Bản Án Dưới Góc Nhìn Luật Sư

Bản Án Dưới Góc Nhìn Luật Sư Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Bản Án Dưới Góc Nhìn Luật Sư, Lawyer & Law Firm, 125/10 Nguyễn Văn Thương, phường Thạnh Mỹ Tây,, Tp. Hồ Chí Minh.

24/08/2026

XÓA ÁN TÍCH RỒI, NHƯNG GOOGLE VẪN “GIỮ ÁN”: NGƯỜI TỪNG PHẠM TỘI BAO GIỜ MỚI THỰC SỰ ĐƯỢC LÀM LẠI CUỘC ĐỜI?

Một người đã chấp hành xong hình phạt, trở về xã hội, làm ăn lương thiện và đủ điều kiện được xóa án tích. Về pháp lý, Bộ luật Hình sự quy định rất rõ: người được xóa án tích được coi như chưa bị kết án.

Nhưng có một nghịch lý của thời đại số: án tích có thể được xóa trong hồ sơ pháp lý, còn “án tích trên Internet” thì có thể tồn tại mãi mãi.

Chỉ cần gõ tên trên Google, hàng loạt hình ảnh ngày bị bắt, bị dẫn giải, đứng trước vành móng ngựa lại xuất hiện. Facebook, TikTok, YouTube, fanpage tiếp tục sao chép những bức ảnh cũ để câu tương tác. Người đó xin việc, mở công ty, tìm đối tác, thậm chí con cái đi học vẫn có thể phải đối diện với quá khứ được thuật toán nhắc lại từng ngày.

Vậy câu hỏi cần đặt ra là: nếu pháp luật đã cho con người cơ hội xóa án tích để tái hòa nhập cộng đồng, xã hội số có nên biến quá khứ của họ thành một “bản án vĩnh viễn” hay không?

XÓA ÁN TÍCH KHÔNG CÓ NGHĨA MỌI BÀI BÁO CŨ PHẢI BIẾN MẤT

Cần nhìn vấn đề một cách cân bằng.

Một bài báo đăng đúng sự thật tại thời điểm vụ án xảy ra không mặc nhiên trở thành trái pháp luật chỉ vì sau này người phạm tội được xóa án tích. Lịch sử tư pháp không thể bị viết lại chỉ bằng việc xóa án tích.

Nhưng điều đó cũng không có nghĩa hình ảnh của một con người có thể bị khai thác vô thời hạn cho mọi mục đích.

Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015 vẫn xác định cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình; nguyên tắc chung là việc sử dụng hình ảnh phải được sự đồng ý, trừ những trường hợp luật cho phép.

Vì vậy phải phân biệt rất rõ: lưu trữ một bài báo cũ vì giá trị thông tin, lịch sử là một chuyện; đào lại ảnh tù nhân nhiều năm sau để làm thumbnail, câu view, chế giễu, quảng cáo hoặc gắn người đã tái hòa nhập với hai chữ “tội phạm” như một danh tính vĩnh viễn lại là chuyện khác.

ĐÃ XÓA ÁN TÍCH, CÓ ĐƯỢC YÊU CẦU XÓA ẢNH TRÊN MẠNG?

Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa thiết lập một “quyền được lãng quên” tuyệt đối theo nghĩa cứ xóa án tích là toàn bộ báo chí, công cụ tìm kiếm và mạng xã hội bắt buộc phải xóa mọi thông tin quá khứ.

Tuy nhiên, người có hình ảnh không phải hoàn toàn bất lực.

Ngoài quyền đối với hình ảnh theo Bộ luật Dân sự, hệ thống pháp luật bảo vệ dữ liệu cá nhân hiện hành cũng đặt ra các quyền của chủ thể dữ liệu và nghĩa vụ của bên xử lý dữ liệu. Nghị định 356/2025/NĐ-CP yêu cầu bên kiểm soát, xử lý dữ liệu phải có quy trình để cá nhân thực hiện các quyền của mình theo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân. Từ ngày 19/8/2026, Nghị định 330/2026/NĐ-CP tiếp tục bổ sung cơ chế xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Điều đó mở ra khả năng yêu cầu xem xét gỡ bỏ, hạn chế hoặc chấm dứt việc tiếp tục xử lý, phát tán hình ảnh trong những trường hợp không còn căn cứ hợp pháp, sử dụng sai mục đích hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân.

ĐIỀU ĐÁNG SỢ NHẤT KHÔNG PHẢI BỨC ẢNH CŨ, MÀ LÀ CÁCH NGƯỜI TA DÙNG NÓ Ở HIỆN TẠI

Một tấm ảnh năm 2018 có thể là thông tin báo chí hợp pháp tại thời điểm đó.

Nhưng năm 2026, nếu một fanpage lấy lại ảnh ấy và đăng: “Tên tội phạm này giờ đang kinh doanh…”, trong khi người đó đã chấp hành xong án, được xóa án tích và đang sinh sống bình thường, thì phải xem xét rất kỹ tính chính xác, mục đích sử dụng và tác động đến danh dự, uy tín của họ.

