Ls Trần Thanh Tiến

Call Website Contact the business

Ls Trần Thanh Tiến Luật sư chuyên về tư vấn và tranh tụng
Liên hệ: 0901.28.28.86

28/09/2026
28/09/2026

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 59/TB-VKS-DS NGÀY 02/8/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ VỤ ÁN DÂN SỰ “TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC”

👉 Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Bà Nguyễn Thị Mộng Ng là chủ sử dụng thửa đất số 3050, tờ bản đồ số 15, diện tích 698,5m; mục đích sử dụng: đất trồng cây hàng năm khác theo GCNQSDĐ số DB 086027 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 14/10/2021.

Ngày 31/02/2022, bà Ng và bà Th ký Hợp đồng đặt cọc với nội dung: “Bên A (bà Ng) đồng ý bán cho bên B (bà Th): Thửa đất 3050, tờ bản đồ số 15 ... ngang 12m x 25m. Thổ cư 120m...”. Các bên còn thỏa thuận, bà Th đặt cọc cho bà Ng số tiền 1.350.000.000 đồng và cam kết từ ngày 31/3/2022 đến hết ngày 31/6/2022, hai bên cùng đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để công chứng Hợp đồng chuyển nhượng, sang tên cho bà Th. Mặt sau hợp đồng đặt cọc có ghi chú: “Có thể chênh lệch thời gian 1 tuần, vì sự chậm trễ của môi trường".

Nội dung ghi chú này được bà Th và bà Ng thừa nhận. Như vậy, tại thời điểm ký hợp đồng đặt cọc các bên đều biết rõ diện tích đất chuyển nhượng là đất trồng cây hàng năm và thời gian xin chuyển mục đích sử dụng đất, từ đất trồng cây hàng năm khác sang đất thổ cư là do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của hai bên.

Sau ký Hợp đồng đặt cọc,ngày 08/4/2022, bà Ng đã nộp hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất tại Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T (có phiếu tiếp nhận và trả kết quả); hẹn trả kết quả ngày 18/5/2022. Đến ngày 13/7/2022,, Ủy ban nhân dân thành phố T mới ban hành Quyết định số 6502/QĐ-UBND về việc cho phép bà Ng được chuyển mục đích sử dụng đất, diện tích 299m đất đối với thửa đất số 3050, tờ bản đồ số 15.

Như vậy sau khi ký Hợp đồng đặt cọc, bà Ng đã tiến hành làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất và nộp hồ sơ tại bộ phận một cửa, nhưng đến ngày 13/7/2022 (quá thời hạn đặt cọc), cơ quan có thẩm quyền mới có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất với diện tích 299m. Do đó, thời điểm ngày 18/5/2022, cơ quan chức năng chưa có kết quả trả hồ sơ cho bà Ng là phù hợp với lời khai của bà Ng có đến nhận, nhưng không có kết quả. Vì vậy, các bên không ký được hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất như thỏa thuận là do nguyên nhân khách quan từ phía cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, không phải lỗi do bà Ng.

Theo Án lệ số 25/2018/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06/11/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, bà Ng không phải chịu phạt cọc (vì lý do khách quan), nhưng tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm lại phạt cọc đối với bà Ng là không đúng quy định tại Án lệ nêu trên..

Hội đồng giám đốc thẩm đã chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; sửa 01 phần bản án dân sự phúc thẩm, không buộc bà Ng phải chịu số tiền phạt cọc 1.350.000.000 đồng.

Trên đây là vi phạm của Tòa án nhân dân tỉnh L trong việc giải quyết vụ án “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành trong khu vực tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát giải quyết vụ án tương tự, để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát./.

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây: https://luatnghinhphong.vn/articles/thong-bao-rut-kinh-nghiem-so-59tb-vks-ds-ngay-0282024-cua-vien-kiem-sat-nhan-dan-cap-cao-tai-a-nang-ve-vu-an-dan-su-tranh-chap-hop-ong-at-coc

-------------------------

27/09/2026

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 80/TB-VKS-HC NGÀY 28/10/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ VỤ ÁN “KHIẾU NẠI QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI”

👉 Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Ngày 23/10/2017, Sở TN&MT tỉnh K cấp Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 453612 cho ông N. V. M. Ông M xác nhận ngày 30/10/2017, ông nhận được Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 453612, đến tháng 03/2022 ông mới đọc nội dung và phát hiện Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ghi sai diện tích đất ở đô thị. Ngày 14/9/2022, ông M có Đơn kiến nghị gửi Giám đốc Sở TN&MT tỉnh K đề nghị xem xét lại diện tích đất ở đô thị đã cấp cho ông. Tại Công văn số 3060/STNMT-TTr ngày 21/10/2022, Sở TN&MT tỉnh K trả lời đơn kiến nghị của ông M và khẳng định: việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 453612 cho ông M là cấp đúng diện tích đất, loại đất và đúng quy định của pháp luật.

