Luật sư tư vấn Ly Hôn Nhanh

Luật sư tư vấn Ly Hôn Nhanh Công ty Luật HPL & Cộng sự
Luật sư, Ths. Đặng Thị Thúy Huyền
📞 079 888 1979
📧 [email protected]

19/06/2026

Nhân dịp Kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, tạp chí xin giới thiệu những chia sẻ về nghề viết của Luật sư - Thạc sĩ Đặng Thị Thúy Huyền thông qua bài viết Người 'nhặt chữ': Nghề dễ bị đọc nhất, cũng dễ bị phán...

KHI ĐÀN BÀ KHÔNG LY HÔN… NHƯNG CHẲNG CÒN CẦN CHỒNG NỮANgười ta thường nghĩ một cuộc hôn nhân chỉ thực sự kết thúc khi tò...
16/06/2026

KHI ĐÀN BÀ KHÔNG LY HÔN… NHƯNG CHẲNG CÒN CẦN CHỒNG NỮA

Người ta thường nghĩ một cuộc hôn nhân chỉ thực sự kết thúc khi tòa án ký vào bản án ly hôn. Nhưng thực tế có những cuộc hôn nhân đã tan vỡ từ rất lâu trước khi tờ giấy ly hôn xuất hiện. Hai người vẫn sống dưới một mái nhà, vẫn là vợ chồng trên giấy tờ, vẫn cùng nhau dự đám cưới, đám giỗ hay những cuộc họp phụ huynh của con. Chỉ có điều, giữa họ không còn tình yêu, không còn sự sẻ chia và cũng không còn sự cần nhau.

Phụ nữ hiếm khi rời bỏ một cuộc hôn nhân chỉ sau một lần tổn thương. Họ thường cho đi thêm một cơ hội, rồi thêm một cơ hội nữa. Khi bị bỏ mặc, họ tự nhủ rằng chồng đang áp lực công việc. Khi bị vô tâm, họ nghĩ rằng ai cũng có lúc mệt mỏi. Khi bị làm tổn thương, họ lại cố gắng chịu đựng vì con cái, vì gia đình, vì những năm tháng đã cùng nhau xây dựng.

Nhưng sự chịu đựng nào cũng có giới hạn.

Điều đáng sợ nhất trong hôn nhân không phải là những trận cãi vã dữ dội, mà là ngày người phụ nữ không còn muốn cãi nữa. Bởi khi còn trách móc nghĩa là họ vẫn còn quan tâm. Khi còn giận hờn nghĩa là họ vẫn còn hy vọng. Còn khi họ im lặng trước mọi chuyện, không hỏi chồng đi đâu, không quan tâm chồng về lúc mấy giờ, không còn chờ đợi một lời giải thích hay một sự thay đổi nào, đó mới là lúc khoảng cách giữa hai người trở nên xa nhất.

Nhiều người đàn ông nhìn thấy sự im lặng ấy và cho rằng vợ mình đã trưởng thành hơn, hiểu chuyện hơn. Nhưng đôi khi sự thật hoàn toàn ngược lại. Không phải người phụ nữ hiểu chuyện hơn, mà là họ đã học được cách sống mà không cần người đàn ông bên cạnh nữa.

Họ tự kiếm tiền, tự chăm sóc con cái, tự giải quyết những áp lực cuộc sống, tự vượt qua những ngày khó khăn nhất. Từ chỗ từng mong được dựa vào một bờ vai, họ dần quen với việc tự mình gánh vác tất cả. Và rồi đến một ngày, họ nhận ra rằng sự hiện diện của chồng trong cuộc đời mình gần như không còn tạo ra khác biệt.

Đó là một trạng thái rất buồn của hôn nhân. Bởi người phụ nữ lúc ấy không còn đau đớn vì những điều đã xảy ra. Họ cũng không còn trách móc người đã làm mình tổn thương. Họ chỉ đơn giản là không còn kỳ vọng. Mà khi kỳ vọng không còn, tình yêu cũng dần biến mất.

Có một câu nói rất đáng suy ngẫm: Người phụ nữ rời bỏ bạn không phải vào ngày cô ấy xách vali ra khỏi nhà, mà là ngày cô ấy ngừng chờ đợi bạn thay đổi.

Trên thực tế, không ít cuộc hôn nhân vẫn tồn tại nhiều năm trong trạng thái như vậy. Không ly hôn vì con cái, vì trách nhiệm, vì cha mẹ hai bên hoặc đơn giản vì không muốn xáo trộn cuộc sống. Nhưng sự tồn tại đó chỉ là hình thức. Bên trong, trái tim của người phụ nữ đã rời đi từ rất lâu.

Và có lẽ, đó mới là mất mát lớn nhất của một người đàn ông. Không phải mất người vợ trên giấy tờ, mà là mất đi người từng yêu thương mình bằng tất cả sự chân thành. Mất đi người từng xem mình là chỗ dựa, là cả thế giới của họ.

Bởi đàn bà khi yêu có thể hy sinh rất nhiều. Họ có thể chịu đựng khó khăn, tha thứ những lỗi lầm và cùng người đàn ông đi qua những ngày giông bão nhất. Nhưng khi sự tổn thương tích tụ quá lâu, khi những thất vọng lặp đi lặp lại quá nhiều lần, trái tim ấy cũng sẽ đến lúc khép lại.

Khi đó, họ có thể vẫn ở lại. Nhưng sự ở lại ấy không còn là tình yêu.

Họ không ly hôn.

Nhưng họ cũng không còn cần chồng nữa.

Và đôi khi, đó mới là dấu chấm hết thật sự của một cuộc hôn nhân.

