Luật Dương An

  • Home
  • Luật Dương An

Luật Dương An Khách hàng không tìm đến Luật sư để được liệt kê điều khoản pháp lý, khách hàng cần Luật sư để mang đến giải pháp pháp lý toàn diện

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC THÔNG BÁO KHÔNG bỎ TIỀN LẺ 1.000, 2.000, 5.000 Sau khi xuất hiện nhiều tin đồn về bỏ tiền lẻ 1.000 2....
28/01/2026

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC THÔNG BÁO KHÔNG bỎ TIỀN LẺ 1.000, 2.000, 5.000
Sau khi xuất hiện nhiều tin đồn về bỏ tiền lẻ 1.000 2.000 5.000 đồng trên các MXH, Ngân hàng Nhà nước đã có thông tin chính thức về nội dung này.
KHÔNG bỏ tiền lẻ 1.000 2.000 5.000 đồng
Ngày 23/1/2026, trên Cổng TTĐT Ngân hàng Nhà nước đã có thông tin chính thức liên quan đến tin đồn bỏ tiền lẻ 1.000 2.000 5.000 đồng.
Theo đó, Ngân hàng Nhà nước khẳng định thông tin nêu trên là không chính xác, không có cơ sở pháp lý.
Việc phát hành, quản lý và lưu hành tiền Việt Nam được Ngân hàng Nhà nước thực hiện đúng quy định pháp luật trên cơ sở đáp ứng đầy đủ nhu cầu thanh toán của nền kinh tế, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đề nghị các tổ chức, cá nhân không đăng tải, chia sẻ thông tin không chính xác về việc dự kiến loại bỏ tiền mệnh giá từ 1.000 đồng đến 5.000 đồng, trường hợp vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Như vậy, Ngân hàng Nhà nước khẳng định KHÔNG bỏ tiền lẻ 1.000 2.000 5.000 đồng.
Tung tin đồn bỏ tiền lẻ 1.000 2.000 5.000 đồng bị phạt thế nào?
Hiện hành, theo Điều 101 Nghị định 15/2020 quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau:
- Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;
- Cung cấp, chia sẻ thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc;
- Cung cấp, chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn;
- Cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong Nhân dân, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội, đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc;
- Cung cấp, chia sẻ các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc chưa được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu;
- Quảng cáo, tuyên truyền, chia sẻ thông tin về hàng hóa, dịch vụ bị cấm;
- Cung cấp, chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia;
- Cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông tin trên mạng có nội dung bị cấm.
Theo đó, hành vi tung tin đồn trên mạng về việc bỏ tiền lẻ 1.000 2.000 5.000 đồng có thể bị phạt tới 20 triệu đồng với tổ chức, 10 triệu đồng với cá nhân.
Cách nhận biết tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông
Sau đây là một số cách nhận biết tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông.
(1) Tiền rách nát, hư hỏng do quá trình lưu thông (nhóm nguyên nhân khách quan): Tiền giấy bị thay đổi màu sắc, mờ nhạt hình ảnh hoa văn, chữ, số; nhàu, nát, nhoè, bẩn, cũ; rách rời hay liền mảnh được can dán lại nhưng còn nguyên tờ tiền; Tiền kim loại bị mòn, han gỉ, hư hỏng một phần hoặc toàn bộ hình ảnh, hoa văn, chữ, số và lớp mạ trên đồng tiền.
(2) Tiền rách nát, hư hỏng do quá trình bảo quản (nhóm nguyên nhân chủ quan): Tiền giấy bị thủng lỗ, rách mất một phần; tiền được can dán; cháy hoặc biến dạng do tiếp xúc với nguồn nhiệt cao; giấy in, màu sắc, đặc điểm kỹ thuật bảo an của đồng tiền bị biến đổi do tác động của hóa chất (như chất tẩy rửa, axít, chất ăn mòn…); viết, vẽ, tẩy xóa; đồng tiền bị mục hoặc biến dạng bởi các lý do khác nhưng không do hành vi hủy hoại; Tiền kim loại bị cong, vênh, thay đổi định dạng, hình ảnh thiết kế do tác động của ngoại lực hoặc nhiệt độ cao; bị ăn mòn do tiếp xúc với hoá chất.
(3) Tiền bị lỗi kỹ thuật do quá trình in, đúc của nhà sản xuất như giấy in bị gấp nếp làm mất hình ảnh hoặc mất màu in, lấm bẩn mực in và các lỗi khác trong khâu in, đúc.
Ngân hàng Nhà nước công bố mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông làm cơ sở cho việc thu, đổi, tuyển chọn, phân loại tiền.
Nguồn: Thư viện pháp luật