Đặc biệt, Điều 69 BLHS không chỉ nói về thủ tục hành chính. Cụm từ “coi như chưa bị kết án” thể hiện một chính sách hình sự rất nhân văn: pháp luật cho phép người đã trả giá cho hành vi của mình có cơ hội trở lại vị trí của một công dân bình thường.

Nếu Nhà nước xóa án tích nhưng xã hội số vẫn liên tục dùng bức ảnh cũ để “đóng dấu tội phạm” lên một con người, thì mục tiêu tái hòa nhập cộng đồng sẽ bị suy giảm đáng kể.

GÓC NHÌN LUẬT SƯ: CON NGƯỜI PHẢI CÓ QUYỀN ĐƯỢC BƯỚC RA KHỎI QUÁ KHỨ

Pháp luật hình sự có hình phạt, nhưng cũng có tha tù, chấp hành xong án, xóa án tích và tái hòa nhập cộng đồng. Đó không phải sự dễ dãi với người phạm tội mà là một phần của chính sách hình sự nhân đạo.

Một người đã trả xong món nợ với pháp luật không thể bị Internet bắt tiếp tục trả món nợ ấy suốt đời.

Điều cần xây dựng trong tương lai không nhất thiết là “xóa sạch lịch sử”, mà là một cơ chế cân bằng hơn: thông tin nào còn thực sự cần thiết vì lợi ích công cộng thì được lưu giữ; nhưng những hình ảnh bị sao chép, khai thác lại vô hạn, mất bối cảnh hoặc chỉ nhằm câu view cần có cơ chế để cá nhân yêu cầu hạn chế, gỡ bỏ hoặc ngừng lan truyền.

Xóa án tích mà vẫn không xin được việc vì ảnh cũ tràn ngập Internet thì cơ hội làm lại cuộc đời vẫn chỉ nằm trên giấy.

Pháp luật đã cho con người một con đường trở về.
Không gian mạng cũng cần đủ nhân văn để họ có thể đi hết con đường đó.

22/08/2026

ẢNH BỊ CAN, BỊ CÁO ĐÃ ĐĂNG TRÊN BÁO, CỔNG BỘ CÔNG AN: ADMIN FANPAGE CÓ ĐƯỢC “LẤY VỀ ĐĂNG THOẢI MÁI”?

Chỉ cần một vụ án được dư luận quan tâm, hình ảnh bị can, bị cáo từ báo chí hoặc cổng thông tin của cơ quan Công an có thể nhanh chóng xuất hiện trên hàng trăm fanpage Facebook, TikTok, YouTube. Nhiều admin nghĩ rất đơn giản: “Ảnh đã công khai trên báo rồi thì lấy đăng lại có gì sai?”

Dưới góc độ pháp lý, câu chuyện không đơn giản như vậy. Một bức ảnh có người trong đó có thể đồng thời tồn tại hai lớp quyền hoàn toàn khác nhau: quyền của cá nhân đối với hình ảnh và quyền tác giả đối với chính bức ảnh.

1. BỊ CAN, BỊ CÁO VẪN CÓ QUYỀN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH

Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015 xác định cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Nguyên tắc là sử dụng hình ảnh phải được người đó đồng ý; sử dụng vì mục đích thương mại còn phải trả thù lao, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Luật có ngoại lệ đối với hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng hoặc từ hoạt động công cộng mà không làm tổn hại danh dự, nhân phẩm, uy tín.

Vì vậy, việc một cơ quan báo chí hoặc cơ quan Công an công bố ảnh để thông tin chính thức về vụ án, truy tìm đối tượng, cảnh báo xã hội hoặc phục vụ lợi ích công cộng không có nghĩa người trong ảnh từ đó mất quyền đối với hình ảnh của mình.

Quan trọng hơn: quyền công bố của chủ thể A không tự động trở thành quyền sử dụng của chủ thể B.

Một fanpage lấy lại ảnh, cắt riêng khuôn mặt bị can, ghép chữ giật gân, dựng thumbnail, làm clip câu view hoặc sử dụng để kéo người xem vào một kênh đang kiếm tiền từ quảng cáo là một hành vi sử dụng mới. Tính hợp pháp phải được đánh giá theo mục đích và cách thức sử dụng của chính fanpage đó, không thể chỉ viện lý do “Bộ Công an đã đăng trước rồi”.

Đặc biệt, việc một page có quảng cáo hoặc kiếm tiền chưa tự động chứng minh mọi bức ảnh trên page đều được sử dụng “vì mục đích thương mại”. Nhưng nếu hình ảnh của bị can, bị cáo được khai thác trực tiếp để câu view, quảng bá sản phẩm, bán hàng, thu hút tài trợ hoặc tạo doanh thu thì yếu tố thương mại càng đáng được xem xét.

Nếu quyền hình ảnh bị xâm phạm, người có hình ảnh có quyền yêu cầu chấm dứt sử dụng, thu hồi, tiêu hủy và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Điều 32 BLDS.