05/06/2026
Đã ký xác nhận “không có tài sản chung” khi ly hôn, 9 năm sau có được kiện đòi chia nhà đất?Một người chồng khởi kiện yê...
29/05/2026

Đã ký xác nhận “không có tài sản chung” khi ly hôn, 9 năm sau có được kiện đòi chia nhà đất?

Một người chồng khởi kiện yêu cầu chia căn nhà và xe ô tô được hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Ông cho rằng khi làm thủ tục ly hôn năm 2016, vì muốn giải quyết nhanh nên hai bên khai không có tài sản chung, nhưng thực tế vẫn còn khối tài sản trị giá hàng tỷ đồng chưa được phân chia.

Nghe qua, nhiều người sẽ cho rằng đây là vụ tranh chấp tài sản chung sau ly hôn và Tòa án cần xác định nhà đất là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng.

Tuy nhiên, TAND TP.HCM trong Bản án phúc thẩm số 42/2025/HNGĐ-PT lại nhìn nhận vụ việc ở một góc độ hoàn toàn khác.

Vấn đề không nằm ở chỗ căn nhà có phải tài sản chung hay không.

Vấn đề nằm ở chỗ các bên đã từng thỏa thuận với nhau và được Tòa án ghi nhận bằng một quyết định có hiệu lực pháp luật rằng “không có tài sản chung”.

Theo hồ sơ vụ án, ông A và bà L đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 170/2016/QĐHNGĐ-ST ngày 14/3/2016 của TAND quận Tân Phú. Trong quyết định này, chính ông A và bà L xác định không có tài sản chung. Quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định việc xác định có hay không có tài sản chung là quyền quyết định và quyền tự định đoạt của đương sự theo Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Khi các bên đã thống nhất về vấn đề tài sản và sự thỏa thuận đó đã được Tòa án ghi nhận bằng một quyết định có hiệu lực pháp luật thì quan hệ tài sản giữa họ đã được giải quyết xong.

Nói cách khác, đây không còn là câu chuyện chia tài sản sau ly hôn, mà là câu chuyện về hiệu lực pháp lý của một quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Chính vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm xác định yêu cầu khởi kiện của ông A thuộc trường hợp vụ việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Theo điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện. Việc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết yêu cầu chia tài sản của ông A là không đúng pháp luật.

Đây là điểm rất đáng lưu ý trong thực tiễn giải quyết án hôn nhân gia đình. Nhiều người khi ly hôn vì muốn thủ tục diễn ra nhanh chóng nên đồng ý ghi nhận “không có tài sản chung”, hoặc tự thỏa thuận miệng với nhau mà không yêu cầu Tòa án ghi nhận cụ thể trong quyết định ly hôn.

Đến khi phát sinh tranh chấp nhiều năm sau, họ cho rằng tài sản vẫn là tài sản chung và yêu cầu Tòa án chia lại. Tuy nhiên, nếu trước đó các bên đã xác nhận không có tài sản chung và nội dung này đã được ghi nhận trong quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật thì khả năng khởi kiện lại sẽ gặp trở ngại rất lớn.

Bài học pháp lý từ vụ án không phải là “ly hôn rồi vẫn được chia tài sản hay không”, mà là: một khi quyền tự định đoạt của các bên đã được thể hiện trong quyết định công nhận thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật thì sự thỏa thuận đó không thể tùy tiện thay đổi chỉ vì một bên sau này thay đổi ý chí hoặc cho rằng mình bị thiệt thòi.

Bài viết thuộc quyền tác giả của Luật sư, ThS. Đặng Thị Thúy Huyền. Mọi hành vi copy, sao chép, chỉnh sửa, đăng tải lại hoặc khai thác nội dung khi chưa được sự đồng ý của tác giả có dấu hiệu vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022 và Luật số 131/2025/QH15 có hiệu lực từ 01/4/2026; đặc biệt liên quan các quy định về quyền tác giả, quyền tài sản và hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

LUẬT SƯ CỦA BẠN
✔️ Tư vấn pháp luật
✔️ Tham gia tranh tụng và trọng tài
✔️ Đại diện ngoài tố tụng
✔️ Dịch vụ tư vấn đầu tư
✔️ Sở hữu trí tuệ
www.luathpl.com









“Cha muốn giành quyền nuôi con sau ly hôn chỉ vì mẹ tái hôn: Tòa nói không đủ căn cứ”Trong rất nhiều vụ ly hôn, có một s...
23/05/2026

“Cha muốn giành quyền nuôi con sau ly hôn chỉ vì mẹ tái hôn: Tòa nói không đủ căn cứ”

Trong rất nhiều vụ ly hôn, có một suy nghĩ xuất hiện khá phổ biến: chỉ cần người trực tiếp nuôi con đi bước nữa thì bên còn lại có quyền lấy lại quyền nuôi con. Nhưng thực tế pháp luật không nhìn vấn đề bằng cảm xúc hay danh nghĩa “cha ruột”, mà đặt lợi ích và sự ổn định của đứa trẻ lên trên hết.

Bản án phúc thẩm số 25/2024/HNGĐ-PT của TAND tỉnh Đồng Tháp là một ví dụ rất đáng chú ý về giới hạn của quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

Trong vụ việc này, sau khi ly hôn, hai bên thống nhất giao con cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Người cha có quyền thăm nom, chăm sóc, đưa đón con cuối tuần. Tuy nhiên, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Người cha cho rằng mình bị cản trở việc thăm nom, đồng thời cho rằng việc người mẹ tái hôn sẽ ảnh hưởng đến việc chăm sóc con nên khởi kiện yêu cầu thay đổi quyền nuôi con.

Nhưng Tòa án đã bác yêu cầu.