Ngày 10/10/2023, ông M nộp đơn khởi kiện tại Toà án yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Do Công văn số 3060/STNMT-TTr ngày 21/10/2022 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K có nội dung thể hiện diễn biến việc ra quyết định hành chính, kết quả kiểm tra, rà soát của cơ quan chức năng để ra kết luận về nội dung đơn kiến nghị của ông M nên công văn này được xác định là quyết định giải quyết khiếu nại và là quyết định hành chính bị kiện theo qui định tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

Như vậy, căn cứ quy định tại điểm a khoản 3 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện là 01 năm tính từ ngày 21/10/2022 nên việc ông M khởi kiện tại Toà án vẫn còn thời hiệu khởi kiện.

Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng, ông M nhận được Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 453612 của Sở TN&MT tỉnh K vào ngày 30/10/2017 đứng tên ông N. V. M. Đây là thời điểm ông M biết được quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm, nhưng đến ngày 10/10/2023 ông M mới khởi kiện vụ án hành chính ra Tòa án nhân dân tỉnh K để yêu cầu hủy Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 453612 là đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 là không đúng quy định của pháp luật. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.

Trên đây là những vi phạm của Tòa án nhân dân tỉnh K trong việc giải quyết vụ án hành chính nêu trên mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K không phát hiện kịp thời để thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm hoặc báo cáo đề nghị Viện kiểm sát cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trong khu vực cùng tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính tương tự./.

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây: https://luatnghinhphong.vn/articles/thong-bao-rut-kinh-nghiem-so-80tb-vks-hc-ngay-28102024-cua-vien-kiem-sat-nhan-dan-cap-cao-tai-a-nang-ve-vu-an-khieu-nai-quyet-inh-hanh-chinh-trong-linh-vuc-quan-ly-at-ai

-------------------------

27/09/2026

ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ XÁC ĐỊNH TIỀN LƯƠNG KHI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

👉 Tình huống pháp lý:

Trong bối cảnh quan hệ lao động ngày càng đa dạng và phức tạp, tranh chấp liên quan đến việc người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đang trở thành một trong những nhóm tranh chấp phổ biến trong thực tiễn xét xử. Khi xảy ra hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, pháp luật lao động quy định người sử dụng lao động phải thực hiện nhiều nghĩa vụ tài chính đối với người lao động, bao gồm trả tiền lương trong thời gian người lao động không được làm việc, bồi thường do chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, bồi thường do vi phạm thời hạn báo trước và các quyền lợi khác theo quy định của Bộ luật Lao động. Tuy nhiên, việc xác định khoản tiền lương nào được sử dụng làm căn cứ tính các nghĩa vụ này lại là vấn đề thường xuyên phát sinh tranh cãi trong thực tiễn.

Khó khăn chủ yếu xuất phát từ thực tế cơ cấu thu nhập của người lao động hiện nay không còn chỉ bao gồm mức lương cơ bản hoặc lương theo chức danh công việc. Nhiều doanh nghiệp xây dựng cơ chế thu nhập với nhiều thành phần khác nhau như phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp chuyên môn, tiền thưởng công việc, hỗ trợ chuyên cần, hỗ trợ điện thoại, hỗ trợ đi lại, hỗ trợ ăn trưa, nhà ở và nhiều khoản hỗ trợ khác. Trong không ít trường hợp, các khoản này được cộng gộp thành một mức thu nhập tổng thể được ghi nhận trong hợp đồng lao động hoặc bảng lương hàng tháng. Chính điều này dẫn đến cách hiểu khác nhau về khái niệm “tiền lương” khi áp dụng các quy định về bồi thường trong trường hợp người sử dụng lao động vi phạm nghĩa vụ hợp đồng lao động.