ĐỀ XUẤT VIÊN CHỨC LÀ GIẢNG VIÊN LUẬT CÓ THỂ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯMới đây, Bộ Tư pháp đã chủ trì họp Tổ soạn thảo hồ sơ chính...
12/01/2026

ĐỀ XUẤT VIÊN CHỨC LÀ GIẢNG VIÊN LUẬT CÓ THỂ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ
Mới đây, Bộ Tư pháp đã chủ trì họp Tổ soạn thảo hồ sơ chính sách Luật Luật sư (sửa đổi). Theo dự thảo Tờ trình, Luật Luật sư (sửa đổi) tập trung vào 3 nhóm chính sách lớn.
Một trong những nội dung đáng chú ý là việc dự luật sửa đổi sẽ quy định viên chức làm việc trong cơ sở đào tạo về pháp luật có thể trở thành luật sư khi bảo đảm một số điều kiện nhất định. Đây là một chính sách mới, bởi hiện nay theo quy định tại khoản 4 Điều 17 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) thì cán bộ, công chức, viên chức… thì không được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư.
Nguồn: Báo Pháp Luật TP. Hồ Chí Minh

BẤT NGỜ! MUA VÀNG TRÊN 20 TRIỆU MÀ KHÔNG CHUYỂN KHOẢN – BỊ PHẠT ĐẾN 20 TRIỆU (2026)!1. Mua vàng từ 20 triệu đồng có bắt ...
12/01/2026

BẤT NGỜ! MUA VÀNG TRÊN 20 TRIỆU MÀ KHÔNG CHUYỂN KHOẢN – BỊ PHẠT ĐẾN 20 TRIỆU (2026)!

1. Mua vàng từ 20 triệu đồng có bắt buộc phải chuyển khoản hay không?
Có. Theo khoản 10 Điều 4 Nghị định 24/2012/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 4 Điều 1 Nghị định 232/2025/NĐ-CP, các giao dịch mua, bán vàng có giá trị từ 20 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng phải được thanh toán thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng và tài khoản thanh toán của doanh nghiệp kinh doanh vàng mở tại ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Như vậy, từ 20 triệu đồng trong ngày trở lên, thanh toán bằng tiền mặt không còn được chấp nhận.

2. Mua vàng từ 20 triệu đồng thanh toán tiền mặt bị phạt bao nhiêu?
Theo điểm c khoản 2 Điều 28 Nghị định 340/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 9/2/2026), hành vi không thực hiện thanh toán qua tài khoản khi mua bán vàng theo quy định sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân. Đối với tổ chức có cùng hành vi, mức phạt gấp đôi theo điểm a khoản 3 Điều 5 Nghị định 340/2025/NĐ-CP.

3. Lý do có quy định bắt buộc chuyển khoản
Quy định này nhằm tăng tính minh bạch trong giao dịch vàng, bảo đảm quản lý nhà nước, hạn chế giao dịch tiền mặt lớn, phòng ngừa các hành vi trốn thuế, rửa tiền và các rủi ro trong quản lý thị trường vàng.

4. Kết luận
Từ ngày 9/2/2026, việc mua vàng từ 20 triệu đồng trở lên mà thanh toán bằng tiền mặt được xem là hành vi vi phạm và có thể bị xử phạt hành chính ở mức cao. Do đó, cá nhân và tổ chức cần cập nhật quy định mới để tuân thủ pháp luật và tránh rủi ro trong quá trình giao dịch.

MỘT THÔNG BÁO ĐÁNG CHÚ Ý: THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM CỦA VKSND TỐI CAO T.P HÀ NỘI VỀ VIỆC THU HỒI ĐẤT Ngày 21 tháng 4 năm...
12/01/2026

MỘT THÔNG BÁO ĐÁNG CHÚ Ý: THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM CỦA VKSND TỐI CAO T.P HÀ NỘI VỀ VIỆC THU HỒI ĐẤT
Ngày 21 tháng 4 năm 2025, VKSND Tối cao thành phố Hà Nội vừa ban hành Thông báo rút kinh nghiệm đối với một vụ án hành chính liên quan đến khiếu kiện thông báo thu hồi đất trong quá trình thực hiện dự án tại quận B, thành phố T. Vấn đề đặt ra trong vụ án này là xác định tính chất pháp lý của Thông báo thu hồi đất và việc Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm xử lý vụ kiện hành chính có phù hợp hay không.

1. Bối cảnh vụ án
Các hộ dân bao gồm bà M, bà Q, bà U, bà C nhận được các Thông báo thu hồi đất từ UBND quận B vào ngày 31/12/2020. Cho rằng các Thông báo này vi phạm quy định pháp luật về đất đai, các hộ dân đã khởi kiện ra Tòa án nhân dân thành phố T yêu cầu hủy các Thông báo nêu trên.