Điều đáng chú ý là Hội đồng xét xử không phủ nhận tình cảm hay quyền làm cha của người đàn ông. Tòa cũng ghi nhận người cha có công việc, thu nhập ổn định và có điều kiện chăm sóc con. Tuy nhiên, pháp luật về hôn nhân gia đình không mặc định “cha tốt hơn mẹ” hay “mẹ tái hôn thì mất quyền nuôi con”.

Khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định chỉ được thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có một trong hai căn cứ: cha mẹ có thỏa thuận phù hợp với lợi ích của con hoặc người đang trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Nói cách khác, muốn giành lại quyền nuôi con không thể chỉ dựa vào mâu thuẫn sau ly hôn, cảm giác bị hạn chế thăm con hay việc bên kia có gia đình mới. Phải chứng minh được người đang nuôi con thật sự không còn đủ điều kiện để bảo đảm lợi ích của đứa trẻ.

Trong vụ án này, Tòa nhận định người mẹ vẫn có việc làm, thu nhập ổn định, vẫn trực tiếp chăm sóc con bình thường và chưa có chứng cứ cho thấy đứa trẻ bị bỏ bê, bạo hành hay phát triển không lành mạnh. Việc người mẹ tái hôn, theo Tòa, không tự động đồng nghĩa với việc mất khả năng nuôi con.

Đây là điểm rất nhiều người hiểu sai sau ly hôn. Pháp luật Việt Nam không xem việc tái hôn là “lỗi” hay yếu tố bất lợi mặc nhiên trong tranh chấp quyền nuôi con. Nếu áp dụng suy nghĩ “có chồng mới thì không được nuôi con”, điều đó sẽ đi ngược nguyên tắc bình đẳng giới và quyền tự do hôn nhân của công dân.

Một chi tiết đáng chú ý khác là Tòa còn xem xét cả thái độ ứng xử giữa các bên sau ly hôn. Hồ sơ thể hiện mâu thuẫn xảy ra khi người cha đến thăm con nhưng có hành vi khiến gia đình bên mẹ căng thẳng, làm đứa trẻ không muốn gặp cha. Điều này cho thấy trong các vụ tranh chấp nuôi con, Tòa không chỉ nhìn vào tiền bạc hay nghề nghiệp mà còn đánh giá môi trường tâm lý và sự ổn định tinh thần của trẻ nhỏ.

Ở góc nhìn luật sư, đây là dạng vụ án rất điển hình cho thấy: quyền nuôi con sau ly hôn không phải “quyền sở hữu” để bên nào mạnh hơn thì lấy lại được. Một khi đã có bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật, muốn thay đổi phải chứng minh bằng chứng cứ thật sự rõ ràng về việc người đang nuôi con không còn đủ điều kiện.

Cảm xúc của người lớn có thể thay đổi sau ly hôn. Nhưng pháp luật thì ưu tiên sự ổn định của đứa trẻ hơn mọi cuộc hơn thua giữa cha và mẹ.

“Một người muốn ly hôn, người còn lại không đồng ý: Tòa án có thể buộc họ tiếp tục làm vợ chồng?”Có một nghịch lý rất ph...
22/05/2026

“Một người muốn ly hôn, người còn lại không đồng ý: Tòa án có thể buộc họ tiếp tục làm vợ chồng?”

Có một nghịch lý rất phổ biến trong các vụ án hôn nhân ở Việt Nam: nhiều người cho rằng “chưa có lỗi nghiêm trọng”, “không ngoại tình”, “không bạo lực”, “vẫn còn thương” thì Tòa án sẽ không cho ly hôn. Nhưng thực tế pháp luật hôn nhân không ép một người phải sống mãi trong cuộc hôn nhân mà họ đã hoàn toàn mất niềm tin và cảm xúc.

Bản án phúc thẩm số 02/2024/HNGĐ-PT của TAND tỉnh Tiền Giang là một ví dụ rất đáng chú ý về góc nhìn này.

Trong vụ án, người vợ cho rằng hôn nhân kéo dài nhiều năm mâu thuẫn vì bất đồng quan điểm, thường xuyên tranh cãi, không còn tiếng nói chung và đã ly thân từ tháng 02/2023. Bà cương quyết xin ly hôn. Trong khi đó, người chồng không đồng ý vì cho rằng “không có mâu thuẫn lớn”, vẫn còn tình cảm và muốn đoàn tụ để chăm sóc con đang bị trầm cảm.

Điều đáng chú ý là cấp sơ thẩm đã bác yêu cầu ly hôn của người vợ. Tòa sơ thẩm cho rằng chưa đủ căn cứ chứng minh hôn nhân trầm trọng.

Nhưng lên phúc thẩm, TAND tỉnh Tiền Giang đã sửa án, cho ly hôn.

Điểm đáng phân tích nằm ở tư duy pháp lý của Hội đồng xét xử phúc thẩm. Tòa không nhìn hôn nhân theo kiểu “còn ở chung nhà hay không”, “có đánh đập hay không”, mà nhìn vào bản chất của đời sống hôn nhân: liệu mối quan hệ đó còn tồn tại ý nghĩa thực sự hay chỉ còn là hình thức pháp lý.

HĐXX xác định rằng người vợ đã kiên quyết ly hôn trong suốt quá trình tố tụng từ sơ thẩm đến phúc thẩm; hai bên thường xuyên mâu thuẫn; người chồng nói còn tình cảm nhưng lại không có giải pháp thực tế để hàn gắn. Đặc biệt, Tòa nhấn mạnh việc kéo dài quan hệ hôn nhân “sẽ không mang lại hạnh phúc”.

Đây là điểm rất đáng chú ý trong áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Điều luật này quy định khi “mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được” thì Tòa có quyền cho ly hôn theo yêu cầu một bên.