2. CÒN MỘT QUYỀN KHÁC ADMIN RẤT DỄ QUÊN: BẢN QUYỀN CỦA NGƯỜI CHỤP ẢNH

Người xuất hiện trong ảnh có quyền đối với hình ảnh của mình, nhưng người chụp hoặc chủ sở hữu quyền tác giả lại có quyền đối với tác phẩm nhiếp ảnh.

Đây là hai quyền không nên đánh đồng.

Ví dụ, phóng viên chụp một bị cáo tại phiên tòa. Bị cáo có quyền nhân thân đối với hình ảnh của mình; còn quyền tác giả, quyền tài sản đối với bức ảnh phải xác định theo pháp luật sở hữu trí tuệ và quan hệ giữa phóng viên với cơ quan báo chí.

Luật sở hữu trí tuệ bảo hộ quyền sao chép và quyền truyền đạt tác phẩm tới công chúng trên mạng. Vì vậy, việc admin tải ảnh của báo A xuống rồi đăng nguyên ảnh lên Facebook của mình về bản chất có thể phát sinh hành vi sao chép và đưa tác phẩm tới công chúng.

Và đây là điều rất nhiều người hiểu sai:

GHI “ẢNH: BÁO A” KHÔNG ĐỒNG NGHĨA ĐÃ ĐƯỢC PHÉP SỬ DỤNG.

Ghi nguồn có thể là một nghĩa vụ trong những trường hợp pháp luật cho phép sử dụng tác phẩm, nhưng ghi nguồn không phải chiếc “giấy phép bản quyền” biến mọi hành vi sao chép thành hợp pháp. Việc sao chép nội dung báo chí dù ghi nguồn vẫn có thể xâm phạm quyền tác giả nếu không thuộc trường hợp giới hạn quyền tác giả mà pháp luật cho phép.

3. ẢNH TRÊN CỔNG THÔNG TIN BỘ CÔNG AN THÌ SAO?

Cũng không nên suy luận rằng “tài liệu của cơ quan nhà nước = tài sản miễn phí trên Internet”.

Muốn sử dụng lại phải xác định bản chất của ảnh, nguồn quyền, mục đích công bố, quy chế khai thác của nguồn và trường hợp sử dụng có thuộc ngoại lệ của pháp luật sở hữu trí tuệ hay không.

Đặc biệt cần phân biệt giữa chia sẻ đường dẫn bài viết gốc và tải ảnh về, cắt logo, chỉnh sửa rồi đăng thành nội dung của kênh mình. Hai hành vi có bản chất pháp lý rất khác nhau.

4. NGUY HIỂM NHẤT LÀ “BIẾN TƯỚNG” BỨC ẢNH SAU KHI LẤY VỀ

Giả sử việc sử dụng ban đầu còn có căn cứ phục vụ thông tin thời sự, nhưng admin tiếp tục cắt khuôn mặt, ghép nhạc, thêm những dòng chữ như “siêu lừa đảo”, “tội phạm nguy hiểm”, chế meme hoặc gắn người đó với một hành vi chưa được Tòa án xác định thì rủi ro pháp lý đã chuyển sang một cấp độ khác.

Đối với người mới ở giai đoạn bị khởi tố, truy tố hoặc xét xử, còn phải đặc biệt tôn trọng nguyên tắc suy đoán vô tội. “Bị can”, “bị cáo” là tư cách tố tụng, không phải chiếc nhãn để cộng đồng mạng mặc nhiên kết luận một người đã có tội.

GÓC NHÌN LUẬT SƯ: “CÔNG KHAI” KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ “CÔNG CỘNG HÓA MỌI QUYỀN”

Một bức ảnh xuất hiện công khai trên Internet không đồng nghĩa mọi quyền pháp lý gắn với bức ảnh đã biến mất.

Admin fanpage cần kiểm tra ít nhất hai câu hỏi trước khi bấm nút đăng: Tôi có quyền sử dụng hình ảnh của người này trong hoàn cảnh này không? Và tôi có quyền sao chép bức ảnh của người chụp/chủ sở hữu hay không?

Thậm chí có trường hợp quyền hình ảnh không bị vi phạm nhưng quyền tác giả lại bị xâm phạm; hoặc ngược lại. Cũng có trường hợp cả hai cùng phát sinh.

Vì vậy, nguyên tắc đáng nhớ nhất là:

Ảnh đã lên báo ≠ ảnh miễn bản quyền.
Bị can, bị cáo ≠ mất quyền hình ảnh.
Ghi nguồn ≠ được quyền sao chép.
Và một lần công bố hợp pháp ≠ cả Internet được quyền khai thác vô hạn.

09/08/2026
NGHỈ VIỆC RỒI, NGƯỜI LAO ĐỘNG CÓ CÒN PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ CÔNG VIỆC VÀ BẢO MẬT THÔNG TIN?Nghỉ việc có đồng nghĩa với...
29/07/2026

NGHỈ VIỆC RỒI, NGƯỜI LAO ĐỘNG CÓ CÒN PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ CÔNG VIỆC VÀ BẢO MẬT THÔNG TIN?

