Ls Trần Thanh Tiến

Ls Trần Thanh Tiến Luật sư chuyên về tư vấn và tranh tụng
Liên hệ: 0901.28.28.86

24/05/2026
24/05/2026

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 822/TB-VKSTC NGÀY 31/10/2019 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN LAO ĐỘNG LIÊN QUAN ĐẾN TRANH CHẤP TRỢ CẤP THÔI VIỆC KHI CHO THÔI VIỆC DO KHÔNG ĐỦ TIÊU CHUẨN VỀ CHUYÊN MÔN VÀ YÊU CẦU HỦY QUYẾT ĐỊNH CÁ BIỆT

👉 Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

1. Vi phạm của UBND thành phố Phan Rang - Tháp Chàm trong việc ban hành Quyết định cho thôi việc và giải quyết chế độ chính sách đổi với ông Thụy

Căn cứ Công văn số 483/UBND-NV ngày 09/5/2014 của UBND thành phố Phan Rang-Tháp Chàm về việc sắp xếp, đào tạo và giải quyết thôi việc đối với cán bộ cấp xã không đủ điều kiện cử đi đào tạo chuyên môn nghiệp vụ. Ngày 05/6/2014, UBND phường Mỹ Hương mở cuộc họp để giải quyết trường hợp của ông Thụy nhưng UBND phường đã không thông báo trước cho ông Thụy về thời gian, địa điểm cuộc họp để ông tham gia là vi phạm. Tuy nhiên, sau đó ông Thụy đã biết nội dung cuộc họp và thực hiện thủ tục khiếu nại quyết định cho thôi việc. Quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của ông Thụy nhất trí việc UBND thành phố Phan Rang - Tháp Chàm cho ông Thụy thôi việc vì ông Thụy không đáp ứng được trình độ chuyên môn, thuộc đối tượng tỉnh giản biên chế. Trước khi nhận quyết định cho thôi việc, ông Thụy cũng biết các thông tin, điều kiện để tiếp tục được làm việc là phải cam kết về thời gian đáp ứng điều kiện chuyên môn nghiệp vụ nhưng do ông Thụy không đáp ứng yêu cầu nên UBND thành phố Phan Rang - Tháp Châm ban hành Quyết định cho ông Thụy thôi việc là có cơ sở.

Việc UBND thành phố Phan Rang - Tháp Chàm ban hành Quyết định số 3816/QĐ-UBND ngày 26/12/2014 cho ông Thụy thôi việc nhưng không giải quyết chế độ chính sách đối với ông là không đúng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Thụy, bởi các lý do sau:

Khoản 3, Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định về cán bộ, công chức: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội, công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.

Điều 61 quy định về chức vụ, chức danh cán bộ, công chức cấp xã:

“1. Cán bộ, công chức cấp xã quy định tại khoản 3 Điều 4 của Luật này bao gồm cán bộ cấp xã và công chức cấp xã.

2. Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây: ...h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Mặt khác, căn cứ Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; Quyết định số 2722/QĐ-UBND ngày 24/10/2013 của UBND thành phố Phan Rang - Tháp Chàm về việc xếp lương đối với cán bộ chuyên trách xã, phường, UBND thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xếp lương cho ông Thụy vào bậc 2; Hệ số 2,25 + 0,2 (hệ số lương bảo lưu). Theo Quy định tại Điều 17 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP thì nguồn kinh phí để thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã do ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy định của Luật ngân sách nhà nước.

Đối chiếu với các quy định trên và quy định tại Điều 1 Luật cán bộ, công chức năm 2008 thì ông Thụy là cán bộ cấp xã nên thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật cán bộ, công chức.

Điều 64 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Việc đánh giá, phân loại, xin thôi làm nhiệm vụ, từ chức, miễn nhiệm, thôi việc, nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức cấp xã được thực hiện theo quy định tương ứng của Luật này đối với cản bộ, công chức và các quy định khác của pháp luật, điều lệ có liên quan”.

Khoản 1, Điều 15, Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn quy định về thôi việc, bỏ việc “1. Cán bộ, công chức cấp xã được thôi việc và hưởng chế độ thôi việc trong các trường hợp: do thực hiện việc tiêu chuẩn hóa cán bộ, công chức; do công tác chưa đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí, có nguyện vọng xin thôi việc và được cơ quan, tổ chức cấp huyện đồng ý”.