Nhiều người hiểu sai rằng phải có ngoại tình, đánh đập, xúc phạm nghiêm trọng thì mới được xem là “mâu thuẫn trầm trọng”. Tuy nhiên hoàn toàn không phải vậy.

Trong thực tiễn xét xử, có những cuộc hôn nhân chết dần bằng sự im lặng, lạnh nhạt, mất kết nối, không còn tôn trọng nhau, không còn muốn chia sẻ đời sống tinh thần. Những thứ đó khó chứng minh bằng hình ảnh hay giấy tờ, nhưng lại là dấu hiệu rõ nhất cho thấy “mục đích hôn nhân không đạt được”.

Đáng chú ý hơn, trong vụ án này người chồng cho rằng vẫn còn tình cảm và muốn giữ gia đình vì con đang bị trầm cảm. Đây là một lý do rất nhân văn. Nhưng pháp luật hôn nhân Việt Nam không xây dựng trên nguyên tắc “một người muốn giữ là giữ được”.

Tình cảm không thể cưỡng ép bằng bản án.

Tòa án cũng không có chức năng “cứu hôn nhân bằng mọi giá”. Chức năng của Tòa là đánh giá xem quan hệ đó còn khả năng tồn tại thật sự hay không.

Ở góc độ xã hội, nhiều người vẫn mang tư duy rằng người xin ly hôn là người ích kỷ hoặc “không biết chịu đựng”. Nhưng pháp luật hiện đại không cổ vũ việc kéo dài một cuộc hôn nhân đã đổ vỡ chỉ để duy trì danh nghĩa.

Một cuộc hôn nhân không còn tình cảm nhưng bị kéo dài cưỡng ép đôi khi lại tạo ra tổn thương tinh thần nặng nề hơn cho cả hai bên và cho con cái.

Điểm rất hay trong bản án này là Tòa phúc thẩm không đi tìm “ai đúng ai sai tuyệt đối”. HĐXX nhìn vào thực tế: người vợ đã mất hoàn toàn ý chí tiếp tục hôn nhân; người chồng dù nói còn tình cảm nhưng không chứng minh được khả năng hàn gắn thực sự. Khi đó, việc buộc họ tiếp tục quan hệ vợ chồng chỉ còn là sự tồn tại trên giấy.

Đây cũng là xu hướng xét xử ngày càng phổ biến hiện nay: quyền được ly hôn được nhìn nhận như một phần của quyền tự do nhân thân và quyền được lựa chọn đời sống hạnh phúc của mỗi cá nhân.

Nói cách khác, pháp luật có thể bảo vệ hôn nhân, nhưng không thể bắt một người phải tiếp tục yêu thương bằng mệnh lệnh của Tòa án.

Và đôi khi, một bản án cho ly hôn không phải là sự thất bại của pháp luật. Ngược lại, đó có thể là cách pháp luật chấm dứt một cuộc hôn nhân đã không còn cứu vãn được nữa.

LUẬT SƯ CỦA BẠN
✔️ Tư vấn pháp luật
✔️ Tham gia tranh tụng và trọng tài
✔️ Đại diện ngoài tố tụng
✔️ Dịch vụ tư vấn đầu tư
✔️ Sở hữu trí tuệ
www.luathpl.com


&Partners






“Mẹ luôn được quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi? Không hẳn.”Nhiều người vẫn nghĩ rằng cứ con dưới 36 tháng tuổi thì mặc ...
17/05/2026

“Mẹ luôn được quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi? Không hẳn.”

Nhiều người vẫn nghĩ rằng cứ con dưới 36 tháng tuổi thì mặc nhiên giao cho mẹ nuôi sau ly hôn. Nhưng Bản án số 43/2025/HNGĐ-PT của TAND tỉnh Phú Thọ lại cho thấy: pháp luật không bảo vệ “quyền của cha hay mẹ”, mà bảo vệ “quyền lợi tốt nhất của đứa trẻ”. Và trong nhiều trường hợp, người cha mới là người được giao trực tiếp nuôi con, dù đứa trẻ còn rất nhỏ.

Vụ án này đặc biệt ở chỗ người mẹ sinh con tháng 8/2023, nhưng khi con mới khoảng 4 tháng tuổi thì rời nhà chồng về nhà ngoại điều trị bệnh trầm cảm, để con lại cho cha và ông bà nội chăm sóc suốt thời gian dài. Trong quá trình giải quyết ly hôn, người mẹ yêu cầu được nuôi con vì cho rằng bản thân có điều kiện chăm sóc và pháp luật ưu tiên mẹ đối với trẻ dưới 36 tháng tuổi. Tuy nhiên, cả cấp sơ thẩm lẫn phúc thẩm đều giao con cho người cha trực tiếp nuôi dưỡng.

Điểm đáng chú ý là Tòa không chỉ căn cứ vào “giới tính của người nuôi”, mà đánh giá toàn diện quá trình chăm sóc thực tế, môi trường sống ổn định và sức khỏe tâm lý của người mẹ. Hồ sơ vụ án thể hiện đứa trẻ từ nhỏ đã sống cùng cha và ông bà nội, được chăm sóc ổn định, khỏe mạnh, học mầm non gần nhà, phát triển bình thường. Trong khi đó, người mẹ có hồ sơ điều trị trầm cảm mức độ nặng, từng có ý nghĩ tự sát và chưa cung cấp được tài liệu chứng minh bệnh đã ổn định hoàn toàn.

Quan trọng hơn, Hội đồng xét xử viện dẫn trực tiếp Án lệ số 54/2022/AL của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao về “Xác định quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi trong trường hợp người mẹ không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”. Đây là án lệ có ý nghĩa rất lớn vì nó phá bỏ suy nghĩ phổ biến rằng mẹ luôn có “đặc quyền tuyệt đối” trong việc nuôi con nhỏ.

Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, “trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Nghĩa là luật chưa bao giờ mặc định giao con cho mẹ trong mọi trường hợp. Cái Tòa cần nhìn là: ai đang thực sự chăm sóc đứa trẻ, ai tạo được môi trường sống ổn định hơn, ai đảm bảo sự phát triển bình thường về thể chất và tâm lý cho con.

Ở góc độ luật sư, đây là dạng vụ án khiến rất nhiều người bất ngờ vì họ bước vào phiên tòa với tâm lý “mẹ chắc chắn thắng”. Nhưng thực tế, tranh chấp quyền nuôi con hiện nay không còn là cuộc chiến cảm tính. Tòa án ngày càng đánh giá bằng chứng rất thực tế: ai trực tiếp nuôi con nhiều hơn, ai có thời gian chăm sóc, ai giữ được sự ổn định tâm lý cho trẻ, ai tạo được môi trường sống an toàn và liên tục.

Một chi tiết rất đáng suy ngẫm trong bản án là Tòa nhấn mạnh việc thay đổi môi trường sống của cháu bé vào thời điểm này có thể gây xáo trộn cuộc sống của trẻ. Điều đó cho thấy pháp luật hiện đại không chỉ nhìn vào “quyền làm cha mẹ”, mà còn nhìn bằng góc độ tâm lý trẻ em. Có những vụ án, người thắng không phải người thương con nhiều hơn, mà là người chứng minh được mình phù hợp hơn với sự ổn định của con ở thời điểm xét xử.

Và cũng từ vụ án này, nhiều người sẽ phải nhìn lại một điều: trong tranh chấp nuôi con, tình mẫu tử hay tình phụ tử đều không phải “lá bùa pháp lý tuyệt đối”. Điều quyết định cuối cùng vẫn là lợi ích tốt nhất cho đứa trẻ. Có những người mẹ rất thương con nhưng đang ở trạng thái tâm lý không ổn định. Có những người cha trước đây bị xem là “ít chăm con”, nhưng lại là người trực tiếp nuôi dưỡng, thức đêm, đưa đón, chăm sóc con suốt nhiều năm sau khi hôn nhân đổ vỡ. Pháp luật sẽ nhìn vào thực tế đó.

Ly hôn vốn đã là một bản án buồn. Nhưng đau lòng nhất không phải là ai thắng ai thua, mà là khi một đứa trẻ trở thành trung tâm của cuộc chiến cảm xúc giữa người lớn. Và trong những vụ án như thế, Tòa án không chọn “bên đúng”, mà phải chọn nơi ít tổn thương nhất cho đứa trẻ.

“Vợ xin ly hôn vì chồng lạnh nhạt, đi sớm về khuya, không chịu ra ở riêng nhưng Tòa vẫn bác đơn” – Không phải cứ hết tìn...
13/05/2026

“Vợ xin ly hôn vì chồng lạnh nhạt, đi sớm về khuya, không chịu ra ở riêng nhưng Tòa vẫn bác đơn” – Không phải cứ hết tình cảm là được ly hôn

Một trong những hiểu lầm rất phổ biến hiện nay là: chỉ cần một bên không còn muốn chung sống thì Tòa án sẽ cho ly hôn. Nhưng thực tế xét xử lại khác rất nhiều. Bản án phúc thẩm số 15/2024/HNGĐ-PT của TAND tỉnh An Giang là một ví dụ điển hình khi người vợ nhiều lần khẳng định hôn nhân không còn hạnh phúc, cuộc sống gia đình ngột ngạt, mâu thuẫn kéo dài, nhưng cuối cùng Tòa vẫn không chấp nhận yêu cầu ly hôn.

Theo hồ sơ vụ án, chị M và anh V kết hôn năm 2019, có ba người con chung còn nhỏ. Người vợ cho rằng sau thời gian đầu hạnh phúc, chồng bắt đầu đi sớm về khuya, ít quan tâm vợ con, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Chị cũng cho rằng trong quá trình sống chung với gia đình chồng, bản thân gặp nhiều áp lực, cảm thấy không được bênh vực nên nhiều lần đề nghị chồng ra ở riêng nhưng anh V không đồng ý. Từ đó mâu thuẫn ngày càng lớn, không còn tiếng nói chung nên chị khởi kiện xin ly hôn.

Trong khi đó, người chồng không đồng ý ly hôn. Anh cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không quá nghiêm trọng, bản thân vẫn còn tình cảm với vợ và mong muốn hàn gắn để cùng chăm sóc ba con nhỏ. Phía chồng cũng cho rằng nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những va chạm nhỏ trong đời sống gia đình, không phải mâu thuẫn đến mức không thể tiếp tục chung sống.

Điều đáng chú ý là cả cấp sơ thẩm lẫn phúc thẩm đều bác yêu cầu ly hôn của người vợ.

Tòa án nhận định rằng giữa hai người đúng là có xảy ra mâu thuẫn, nhưng chưa đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân đã “trầm trọng”, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Đây là điểm rất quan trọng về mặt pháp lý.

Nhiều người nghĩ rằng ly hôn là quyền tuyệt đối, chỉ cần một bên muốn chấm dứt là có thể ly hôn ngay. Nhưng trong ly hôn đơn phương, pháp luật Việt Nam không tiếp cận theo hướng “muốn là được”. Tòa án phải xem xét liệu quan hệ hôn nhân có thật sự đổ vỡ đến mức không thể cứu vãn hay chưa.

Trong vụ án này, Hội đồng xét xử đánh giá các mâu thuẫn chủ yếu xuất phát từ áp lực kinh tế, khác biệt trong sinh hoạt gia đình và việc sống chung với gia đình chồng. Người chồng vẫn thể hiện mong muốn đoàn tụ, còn quan tâm vợ con, chưa có hành vi bạo lực hay vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng được chứng minh rõ ràng.