Nghỉ việc có đồng nghĩa với việc mọi nghĩa vụ của người lao động đối với người sử dụng lao động đều chấm dứt? Bản án số 66/2025/LĐ-PT ngày 16/7/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp chấm dứt hợp đồng lao động cho thấy câu trả lời là không phải lúc nào cũng như vậy. Theo đó, trong một số trường hợp, dù hợp đồng lao động đã chấm dứt, người lao động vẫn có thể phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ bảo mật thông tin và chịu trách nhiệm đối với những công việc đã thực hiện trong thời gian làm việc, nếu nghĩa vụ này đã được các bên thỏa thuận, cam kết hợp pháp.

Trong vụ án, nguyên đơn – ông Nguyễn Ngọc C làm việc tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Sau khi ông C đề nghị nghỉ việc, Ngân hàng ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động. Tuy nhiên, tại Điểm 3 của quyết định, Ngân hàng ghi nhận ông C sẽ tiếp tục chịu trách nhiệm trước Ngân hàng và pháp luật đối với các công việc đã thực hiện trong thời gian làm việc, bao gồm trách nhiệm bảo mật thông tin; đồng thời phối hợp với Ngân hàng và cơ quan có thẩm quyền để xử lý các vấn đề phát sinh liên quan đến công việc ông C đã thực hiện hoặc phụ trách, kể cả sau khi nghỉ việc. Cho rằng nội dung này ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ông C khởi kiện yêu cầu hủy bỏ nội dung trên.

Tuy nhiên, Tòa án không chấp nhận yêu cầu của ông C. Một trong những căn cứ quan trọng được Tòa án xem xét là trước đó ông C đã ký hợp đồng lao động, bản cam kết bảo mật thông tin và bản cam kết trách nhiệm. Các văn bản này thể hiện người lao động có nghĩa vụ tuân thủ quy định của Ngân hàng, bảo mật thông tin, không tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ và chịu trách nhiệm đối với những công việc đã thực hiện trong thời gian làm việc. Đáng chú ý, các cam kết được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Vì vậy, Tòa án xác định các thỏa thuận này có hiệu lực ràng buộc đối với các bên.

Từ vụ án có thể thấy, việc chấm dứt hợp đồng lao động không đồng nghĩa với việc mọi nghĩa vụ của người lao động đương nhiên chấm dứt ngay tại thời điểm nghỉ việc. Đặc biệt, đối với nghĩa vụ bảo mật bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, pháp luật lao động cho phép các bên thỏa thuận bằng văn bản về nội dung, thời hạn bảo vệ, quyền lợi và trách nhiệm bồi thường trong trường hợp vi phạm. Do đó, nếu người lao động đã tự nguyện xác lập cam kết bảo mật hợp pháp thì nghĩa vụ này có thể tiếp tục tồn tại sau khi hợp đồng lao động chấm dứt.

Tuy nhiên, điều đó cũng không có nghĩa người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động chịu trách nhiệm vô hạn hoặc đối với mọi vấn đề phát sinh sau khi nghỉ việc. Trách nhiệm vẫn phải được xem xét trong phạm vi công việc người lao động đã thực hiện, nghĩa vụ đã cam kết và hành vi vi phạm cụ thể, đồng thời phải có căn cứ pháp luật để xác định trách nhiệm tương ứng. Vì vậy, đối với người lao động, trước khi ký hợp đồng, cam kết bảo mật hoặc cam kết trách nhiệm, cần đọc kỹ phạm vi, thời hạn và hậu quả pháp lý của các nghĩa vụ có thể tiếp tục ràng buộc sau khi nghỉ việc. Đối với doanh nghiệp, việc xây dựng điều khoản bảo mật và trách nhiệm sau khi chấm dứt hợp đồng cũng cần rõ ràng, cụ thể và phù hợp quy định pháp luật.

“BỊA CV” ĐỂ ĐƯỢC TUYỂN DỤNG: DOANH NGHIỆP CÓ ĐƯỢC SA THẢI NGƯỜI LAO ĐỘNG KHI PHÁT HIỆN SỰ THẬT?Trong quá trình tìm việc,...
23/07/2026

“BỊA CV” ĐỂ ĐƯỢC TUYỂN DỤNG: DOANH NGHIỆP CÓ ĐƯỢC SA THẢI NGƯỜI LAO ĐỘNG KHI PHÁT HIỆN SỰ THẬT?

Trong quá trình tìm việc, không ít ứng viên có tâm lý muốn “làm đẹp” hồ sơ ứng tuyển bằng cách kéo dài thời gian làm việc, nâng cao chức danh cũ hoặc bổ sung những kinh nghiệm mà bản thân chưa từng có. Nhiều người cho rằng đây chỉ là một “chiêu” để tăng cơ hội vượt qua vòng tuyển dụng, miễn là sau đó hoàn thành tốt công việc thì sẽ không có vấn đề gì. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, hành vi cung cấp thông tin không trung thực trong hồ sơ ứng tuyển có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, thậm chí khiến người lao động mất việc và không được Tòa án bảo vệ khi phát sinh tranh chấp.