Ngày 05/12/2011, Chính phủ ban hành Nghị định số 112/2011/NĐ-CP quy định về công chức xã, phường, thị trấn có hiệu lực từ ngày 01/02/2012 (đối tượng áp dụng đối với công chức cấp xã quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 61 Luật cán bộ, công chức). Tuy nhiên, Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ chỉ “Bãi bỏ các nội dung quy định đối với công chức cấp xã tại Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn” (khoản 2 Điều 47 của Nghị định 112).

Tại Biên bản lấy lời khai của ông Hồ Nam Sơn, Trưởng phòng Nội vụ thành phố Phan Rang - Tháp Chàm có nêu: Ông Thụy thuộc trường hợp thôi việc do tiêu chuẩn hóa cán bộ quy định tại Nghị định số 114/2003/NĐ-CP. Tuy nhiên UBND thành phố Phan Rang - Tháp Chàm chỉ căn cứ vào Quyết định số 254 của UBND tỉnh Ninh Thuận để giải quyết đối với các trường hợp thôi việc đối với cán bộ chủ chốt cấp xã. Trường hợp của ông Thụy không được hưởng chế độ thôi việc.

Như vậy, đại diện UBND thành phố Phan Rang - Tháp Chàm mặc dù khẳng định ông Thụy thuộc trường hợp thôi việc do tiêu chuẩn hóa cán bộ quy định tại Nghị định số 114/2003/NĐ-CP nhưng khi giải quyết chế độ cho thôi việc lại không căn cứ vào Điều 15 Nghị định số 114 để giải quyết chế độ cho ông Thụy mà lại căn cứ vào Quyết định số 254/2009/QĐ-UBND ngày 04/9/2009 của UBND tỉnh Ninh Thuận quy định chính sách trợ cấp thôi việc đổi với cán bộ chủ chốt cấp xã không đạt tiêu chuẩn trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận đề cho rằng do ông Thụy không thuộc đối tượng điều chỉnh của Quyết định số 254 nêu trên nên không giải quyết chế độ trợ cấp cho ông Thụy là không đúng, không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Thụy.

Theo các tài liệu do ông Thụy cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án thì thấy: Thực hiện Công văn số 6073/UBND-VX ngày 15/12/2014 của UBND tỉnh Ninh Thuận trong đó có nội dung quy định về hướng giải quyết, chế độ chính sách đối với những trường hợp cán bộ, công chức xã chưa đạt chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ thì trong cùng trường hợp thôi việc do không đủ tiêu chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ của UBND các huyện trên cùng địa bàn tỉnh Ninh Thuận nhưng hướng giải quyết cho thôi việc lại khác nhau, cụ thể: Đối với chức danh Chủ tịch Hội cựu chiến binh xã như ông Thụy ở các huyện Thuận Nam, Thuận Bắc, Ninh Sơn, Ninh Phước, Ninh Hải, Bắc Ái đều giải quyết cho thôi việc vào năm 2015 hoặc công tác đến hết nhiệm kỳ và được hưởng chế độ, chính sách theo quy định hiện hành. Trong khi đó, với trường hợp của ông Thụy cùng trong địa bàn tỉnh Ninh Thuận, cùng thuộc diện bị thôi việc do không đạt chuẩn trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhưng lại bị thôi việc từ ngày 31/12/2014 và không được hưởng bất kỳ chế độ, chính sách nào là không đảm bảo tính công bằng.

2. Về vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm khi xem xét, giải quyết vụ kiện của ông Thụy

ngày Xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chỉ căn cứ vào Nghị định số 108/2014/NĐ-CP quy định về chính sách tỉnh giản biên chế (có hiệu lực từ ngày 10/01/2015) để cho rằng: Thời điểm UBND thành phố Phan Rang - Tháp Chàm ban hành Quyết định số 3816/QĐ-UBND ngày 26/12/2014 cho thôi việc đối với ông Thụy thì Nghị định số 108/2014/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 01/2015/TTLT-BNV-BTC 14/5/2015 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 108/2014/NĐ-CP chưa có hiệu lực nên không thể áp dụng để giải quyết chế độ trợ cấp khi thôi việc cho ông Thụy được mà không xem xét đến các quy định của Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ để yêu cầu UBND thành phố Phan Rang - Tháp Chàm áp dụng giải quyết chế độ, chính sách cho ông Thụy là chưa chính xác. Tòa án hai cấp chỉ kiến nghị với UBND thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận cần có giải pháp giải quyết hỗ trợ về chế độ, chính sách cho ông Thụy theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP là chưa đúng và triệt để.