Đặc biệt, Tòa cũng đặt nặng yếu tố ba người con còn rất nhỏ.

Theo nhận định của Hội đồng xét xử, cả hai còn trẻ, các con đều cần sự chăm sóc của cha mẹ, trong khi những mâu thuẫn hiện tại chưa đến mức không thể hàn gắn. Vì vậy, Tòa cho rằng cần tạo điều kiện để vợ chồng có thêm thời gian hòa giải, khắc phục bất đồng thay vì chấm dứt hôn nhân ngay bằng một bản án ly hôn.

Đây cũng là tư duy xét xử khá phổ biến trong nhiều vụ ly hôn hiện nay, đặc biệt khi có con nhỏ.

Pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam không chỉ bảo vệ quyền tự do ly hôn, mà còn hướng đến việc duy trì sự ổn định gia đình nếu vẫn còn khả năng đoàn tụ. Vì vậy, không phải mọi cuộc hôn nhân có mâu thuẫn đều được xem là đã “trầm trọng” theo nghĩa pháp lý.

Một chi tiết đáng chú ý khác là người vợ yêu cầu được nuôi cả ba con và yêu cầu cấp dưỡng, nhưng do Tòa không chấp nhận ly hôn nên các vấn đề về con chung, tài sản chung cũng không được xem xét giải quyết trong vụ án này.

Bản án cũng phản ánh một thực tế rất phổ biến trong đời sống hôn nhân hiện nay: nhiều cặp vợ chồng không xảy ra bạo lực hay phản bội rõ ràng, nhưng sự lạnh nhạt, thiếu chia sẻ, áp lực khi sống chung với gia đình hai bên và những mâu thuẫn kéo dài âm thầm mới chính là thứ khiến hôn nhân rạn nứt.

Tuy nhiên, dưới góc độ pháp luật, cảm giác “không còn hạnh phúc” vẫn chưa đủ. Điều quan trọng là phải chứng minh được rằng quan hệ hôn nhân đã thực sự rơi vào tình trạng không thể cứu vãn, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không còn đạt được nữa.

Đó cũng là lý do có những vụ án mà một bên đã hoàn toàn muốn chấm dứt hôn nhân, nhưng Tòa án vẫn quyết định: chưa đủ căn cứ để cho ly hôn.

“Được giao nuôi 3 con sau ly hôn nhưng không trực tiếp chăm sóc, người cha bị Tòa thay đổi quyền nuôi con: ‘Con muốn ở v...
12/05/2026

“Được giao nuôi 3 con sau ly hôn nhưng không trực tiếp chăm sóc, người cha bị Tòa thay đổi quyền nuôi con: ‘Con muốn ở với ai thì người đó nuôi’ không phải là cách pháp luật bảo vệ trẻ em”

Không ít người sau ly hôn vẫn nghĩ rằng: chỉ cần hai bên từng “thỏa thuận miệng” với nhau thì sau này muốn thay đổi thế nào cũng được. Có người giao con cho bên kia nuôi một thời gian dài rồi mặc nhiên xem đó là trách nhiệm của đối phương. Có người cho rằng con muốn sống với ai thì người đó phải tự nuôi, cha hoặc mẹ không cần cấp dưỡng. Nhưng bản án phúc thẩm số 27/2025/HNGĐ-PT của TAND tỉnh Cà Mau cho thấy một nguyên tắc rất rõ của pháp luật hôn nhân gia đình: quyền lợi của con chưa thành niên luôn được đặt cao hơn sự thoải mái hay ý chí cá nhân của cha mẹ.

Vụ án bắt đầu từ cuộc hôn nhân giữa bà Phạm Mộng N và ông Trần Hải Đ. Hai người kết hôn năm 2014 và có ba người con chung. Khi ly hôn thuận tình vào cuối năm 2023, hai bên thỏa thuận giao cả ba con cho người cha trực tiếp nuôi dưỡng, người mẹ không phải cấp dưỡng. Thỏa thuận này được Tòa án công nhận bằng quyết định thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật.

Nhưng chỉ một thời gian sau ly hôn, tình hình thay đổi hoàn toàn.

Người mẹ cho rằng ông Đ không còn trực tiếp nuôi con, bỏ các cháu sống với người khác, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chăm sóc nên yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, giao cả ba cháu cho bà chăm sóc. Đồng thời bà yêu cầu người cha phải cấp dưỡng mỗi tháng 1,5 triệu đồng cho mỗi con và yêu cầu chia tài sản chung là chiếc tàu cá trị giá khoảng 129 triệu đồng.

Điều đáng chú ý là tại phiên tòa, người cha phản đối yêu cầu cấp dưỡng với lập luận rất phổ biến trong thực tế: “Con muốn sống với ai thì người đó nuôi”.

Nhiều người nghĩ lập luận này hợp lý.

Nhưng về mặt pháp lý, đây lại là suy nghĩ hoàn toàn sai.

Tòa án tỉnh Cà Mau đã bác quan điểm đó và giữ nguyên bản án sơ thẩm, buộc người cha phải cấp dưỡng cho cả ba người con dù các cháu có nguyện vọng ở với mẹ.

Lý do nằm ở bản chất của nghĩa vụ cấp dưỡng theo Luật Hôn nhân và Gia đình.

Theo Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, cha mẹ không trực tiếp nuôi con vẫn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Đây là nghĩa vụ bắt buộc, phát sinh từ quan hệ huyết thống và trách nhiệm làm cha mẹ, chứ không phụ thuộc vào việc con thích ở với ai hay cha mẹ có “muốn cấp dưỡng hay không”.