Đây cũng là nội dung đáng chú ý trong Bản án số 03/2024/LĐPT ngày 19/01/2024 của TAND tỉnh Bắc Ninh.

Theo nội dung vụ án, người lao động được doanh nghiệp tuyển dụng vào vị trí quản lý cấp cao sau khi nộp hồ sơ ứng tuyển thể hiện đã có nhiều năm kinh nghiệm làm việc tại các tập đoàn lớn, từng đảm nhiệm những vị trí quản lý quan trọng trong lĩnh vực tài chính, kế toán. Sau khi hoàn thành thời gian thử việc, mặc dù hai bên chưa ký hợp đồng lao động chính thức nhưng người lao động vẫn tiếp tục làm việc và được trả lương bình thường.

Tuy nhiên, trong quá trình quản lý nhân sự, doanh nghiệp tiến hành xác minh thông tin và phát hiện nhiều nội dung trong CV không đúng với thực tế. Cụ thể, thời gian công tác tại một số doanh nghiệp trước đây đã bị kê khai dài hơn nhiều lần so với thực tế, có nơi chỉ làm việc vài tháng nhưng được ghi thành nhiều năm. Bên cạnh đó, chức danh, vị trí đảm nhiệm tại các công ty cũ cũng được mô tả cao hơn thực tế nhằm tạo ấn tượng về năng lực và kinh nghiệm quản lý.

Cho rằng những thông tin này là căn cứ quan trọng để doanh nghiệp quyết định tuyển dụng, đồng thời người lao động đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin trung thực trong quá trình giao kết hợp đồng lao động, doanh nghiệp đã ban hành thông báo chấm dứt quan hệ lao động.

Không đồng ý với quyết định này, người lao động khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy thông báo chấm dứt lao động, buộc doanh nghiệp nhận trở lại làm việc, thanh toán tiền lương, tiền bảo hiểm trong thời gian không được làm việc, đồng thời bồi thường thiệt hại về tinh thần và danh dự. Về phía doanh nghiệp, ngoài việc bảo vệ quyết định chấm dứt lao động, còn yêu cầu người lao động bồi thường chi phí tuyển dụng và chi phí thuê luật sư do hành vi cung cấp thông tin gian dối gây ra.

Điểm đáng chú ý trong bản án là cách Tòa án đánh giá nghĩa vụ trung thực của người lao động ngay từ giai đoạn tuyển dụng. Hội đồng xét xử nhận định rằng theo quy định của pháp luật lao động, người lao động có trách nhiệm cung cấp trung thực các thông tin liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng khi người sử dụng lao động yêu cầu. Những thông tin về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm làm việc, vị trí đã từng đảm nhiệm không chỉ mang tính tham khảo mà còn là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp đánh giá năng lực, bố trí công việc và quyết định có tuyển dụng hay không.

Qua kết quả xác minh tại các đơn vị mà người lao động từng làm việc, Tòa án xác định có đủ căn cứ chứng minh các thông tin trong CV không phản ánh đúng sự thật. Đây không phải là những sai sót nhỏ mang tính nhầm lẫn mà là việc cố ý khai sai về thời gian công tác và chức danh nghề nghiệp nhằm tạo lợi thế khi ứng tuyển. Đặc biệt, người lao động còn làm việc trong lĩnh vực tài chính, kế toán – ngành nghề đòi hỏi tiêu chuẩn cao về tính trung thwujc, chính xác và đạo đức nghề nghiệp. Do đó, việc cố tình cung cấp thông tin sai lệch đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin của người sử dụng lao động cũng như quyết định tuyển dụng ban đầu.

Từ đó, Hội đồng xét xử kết luận việc doanh nghiệp ban hành thông báo chấm dứt quan hệ lao động khi phát hiện sự gian dối của người lao động là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Vì chính người lao động là bên có lỗi dẫn đến việc quan hệ lao động chấm dứt nên các yêu cầu về nhận trở lại làm việc, thanh toán tiền lương, tiền bảo hiểm cũng như bồi thường thiệt hại đều không được chấp nhận.

Ở chiều ngược lại, Tòa án cũng không chấp nhận yêu cầu phản tố của doanh nghiệp về việc buộc người lao động bồi thường chi phí tuyển dụng và chi phí thuê luật sư. Theo nhận định của Hội đồng xét xử, đây là những khoản chi phí phát sinh trong hoạt động quản lý, tuyển dụng và vận hành bình thường của doanh nghiệp. Mặc dù người lao động có hành vi cung cấp thông tin không trung thực, nhưng pháp luật hiện hành chưa có căn cứ để buộc người lao động phải hoàn trả các khoản chi phí này trong trường hợp cụ thể của vụ án. Tuy nhiên, Tòa án ghi nhận việc doanh nghiệp tự nguyện hỗ trợ người lao động một khoản tiền tương đương một tháng lương như một sự thiện chí trong quá trình giải quyết tranh chấp.