Về mặt pháp lý, khoản 1 Điều 90 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Đồng thời, Điều 104 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định tiền thưởng là khoản tiền hoặc tài sản mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh và mức độ hoàn thành công việc. Mặc dù pháp luật đã có sự phân biệt nhất định giữa tiền lương và tiền thưởng, song trong thực tiễn vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau đối với các khoản hỗ trợ hoặc các khoản thu nhập phát sinh có điều kiện.

Nội dung đề xuất án lệ:

“[2.3] Về mức lương, các khoản bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động: căn cứ Hợp đồng lao động số 001/HDLDNNN/YTH ngày 09/5/2024 các bên thỏa thuận: mức lương cơ bản 7.000.000 đồng, phụ cấp chức vụ 900.000 đồng, phụ cấp chuyên môn 500.000 đồng; thưởng công việc 16.560.000 đồng; các khoản hỗ trợ khác: chuyên cần 300.000 đồng, đi lại 350.000 đồng, điện thoại 390.000 đồng, phụ cấp khác 1.000.000 đồng; tổng cộng 27.000.000 đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 90 Bộ luật Lao động năm 2019: “Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”. Đối chiếu quy định trên thì thấy rằng, Hợp đồng số 001 có quy định tiền thưởng công việc là 16.560.000 đồng, không nằm trong tiền lương, các khoản hỗ trợ khác bao gồm: chuyên cần 300.000 đồng, đi lại 350.000 đồng, điện thoại 390.000 đồng, phụ cấp khác 1.000.000 đồng chỉ được chi trả khi người lao động thực tế làm việc tại Công ty, từ ngày 24/7/2024 thì nguyên đơn không còn làm việc tại Công ty N không được chi trả các khoản này. Từ tháng 5/2024 đến tháng 6/2024 bị đơn Công ty C1 cũng đóng bảo hiểm xã hội cho ông Z với mức lương 8.400.000 đồng/ tháng. Do đó, chỉ có căn cứ xác định mức lương bồi thường cho ông Z từ ngày 01/8/2024 đến ngày 14/4/2026 là 8.400.000 đồng/ tháng (mức lương cơ bản 7.000.000 đồng, phụ cấp chức vụ 900.000 đồng, phụ cấp chuyên môn 500.000 đồng); Tòa án cấp sơ thẩm xác định mức lương 27.000.000 đồng/ tháng là chưa đúng quy định của pháp luật….”.

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây: https://luatnghinhphong.vn/articles/e-xuat-an-le-ve-xac-inh-tien-luong-khi-giai-quyet-tranh-chap-lao-ong-oi-voi-hop-ong-lao-ong

-------------------------

26/09/2026

NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP ĐÒI TÀI SẢN (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 11/2024/DS-GĐT NGÀY 22/4/2024 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO)

Quyết định giám đốc thẩm số 11/2024/DS-GĐT ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân tối cao hủy Bản dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Đòi tài sản” giữa nguyên đơn là ông Phạm Thanh H với bị đơn là ông Trần Thái M và bà Nguyễn Thị N.

👉 Nội dung hủy án:

“[2] Hai biên lai chuyển tiền đề ngày 10/9/2011 và ngày 24/10/2011 thể hiện: ông H đã chuyển 02 lần, mỗi lần 5000 Bảng Anh vào tài khoản của ông M tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Như vậy, việc ông H chuyển số tiền 10.000 Bảng Anh vào tài khoản của ông M là có thật; ông M, bà N không có chứng cứ chứng minh về việc được ông H tặng cho số tiền này. Do đó, không có cơ sở xác định số tiền 10.000 Bảng Anh là tiền ông H tặng cho ông M, bà N. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, buộc ông M, bà N trả cho ông H số tiền 300.000.000 đồng (tương đương với số tiền đã mượn là 10.000 Bảng Anh) là có cơ sở. Tòa án cấp phúc thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của ông M, bà H, hai bức hình chụp chung giữa hai gia đình, từ đó xác định số tiền 10.000 Bảng Anh ông H chuyển cho ông M là tiền tặng cho và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H là không có cơ sở.”

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây: https://luatnghinhphong.vn/articles/nguon-an-le-ve-viec-tranh-chap-oi-tai-san-quyet-inh-giam-oc-tham-so-112024ds-gt-ngay-2242024-cua-toa-an-nhan-dan-toi-cao

-------------------------

Address

Nguyễn Đình Chiểu, P. Đakao, Q. 1
Tp. Hcm

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Ls Trần Thanh Tiến posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Ls Trần Thanh Tiến:

Shortcuts

Share