Nói cách khác, cấp dưỡng nuôi con không phải là “sự tự nguyện hỗ trợ”, mà là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc.

Trong vụ án này, điều khiến Tòa thay đổi quyền nuôi con không chỉ nằm ở tranh chấp giữa cha và mẹ, mà còn ở thực tế ai mới là người trực tiếp chăm sóc các cháu.

Hồ sơ vụ án thể hiện sau ly hôn, ông Đ chỉ chăm sóc con trong một thời gian ngắn rồi các cháu quay về sống với mẹ. Chính ông Đ cũng thừa nhận việc bà N quay lại đón các con vì ông không còn chỗ ở ổn định. Quan trọng hơn, Tòa ghi nhận ý kiến của các cháu đều có nguyện vọng tiếp tục sống với mẹ.

Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng.

Pháp luật Việt Nam không xem con cái là “tài sản” để cha mẹ muốn giao cho ai thì giao. Khi giải quyết tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con, Tòa án luôn phải xem xét tổng thể các điều kiện về vật chất, tinh thần, môi trường sống, thời gian chăm sóc và đặc biệt là quyền lợi tốt nhất của trẻ em.

Trong vụ án này, Tòa xác định người cha không còn đủ điều kiện trực tiếp chăm sóc con vì đã có gia đình khác, không ổn định nơi ở, trong khi người mẹ đang trực tiếp nuôi dưỡng các cháu và bảo đảm điều kiện sinh hoạt, học tập ổn định.

Điều đáng chú ý hơn nữa là lập luận của Tòa về mức cấp dưỡng.

Ông Đ cho rằng không đồng ý cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử khẳng định nghĩa vụ cấp dưỡng không phụ thuộc vào sự đồng ý của người có nghĩa vụ. Tòa còn viện dẫn hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao rằng tiền cấp dưỡng phải bảo đảm các chi phí thiết yếu cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và mức cấp dưỡng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng tính trên mỗi người con nếu không có thỏa thuận khác phù hợp.

Với ba người con, mức 1,5 triệu đồng/tháng/cháu mà người mẹ yêu cầu được Tòa xác định là phù hợp điều kiện thực tế.

Một điểm khác của vụ án cũng phản ánh rất rõ thực tế đời sống sau ly hôn: tranh chấp tài sản chung dù giá trị không lớn nhưng luôn kéo dài vì yếu tố công sức quản lý và sử dụng thực tế.

Chiếc tàu cá là tài sản chung của vợ chồng nhưng sau ly hôn do người chồng trực tiếp quản lý, sử dụng và khai thác. Tòa án cuối cùng giao chiếc tàu cho người chồng tiếp tục sở hữu, nhưng buộc phải thanh toán lại cho người vợ một nửa giá trị tài sản.

Đây là cách giải quyết khá điển hình trong thực tiễn xét xử hiện nay: với tài sản mang tính nghề nghiệp hoặc cần người đang trực tiếp sử dụng tiếp tục khai thác, Tòa thường ưu tiên giao hiện vật cho người đang quản lý để tránh xáo trộn sinh kế, thay vì chia đôi bằng hiện vật.

Nhìn rộng hơn, bản án này cho thấy một thực tế rất đáng suy ngẫm: nhiều cặp vợ chồng nghĩ rằng ly hôn là kết thúc trách nhiệm, nhưng pháp luật lại nhìn khác. Quan hệ hôn nhân có thể chấm dứt, nhưng trách nhiệm làm cha mẹ thì không.

Không ít người sau ly hôn chọn cách buông bỏ nghĩa vụ với con bằng suy nghĩ “đứa nào theo ai thì người đó tự lo”. Nhưng trong tư duy pháp lý hiện đại, con cái không thể trở thành nạn nhân của sự đổ vỡ hôn nhân.

Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con bất cứ lúc nào nếu chứng minh được bên đang nuôi không còn bảo đảm quyền lợi cho trẻ. Và dù không trực tiếp nuôi, cha hoặc mẹ vẫn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng cho đến khi con trưởng thành hoặc có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân.

Đó không chỉ là nghĩa vụ pháp luật.

Mà còn là giới hạn cuối cùng của trách nhiệm làm cha mẹ sau một cuộc hôn nhân đổ vỡ.

“Vợ không ký giấy vay vẫn bị kéo vào vụ kiện?”: Ranh giới pháp lý cực mong manh giữa nợ riêng và nợ chung vợ chồngTrong ...
12/05/2026

“Vợ không ký giấy vay vẫn bị kéo vào vụ kiện?”: Ranh giới pháp lý cực mong manh giữa nợ riêng và nợ chung vợ chồng

Trong rất nhiều vụ kiện đòi nợ hiện nay, có một tình huống xảy ra cực kỳ phổ biến: tiền chỉ chuyển qua tài khoản của chồng, giấy nhận nợ chỉ chồng ký, nhưng khi ra tòa thì nguyên đơn lại yêu cầu cả người vợ phải liên đới trả nợ. Và ngược lại, không ít người vợ “ngã ngửa” khi bỗng nhiên bị đưa vào vụ án dù nói rằng mình hoàn toàn không biết chuyện vay mượn.

Bản án phúc thẩm số 848/2026/DS-PT ngày 29/4/2026 của TAND TP.HCM là một ví dụ điển hình, phản ánh rất rõ cách tòa án hiện nay nhìn nhận về “nợ chung – nợ riêng” trong hôn nhân, đặc biệt trong các giao dịch tài chính không có hợp đồng chặt chẽ, chỉ giao dịch qua chuyển khoản, tin nhắn Zalo và lời khai.