Bản án là lời cảnh báo đối với không ít người lao động hiện nay khi xem việc “làm đẹp” CV là điều bình thường. Ranh giới giữa việc trình bày nổi bật kinh nghiệm và việc cung cấp thông tin sai sự thật là hoàn toàn khác nhau. Một bản CV có thể giúp ứng viên bước qua vòng tuyển dụng, nhưng nếu được xây dựng trên những thông tin không trung thực thì chính nó cũng có thể trở thành căn cứ khiến người lao động đánh mất công việc và không được pháp luật bảo vệ khi tranh chấp xảy ra.

Đối với doanh nghiệp, bản án cũng cho thấy việc xác minh thông tin ứng viên trước hoặc trong quá trình sử dụng lao động là cần thiết nhằm hạn chế rủi ro trong tuyển dụng. Đồng thời, khi phát hiện người lao động cung cấp thông tin gian dối, doanh nghiệp cần thực hiện đúng trình tự, căn cứ pháp luật trước khi chấm dứt quan hệ lao động để tránh phát sinh tranh chấp về sau. Đây là bài học có giá trị tham khảo đối với cả người lao động và người sử dụng lao động trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng đề cao tính minh bạch và sự trung thực.

CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRỊ GIÁ 2 TRIỆU ĐỒNG VẪN BỊ TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ: NHIỀU NGƯỜI CHƯA BIẾT QUY ĐỊNH NÀY CỦA PHÁP...
21/07/2026

CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRỊ GIÁ 2 TRIỆU ĐỒNG VẪN BỊ TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ: NHIỀU NGƯỜI CHƯA BIẾT QUY ĐỊNH NÀY CỦA PHÁP LUẬT.

Không ít người cho rằng, chỉ khi chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn mới có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Chính suy nghĩ này khiến nhiều người chủ quan, cho rằng việc chiếm đoạt tài sản có giá trị thấp chỉ bị xử phạt hành chính hoặc buộc bồi thường dân sự. Tuy nhiên, quy định của pháp luật hình sự lại không hoàn toàn như vậy.

Một vụ án được Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi xét xử bằng Bản án số 42/2017/HSST ngày 14/7/2017 là minh chứng rõ ràng cho việc giá trị tài sản không phải là yếu tố duy nhất quyết định một người có bị xử lý hình sự hay không.

Theo nội dung vụ án, vào khoảng 18 giờ ngày 27/3/2017, Nguyễn Hồng A đến một tiệm Internet và mượn xe mô tô của anh Trần Trí T với lý do đi mua đồ ăn. Tin tưởng, anh T đã giao xe cho A. Tuy nhiên, sau khi nhận được xe, A không quay lại trả như đã hứa mà nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Bị cáo mang chiếc xe đến bán cho một cửa hàng với giá 1,3 triệu đồng để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Kết quả định giá xác định chiếc xe có giá trị 2.000.000 đồng.

Thoạt nhìn, nhiều người sẽ cho rằng giá trị tài sản chỉ ở mức 2 triệu đồng là không đáng kể. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử vẫn tuyên Nguyễn Hồng A phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" và xử phạt 18 tháng tù giam.

Điều đáng chú ý trong vụ án này không nằm ở giá trị tài sản mà ở nhân thân của người phạm tội.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên mới là trường hợp phổ biến để truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định một số trường hợp ngoại lệ, theo đó người thực hiện hành vi vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự mặc dù tài sản có giá trị dưới mức định lượng, nếu thuộc các trường hợp luật định, trong đó có trường hợp đã bị kết án về một trong các tội xâm phạm sở hữu mà chưa được xóa án tích.

Trong vụ án này, trước khi thực hiện hành vi phạm tội, Nguyễn Hồng A vừa chấp hành xong án phạt tù về chính tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản vào tháng 01/2017. Thời điểm thực hiện hành vi mới chỉ vài tháng sau khi chấp hành xong hình phạt nên bị cáo chưa đủ điều kiện được xóa án tích theo quy định của pháp luật. Chính yếu tố này đã làm phát sinh căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự, mặc dù giá trị chiếc xe bị chiếm đoạt chỉ là 2 triệu đồng.

Có thể thấy, việc Bộ luật Hình sự quy định trường hợp này nhằm bảo đảm tính răn đe đối với những người đã từng bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa, tiếp tục thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu của người khác. Nếu chỉ căn cứ vào giá trị tài sản mà bỏ qua yếu tố tiền án thì sẽ không đáp ứng được yêu cầu phòng ngừa tội phạm cũng như bảo vệ trật tự an toàn xã hội.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tự nguyện bồi thường cho người mua chiếc xe. Tuy nhiên, những tình tiết này chỉ được xem là căn cứ giảm nhẹ hình phạt chứ không làm thay đổi bản chất của hành vi phạm tội cũng như căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự.