Trong quá trình giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, ngày 17/6/2019, VKSND tối cao (Vụ 10) đã có buổi làm việc với UBND thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ một số nội dung liên quan đến việc giải quyết chế độ, chính sách sau khi cho Ông Thụy thôi việc. Đồng thời yêu cầu UBND thành phố Phan Rang - Tháp Chàm nghiên cứu, vận dụng quy định của Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ để giải quyết chế độ, chính sách đối với ông Thụy.

Ngày 05/8/2019, trên cơ sở tiếp thu yêu cầu của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch UBND thành phố Phan Rang - Tháp Châm đã tổ chức đối thoại xem xét, giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc đối với ông Thụy. Theo đó, đã thống nhất trợ cấp thôi việc cho ông Thụy theo Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ với tổng số tiền 40.805.000 đồng (trong đó: Tiền trợ cấp là 29.756.000₫, tiền lãi ngân hàng là 11.049.000₫). Ngày 18/9/2019, ông Thụy đã có đơn gửi VKSND tối cao xin rút đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án lao động phúc thẩm số 04/2016/LĐ-PT ngày 26/12/2016 của TAND tỉnh Ninh Thuận.

Từ vụ án cụ thể nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo đến các Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để tham khảo, rút kinh nghiệm./.

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây:
https://luatnghinhphong.vn/articles/thong-bao-rut-kinh-nghiem-so-822tb-vkstc-ngay-31102019-cua-vien-kiem-sat-nhan-dan-toi-cao-ve-viec-kiem-sat-viec-giai-quyet-vu-an-lao-ong-lien-quan-en-tranh-chap-tro-cap-thoi-viec-khi-cho-thoi-viec-do-khong-u-tieu-chuan-ve-chuyen-mon-va-yeu-cau-huy-qu
-------------------------

24/05/2026

ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ VIỆC NGÂN HÀNG KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH DO KHÔNG THỰC HIỆN VIỆC THẨM ĐỊNH, XÁC MINH TÀI SẢN THẾ CHẤP

👉 Tình huống pháp lý:

Thực tiễn xét xử cho thấy các Tòa án còn chưa có sự thống nhất trong việc xác định Ngân hàng có phải là người thứ ba ngay tình hay không trong trường hợp Ngân hàng nhận thế chấp quyền sử dụng đất nhưng chưa thực hiện việc thẩm định tài sản thế chấp.

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Ngân hàng không phải là người thứ ba ngay tình do không thực hiện việc thẩm định, xác minh tài sản thế chấp.

Quan điểm thứ hai: Ngân hàng là người thứ ba ngay tình.

👉 Nội dung đề xuất án lệ:

“[5]. Về phía Ngân hàng khi ký hợp đồng thế chấp tài sản cho vay tiền, không tiến hành thẩm định tài sản thế chấp theo đúng quy định. Chính vì vậy, Ngân hàng không xác định được nhà đất thế chấp là của ai. Ai là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng. Nhà đất thế chấp hiện hữu có phù hợp trên giấy tờ nhà đất hay không. Do không thực hiện đúng quy định của pháp luật nên về phía Ngân hàng khi cho vay, không được xem là ngay tình, hợp pháp. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật dân sự năm 2015 và tại khoản 1 Phần II Văn bản số 64/TATC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao thì: Mặc dù nhà đất ông G, bà Q đã thế chấp cho Ngân hàng và đã được đăng ký tại Cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng do giao dịch này không ngay tình, không đúng quy định pháp luật nên bị vô hiệu. Tại phiên tòa, người đại diện cho Ngân hàng cung cấp bản photo về báo cáo thẩm định, thực hiện sau khi thế chấp cho vay tiền nên không phù hợp.”