Theo hồ sơ vụ án, nguyên đơn cho rằng đã cho bị đơn vay hơn 6,7 tỷ đồng để thực hiện các giao dịch “đáo hạn ngân hàng” cho khách. Tuy nhiên, toàn bộ quá trình giao dịch chủ yếu thông qua tài khoản cá nhân của người chồng, việc chuyển tiền – nhận tiền – trả tiền đều diễn ra bằng sao kê ngân hàng và tin nhắn điện tử. Người vợ không ký nhận, không trực tiếp giao dịch, không đứng tên vay.

Điểm đặc biệt của vụ án này là nguyên đơn yêu cầu cả người vợ liên đới trả nợ với lý do đây là nghĩa vụ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Nhưng Tòa án không chấp nhận.

Vì sao?

Bởi pháp luật Việt Nam không mặc nhiên coi mọi khoản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân đều là “nợ chung”.

Đây là điểm mà rất nhiều người đang hiểu sai.

Theo Điều 27 và Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, nghĩa vụ chung của vợ chồng chỉ phát sinh khi khoản vay phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình, phục vụ hoạt động tạo lập tài sản chung, hoặc cả hai cùng thỏa thuận, cùng hưởng lợi, cùng biết và cùng tham gia.

Trong vụ án này, Tòa xác định giao dịch vay tiền thực chất phục vụ hoạt động “đáo hạn ngân hàng” mang tính nghề nghiệp, kinh doanh riêng của người chồng; tiền đi qua tài khoản cá nhân; người vợ không ký kết, không cùng thực hiện, không có chứng cứ chứng minh được hưởng lợi từ khoản tiền đó. Vì vậy, không đủ căn cứ buộc người vợ liên đới chịu trách nhiệm.

Đây là một nhận định rất quan trọng.

Bởi trên thực tế, rất nhiều chủ nợ có tâm lý: “cứ vay trong thời kỳ hôn nhân thì kiện luôn cả vợ/chồng cho chắc”. Nhưng pháp luật không cho phép suy đoán như vậy. Nghĩa vụ tài sản phải được chứng minh bằng chứng cứ chứ không thể dựa vào quan hệ hôn nhân để mặc nhiên ràng buộc người còn lại.

Một điểm pháp lý khác đáng chú ý trong vụ án là việc xác định tiền gốc và tiền lãi.

Nguyên đơn cho rằng ngoài số nợ gốc còn tồn tại một khoản gần 3 tỷ đồng là “lợi nhuận phát sinh” từ các giao dịch đáo hạn. Tuy nhiên, Tòa không chấp nhận vì không có chứng cứ thể hiện hai bên có thỏa thuận rõ ràng về khoản lợi nhuận này. Trong khi đó, bị đơn chứng minh được việc đã nhiều lần chuyển các khoản “tiền lời”, “chi phí” cho nguyên đơn thông qua sao kê và nội dung chuyển khoản.

Điều này cho thấy một nguyên tắc tố tụng cực kỳ quan trọng: ai yêu cầu thì phải chứng minh.

Trong các giao dịch dân sự bằng niềm tin, bằng quan hệ quen biết, bằng chuyển khoản không ghi nội dung rõ ràng, khi tranh chấp xảy ra thì chính người cho vay thường rơi vào thế bất lợi nếu không chứng minh được bản chất pháp lý của dòng tiền.

Đặc biệt, bản án còn đặt ra một vấn đề rất thực tế: hợp đồng vay không kỳ hạn, không thỏa thuận lãi thì tính lãi thế nào?

Tòa án xác định giữa các bên không có hợp đồng vay bằng văn bản, không có thỏa thuận cụ thể về thời hạn trả và lãi suất, nên đây là hợp đồng vay không kỳ hạn, không lãi theo Điều 469 BLDS 2015. Tuy nhiên, kể từ thời điểm nguyên đơn chính thức yêu cầu trả nợ mà bên vay không trả thì phát sinh nghĩa vụ trả lãi chậm trả theo Điều 466 và Điều 468 BLDS.

Điều đáng chú ý là nguyên đơn ban đầu không yêu cầu tính lãi, mãi sau mới bổ sung yêu cầu. Vì vậy, Tòa chỉ chấp nhận tính lãi từ thời điểm nguyên đơn chính thức yêu cầu tính lãi chứ không tính cho toàn bộ thời gian trước đó.

Nhiều người nghĩ rằng cứ cho vay là mặc nhiên được tính lãi từ ngày giao tiền. Thực tế không phải vậy. Trong tố tụng dân sự, thời điểm phát sinh lãi, căn cứ tính lãi và ý chí yêu cầu của nguyên đơn có ý nghĩa quyết định.

Từ bản án này có thể thấy, trong các quan hệ vay mượn hiện nay, đặc biệt là vay qua tài khoản, vay hộ, vay đáo hạn, vay bằng niềm tin, thì rủi ro pháp lý rất lớn nếu các bên không thiết lập chứng cứ rõ ràng.

Một tin nhắn Zalo có thể trở thành chứng cứ.

Một nội dung chuyển khoản có thể quyết định thắng thua.

Một người vợ dù không ký giấy vay vẫn có thể bị kiện nếu chủ nợ chứng minh được khoản vay phục vụ lợi ích gia đình.

Nhưng ngược lại, chỉ vì đang là vợ chồng cũng không đồng nghĩa phải “gánh nợ thay” cho người kia.

Ranh giới giữa nợ chung và nợ riêng đôi khi không nằm ở tờ giấy vay tiền… mà nằm ở việc chứng minh dòng tiền đó đã đi đâu, ai hưởng lợi và mục đích thật sự của giao dịch là gì.

Address

125/10 Nguyễn Văn Thương, Phường Thạnh Mỹ Tây,
Tp. Hồ Chí Minh

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật sư tư vấn Ly Hôn Nhanh posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share