Qua vụ án trên có thể thấy, nhiều người vẫn đang hiểu chưa đầy đủ về quy định của pháp luật khi cho rằng chỉ cần tài sản có giá trị thấp thì sẽ "không sao". Thực tế, giá trị tài sản chỉ là một trong những yếu tố để xác định trách nhiệm hình sự. Trong nhiều trường hợp, nhân thân của người thực hiện hành vi, tình trạng án tích hoặc các điều kiện đặc biệt khác mà Bộ luật Hình sự quy định cũng có thể là căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đây cũng là lời cảnh báo đối với những người đã từng bị kết án về các tội xâm phạm sở hữu. Sau khi chấp hành xong hình phạt, nếu tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong thời gian chưa được xóa án tích thì vẫn có thể phải đối mặt với trách nhiệm hình sự, dù giá trị tài sản bị chiếm đoạt không lớn. Hiểu đúng quy định của pháp luật sẽ giúp mỗi cá nhân nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, tránh những hậu quả pháp lý đáng tiếc chỉ vì suy nghĩ chủ quan rằng "tài sản ít thì không bị đi tù".

KHÔNG KÝ GIẤY VAY TIỀN, CHỒNG VẪN PHẢI CÙNG TRẢ NỢ? TÒA ÁN CHỈ RA ĐIỀU QUAN TRỌNG NHẤT KHÔNG PHẢI LÀ CHỮ KÝNhiều người c...
20/07/2026

KHÔNG KÝ GIẤY VAY TIỀN, CHỒNG VẪN PHẢI CÙNG TRẢ NỢ? TÒA ÁN CHỈ RA ĐIỀU QUAN TRỌNG NHẤT KHÔNG PHẢI LÀ CHỮ KÝ

Nhiều người cho rằng nếu vợ hoặc chồng tự ý vay tiền mà người còn lại không ký vào hợp đồng, không trực tiếp nhận tiền và cũng không biết việc vay thì sẽ không phải chịu trách nhiệm trả khoản nợ đó. Tuy nhiên, trên thực tế, chữ ký không phải là yếu tố duy nhất để xác định nghĩa vụ trả nợ của vợ chồng.

Tại Bản án số 951/2026/DS-PT ngày 14/5/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh, Tòa án đã làm rõ nguyên tắc này khi buộc cả hai vợ chồng cùng liên đới thanh toán khoản vay, mặc dù người chồng khẳng định mình không tham gia giao dịch và không ký bất kỳ giấy tờ vay mượn nào.

Theo nội dung vụ án, nguyên đơn đã nhiều lần cho người vợ vay tiền trong thời gian dài để phục vụ hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng và mua bán bất động sản. Sau mỗi lần vay, các bên đều có xác nhận công nợ bằng văn bản và người vay nhiều lần cam kết sẽ thanh toán. Tuy nhiên, đến hạn, khoản nợ vẫn không được trả nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu người vợ và người chồng cùng có trách nhiệm thanh toán vì cho rằng số tiền vay đã được sử dụng cho hoạt động kinh tế chung của gia đình.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người chồng không đồng ý với yêu cầu này. Ông cho rằng mình không ký hợp đồng vay, không trực tiếp nhận tiền, không biết việc vợ vay tiền nên không có căn cứ để buộc ông phải trả nợ.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chỉ xem xét hình thức của giao dịch mà còn đánh giá toàn bộ chứng cứ liên quan đến quá trình sử dụng khoản tiền vay. Qua sao kê tài khoản ngân hàng, Tòa án xác định nhiều khoản tiền sau khi người vợ nhận từ nguyên đơn đã được chuyển trực tiếp cho người chồng hoặc chuyển vào tài khoản của công ty do người chồng làm chủ sở hữu. Đồng thời, các tài liệu trong hồ sơ cũng thể hiện khoản tiền này được sử dụng để mua vật tư, xây dựng nhà cửa và phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm tạo nguồn thu nhập chung cho gia đình.

Từ những chứng cứ đó, Tòa án kết luận khoản vay không phải nhằm phục vụ nhu cầu riêng của người vợ mà được sử dụng cho hoạt động kinh doanh chung của vợ chồng. Vì vậy, căn cứ Điều 27 và Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là nghĩa vụ tài sản chung và cả hai vợ chồng phải liên đới thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với bên cho vay.

Đối với tiền lãi, Tòa án cũng xem xét lại thỏa thuận giữa các bên và nhận thấy mức lãi suất đã vượt quá giới hạn mà Bộ luật Dân sự cho phép. Do đó, Tòa điều chỉnh lãi suất về mức tối đa theo quy định pháp luật, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn trong việc giảm lãi đối với một phần khoản vay. Trên cơ sở đó, bản án sơ thẩm được sửa một phần về cách tính tiền lãi nhưng vẫn giữ nguyên việc buộc cả hai vợ chồng phải liên đới trả nợ.

Bản án này là một ví dụ điển hình cho thấy khi giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ tài sản của vợ chồng, Tòa án sẽ không chỉ căn cứ vào việc ai là người ký hợp đồng vay tiền. Điều quan trọng hơn là xem xét dòng tiền thực tế được sử dụng như thế nào, có phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh chung hay không và khoản vay đó có mang lại lợi ích chung cho gia đình hay không. Nếu câu trả lời là có, thì người không trực tiếp ký hợp đồng vẫn có thể phải cùng chịu trách nhiệm trả nợ.