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây:
https://luatnghinhphong.vn/articles/e-xuat-an-le-ve-viec-ngan-hang-khong-phai-la-nguoi-thu-ba-ngay-tinh-do-khong-thuc-hien-viec-tham-inh-xac-minh-tai-san-the-chap
-------------------------

23/05/2026

NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC KHIẾU KIỆN HÀNH VI HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 04/2023/HC-GĐT)

Quyết định giám đốc thẩm số 04/2023/HC-GĐT ngày 12/4/2023 của Tòa án nhân dân tối cao hủy Bản án hành chính phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Long An về việc khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai.

👉 Nội dung hủy án:

“[3] Ngày 08/9/2017 ông H, bà P có vay của ông Lê Văn Đ1, bà Nguyễn Thị P1 số tiền 327.000.000 đồng. Do không được trả nợ, ngày 31/10/2018, ông Đ1, bà P1 đã khởi kiện yêu cầu ông H, bà P thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản trên, ngày 17/7/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Long An ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 14/2019/QĐ-BPKCTT để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án và thi hành án. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 201/2019/DS-PT ngày 12/8/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Long An quyết định buộc ông H, bà P phải liên đới trả cho ông Đ1, bà P1 số tiền 387.000.000 đồng. Theo Công văn số 238/CV-CCTHA ngày 05/7/2022, Chi cục thi hành án dân sự thị xã KT, tỉnh Long An cho biết: ngày 24/3/2021, Chi cục thi hành án dân sự thị xã KT đã tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của ông H, bà P thì ông H, bà P không có tài sản nào khác ngoài quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 2937, Tờ bản đồ số 7, diện tích 100m2 tại cụm dân cư Làng nghề, Phường 3, thị xã KT. Do đó, ngày 01/7/2019 ông H, bà P tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất nêu trên cho con gái (chị N) là có dấu hiệu tẩu tán tài sản, không phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Theo quy định tại khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 thì việc tặng cho quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Theo quy định tại khoản 3 Điều 120 Luật Nhà ở năm 2014 thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi thực hiện cấp giấy chứng nhận cho bên nhận tặng cho nhà ở cùng với nhận chuyển quyền sử dụng đất ở hợp pháp có nhà ở đó thì đồng thời công nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất cho bên nhận quyền sở hữu nhà ở. Do đó, chị N cho rằng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông H, bà P với chị N đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hợp đồng tặng cho được công chứng ngày 01/7/2019 là không đúng.

[5] Theo quy định tại khoản 7 Điều 95 Luật Đất đai năm 2013; khoản 1, 2 Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định thi hành chi tiết một số điều của Luật Đất đai thì việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính; sau khi nhận hồ sơ, Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thực hiện thì gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế và thông báo thu nghĩa vụ tài chính; xác nhận nội dung biến động vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao giấy chứng nhận cho người sử dụng đất. Do đó, việc chỉnh lý biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 16/7/2019 chỉ là một bước trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính về đất đai; Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã KT chưa chuyển thông tin sang cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính và chưa chỉnh lý biến động trong sổ địa chính.

[6] Như vậy, có cơ sở xác định hồ sơ đăng ký sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà của chị N chưa được chỉnh lý biến động trong sổ địa chính, nên chị N chưa được xác lập quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã KT thực hiện hành vi hủy bỏ điều chỉnh biến động trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 17/7/2019 là thực hiện theo Quyết định số 14/2019/QĐ-BPKCTT ngày 17/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An là đúng theo quy định của pháp luật.

[7] Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N về việc tuyên bố hành vi hành chính “Hủy nội dung điều chỉnh ngày 16/7/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã KT do thửa đất số 2937 đã bị phong tỏa tài sản theo Quyết định số 14/2019/QĐ-BPKCTT của Tòa án nhân dân tỉnh Long An” ngày 17/7/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã KT trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 875304 của Ủy ban nhân dân thị xã KT là có căn cứ; Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N là không đúng pháp luật.”

