất có cần cả vợ và chồng cùng ký tên không? Vợ hoặc chồng tự ý đặt cọc, khi phát hiện một bên không đồng ý bán đất thì có đòi lại được đất không?

Câu hỏi: Vừa qua, chồng tôi tự ý nhận đặt cọc để bán thửa đất của gia đình mà không cho tôi biết. Trong hợp đồng đặt cọc chỉ có chữ ký của chồng, không có chữ ký của tôi. Vậy nay tôi có đòi lại đất được không?

Trả lời: Đối với thửa đất là tài sản chung của vợ chồng thì khi thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản đó phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.
Căn cứ tại Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015: việc chồng bạn tự ý thực hiện đặt cọc với người khác thì bạn có thể khởi kiện để đòi lại thửa đất. Trong trường hợp này, đây là tài sản chung vợ chồng thì theo quy định trên giao dịch đặt cọc sẽ bị tuyên vô hiệu. Khi đó, các bên sẽ phải hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận.

Vợ muốn ly hôn khi chồng đang ở trong tù có được không? Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn?Câu hỏi: Tôi và ...
19/10/2022

Vợ muốn ly hôn khi chồng đang ở trong tù có được không? Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn?

Câu hỏi: Tôi và chồng tôi kết hôn đã được 3 năm nhưng anh ấy luôn động tay động chân với tôi. Gần đây vì xảy ra xô xát với bạn bè mà anh ấy phải đi tù. Vậy khi chồng tôi đang ở trong tù thì tôi có ly hôn được không? Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết đơn ly hôn của tôi?

Trả lời: Khi một trong hai vợ chồng đi tù thì không thuộc trường hợp bị cấm ly hôn. Do đó, nếu một người đi tù thì người còn lại vẫn có quyền đơn phương ly hôn.
Về thẩm quyền giải quyết ly hôn: Chị có quyền khởi kiện vụ án ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp huyện, nơi chồng chị cư trú trước khi phải chấp hành án phạt tù.
Trường hợp trại giam có trụ sở tại quận, huyện khác thì Tòa án sẽ ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền lấy lời khai của chồng chị cũng như ý kiến về việc xét xử vắng mặt họ.

Address

C22 Hoàng Văn Thái, Phường Tân An
Buon Me Thuot

Telephone

+84986751822

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công Ty Luật Hợp Danh Cao Nguyên posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Công Ty Luật Hợp Danh Cao Nguyên:

Share