Đây cũng là lưu ý quan trọng đối với các cặp vợ chồng đang cùng kinh doanh hoặc cùng hưởng lợi từ hoạt động kinh tế của gia đình. Trong nhiều trường hợp, việc chỉ để một người đứng tên vay tiền không đồng nghĩa với việc người còn lại sẽ được miễn trừ nghĩa vụ. Nếu có đủ căn cứ chứng minh khoản vay phục vụ lợi ích chung của gia đình, Tòa án hoàn toàn có thể xác định đó là nợ chung và buộc cả hai vợ chồng liên đới thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

CHƯA CÓ PHÁN QUYẾT CỦA TÒA MÀ ĐÃ "KẾT TỘI" NGƯỜI KHÁC: BÁO CHÍ CÓ THỂ PHẢI CÔNG KHAI XIN LỖI VÀ BỒI THƯỜNGTrong các vụ v...
19/07/2026

CHƯA CÓ PHÁN QUYẾT CỦA TÒA MÀ ĐÃ "KẾT TỘI" NGƯỜI KHÁC: BÁO CHÍ CÓ THỂ PHẢI CÔNG KHAI XIN LỖI VÀ BỒI THƯỜNG

Trong các vụ việc đang có tranh chấp, không ít người cho rằng chỉ cần phản ánh đúng sự việc là có thể đưa ra những nhận định, đánh giá về việc ai đúng, ai sai. Tuy nhiên, pháp luật không cho phép báo chí hay bất kỳ cá nhân nào được quy kết trách nhiệm, xúc phạm danh dự của người khác khi chưa có căn cứ pháp lý rõ ràng.

Đây cũng là nội dung được Tòa án khẳng định trong một bản án đáng chú ý.

Cụ thể, theo nội dung Bản án số 106/2018/DS-PT ngày 23/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước, năm 2010 hai bên có giao kết hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất với số tiền 100 triệu đồng. Sau khi phát sinh tranh chấp, bên đặt cọc khởi kiện yêu cầu hoàn trả khoản tiền này. Tuy nhiên, vụ án đã bị Tòa án đình chỉ giải quyết do hết thời hiệu khởi kiện. Điều này đồng nghĩa với việc Tòa án không đưa ra bất kỳ kết luận nào về việc bên nhận cọc có hành vi gian dối, chiếm đoạt tài sản hay vi phạm pháp luật.

Dù vậy, sau đó một cơ quan báo chí B đã đăng bài viết với tiêu đề "Dứt tình kết nghĩa đưa nhau ra tòa", trong đó sử dụng nhiều cụm từ như "tráo trở", "lật mặt", "mất trắng 100 triệu đồng". Những cách diễn đạt này khiến người đọc dễ hiểu rằng bên nhận cọc là người có lỗi, có hành vi không đúng pháp luật và đáng bị lên án.

Khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm nhận định đây chỉ là một tranh chấp dân sự. Tại thời điểm bài báo được đăng tải, chưa có bất kỳ bản án, quyết định của Tòa án hay kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào xác định bà V và ông D đã gian dối hoặc chiếm đoạt số tiền đặt cọc. Vì vậy, việc sử dụng những từ ngữ mang tính bình luận, quy kết theo hướng tiêu cực đã vượt quá giới hạn của hoạt động đưa tin khách quan, làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của các cá nhân liên quan.

Đáng chú ý, Sở Thông tin và Truyền thông cũng kết luận bài viết đã sử dụng các từ ngữ mang tính quy kết, dẫn dắt người đọc theo suy nghĩ chủ quan của tác giả và gây bất lợi hoàn toàn cho người bị phản ánh.

Từ những căn cứ đó, Tòa án buộc cơ quan báo chí phải đăng cải chính, xin lỗi công khai trên cả báo in và báo điện tử, đồng thời bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị xâm phạm.

Từ vụ việc trên có thể thấy, quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận không đồng nghĩa với quyền được đưa ra những kết luận về trách nhiệm của người khác khi chưa có căn cứ pháp lý. Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân là quyền nhân thân được pháp luật bảo vệ. Bất kỳ tổ chức, cá nhân nào, kể cả cơ quan báo chí, nếu đăng tải thông tin sai sự thật hoặc sử dụng ngôn từ mang tính quy kết, xúc phạm danh dự của người khác thì đều có thể phải cải chính, xin lỗi công khai và bồi thường thiệt hại.

Trong bối cảnh mạng xã hội phát triển mạnh như hiện nay, bài học từ vụ án này không chỉ dành cho các cơ quan báo chí mà còn là lời nhắc nhở đối với mỗi người khi chia sẻ hoặc bình luận về một vụ việc đang được giải quyết. Chỉ một vài từ ngữ mang tính "kết tội" khi chưa có bản án hoặc kết luận của cơ quan có thẩm quyền cũng có thể khiến người đăng tải phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm và uy tín của người khác.

Address

125/10 Nguyễn Văn Thương, Phường Thạnh Mỹ Tây,
Tp. Hồ Chí Minh

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Bản Án Dưới Góc Nhìn Luật Sư posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Bản Án Dưới Góc Nhìn Luật Sư:

Shortcuts

Share