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây:
https://luatnghinhphong.vn/articles/nguon-an-le-ve-viec-khieu-kien-hanh-vi-hanh-chinh-trong-linh-vuc-quan-ly-nha-nuoc-ve-at-ai-quyet-inh-giam-oc-tham-so-042023hc-gt
-------------------------

23/05/2026

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 11/TB-VC1-V2 NGÀY 12/01/2022 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI VỀ VỤ ÁN “BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG GÂY RA TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ”

👉 Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Bản án dân sự sơ thẩm nêu trên của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Huyền buộc Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định phải bồi thưởng tổng số tiền 1.628.195.026 đồng là đúng pháp luật. Tuy nhiên, về phần án phí dân sự sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm buộc Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định phải nộp án phí sơ thẩm 60.845.850 đồng là không đúng quy định tại khoản 1 Điều 76 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, điều luật quy định: “Cơ quan giải quyết bồi thường không thu các khoản án phí, lệ phí và các loại phí khác đối với nội dung yêu cầu thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của Luật này”.

Do bản án có vi phạm về tính ân phí, tại Quyết định giám đốc thẩm số 88/2021/DS-GĐT ngày 30/9/2021 của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Chấp nhận quyết định kháng nghị giám đốc của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, sửa bản án dân sự sơ thẩm nêu trên, theo đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội thông báo để Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong khu vực nghiên cứu, vận dụng vụ án tương tự để nâng cao chất lượng, hiệu quả trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự./.

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây:
https://luatnghinhphong.vn/articles/thong-bao-rut-kinh-nghiem-so-11tb-vc1-v2-ngay-12012022-cua-vien-kiem-sat-nhan-dan-cap-cao-tai-ha-noi-ve-vu-an-boi-thuong-thiet-hai-do-co-quan-tien-hanh-to-tung-gay-ra-trong-hoat-ong-to-tung-hinh-su
-------------------------

22/05/2026

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 45/TB-VC2-V1 NGÀY 30/6/2022 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ VỤ ÁN HÌNH SỰ BỊ CẤP PHÚC THẨM SỬA MỘT PHẦN VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN TỘI “LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN”

👉 Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Bị cáo Trương Đình Xuân vay mượn tiền bằng hình thức hợp đồng sau đó mới nảy sinh ý định và chiếm đoạt số tiền 6.000.000.000đ. Trước khi bị cáo Xuân thực hiện hành vi phạm tội thì quan hệ giữa bị cáo và bị hại là quan hệ dân sự, nếu ai vi phạm thì giải quyết theo pháp luật dân sự. Sau khi nhận được tiền đến ngày 16/02/2019 là thời hạn trả nợ nhưng bị cáo không thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà gian dối nhằm chiếm đoạt tài tiền của bà Hương, đây chính là thời điểm phạm tội. Đến ngày 16/7/2020, bị cáo Xuân bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Như vậy, bị cáo phải trả lãi cho bà Hương đối với số tiền 6.000.000.000₫ kề từ ngày 16/02/2019 đến ngày 16/7/2020 (ngày có quyết định khởi tố vụ án) là 17 tháng, lãi suất 10%/năm 0,83% tháng (6.000.000.000₫ x 0,83%)/30 ngày x 17 tháng = 846.600.000₫.

Bản án sơ thẩm tính lãi suất trên số tiền chiếm đoạt đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/11/2021, tức là tính lãi suất trong thời gian khởi tố, truy tố, xét xử là không đúng, đã gấy bất lợi cho bị cáo Xuân về phần bồi thường cho bị hại.

Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến các VKSND trong khu vực cùng nghiên cứu, rút kinh nghiệm chung, nhằm nâng cao chất lượng giải quyết án hình sự trong thời gian đến./.

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây:
https://luatnghinhphong.vn/articles/thong-bao-rut-kinh-nghiem-so-45tb-vc2-v1-ngay-3062022-cua-vien-kiem-sat-nhan-dan-cap-cao-tai-a-nang-ve-vu-an-hinh-su-bi-cap-phuc-tham-sua-mot-phan-ve-trach-nhiem-dan-su-lien-quan-en-toi-lam-dung-tin-nhiem-chiem-oat-tai-san
-------------------------

Address

Nguyễn Đình Chiểu, P. Đakao, Q. 1
Tp. Hcm

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Ls Trần Thanh Tiến posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Ls Trần Thanh Tiến:

Share