2. Quan điểm giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm Tòa án nhân dân thành phố T xét xử sơ thẩm đã bác yêu cầu khởi kiện của người dân và kiến nghị UBND quận B xem xét phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư.
Sau đó, Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án hành chính.

3. Nhận định rút kinh nghiệm của VKSND Tối cao
VKSND Tối cao xác định rằng các Thông báo thu hồi đất do UBND quận B ban hành mới chỉ là bước đầu trong trình tự thu hồi đất, nhằm cung cấp thông tin về quy hoạch, dự kiến diện tích thu hồi, thửa đất, thời gian khảo sát, kiểm đếm, bồi thường… nhưng không phải là quyết định thu hồi đất và chưa làm phát sinh, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của các hộ dân.
Theo khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính, chỉ những quyết định hành chính làm phát sinh hoặc ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân mới thuộc đối tượng khởi kiện. Do đó, các Thông báo thu hồi đất nêu trên không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính, đồng nghĩa việc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết là không đúng thẩm quyền.
Từ đó, VKSND Tối cao kết luận đây là sai phạm của Tòa án cấp sơ thẩm trong hoạt động giải quyết án hành chính và yêu cầu rút kinh nghiệm trong toàn ngành để đảm bảo áp dụng đúng Luật Đất đai và Luật Tố tụng hành chính.

4. Giá trị thực tiễn
Thông báo rút kinh nghiệm này cho thấy:
Không phải mọi văn bản của cơ quan hành chính đều là “quyết định hành chính” thuộc đối tượng khởi kiện. Người dân cần phân biệt giữa Thông báo thu hồi đất và Quyết định thu hồi đất, tránh khởi kiện sai đối tượng.
Việc xác định đúng thẩm quyền, đối tượng khởi kiện có ý nghĩa quan trọng trong giải quyết tranh chấp hành chính về đất đai.
Kết luận: Đây là vụ việc cho thấy sự phức tạp trong tố tụng hành chính về đất đai, đồng thời là bài học về phân loại văn bản hành chính và điều kiện khởi kiện vụ án hành chính. Việc hiểu đúng sẽ giúp người dân và cơ quan tiến hành tố tụng tránh mất thời gian, chi phí và đảm bảo quyền lợi theo đúng pháp luật.

NGƯỜI LAO ĐỘNG LƯU Ý: TỪ NGÀY 01/01/2026, MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI 34 TỈNH, THÀNH PHỐ ĐÃ ĐƯỢC ĐIỀ...
12/01/2026

NGƯỜI LAO ĐỘNG LƯU Ý: TỪ NGÀY 01/01/2026, MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI 34 TỈNH, THÀNH PHỐ ĐÃ ĐƯỢC ĐIỀU CHỈNH TĂNG LÊN ⬆️
1. Lương tối thiểu là gì?
Theo khoản 1 Điều 91 Bộ luật Lao động 2019, mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.

2. Mức lương tối thiểu vùng năm 2026 với người lao động tại 34 tỉnh thành
Theo Điều 3 Nghị định 293/2025/NĐ-CP quy định về mức lương tối thiểu tháng và mức lương tối thiểu giờ áp dụng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động như sau:
- Quy định mức lương tối thiểu tháng và mức lương tối thiểu giờ đối với người lao động làm việc cho người sử dụng lao động theo vùng như sau:
Vùng I: 5.0310.000 (Đơn vị: đồng/tháng) 25.500 (Đơn vị: đồng/giờ);
Vùng II: 4.730.000 (Đơn vị: đồng/tháng) 22.700 (Đơn vị: đồng/giờ);
Vùng III: 4.140.000 (Đơn vị: đồng/tháng) 20.000 (Đơn vị: đồng/giờ);
Vùng IV: 3.700.000 (Đơn vị: đồng/tháng) 17.800 (Đơn vị: đồng/giờ).

- Danh mục địa bàn vùng I, vùng II, vùng III, vùng IV được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP.
- Việc áp dụng địa bàn vùng được xác định theo nơi hoạt động của người sử dụng lao động như sau:
+ Người sử dụng lao động hoạt động trên địa bàn thuộc vùng nào thì áp dụng mức lương tối thiểu quy định đối với địa bàn đó.
+ Người sử dụng lao động có đơn vị, chi nhánh hoạt động trên các địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì đơn vị, chi nhánh hoạt động ở địa bàn nào, áp dụng mức lương tối thiểu quy định đối với địa bàn đó.
+ Người sử dụng lao động hoạt động trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung nằm trên các địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì áp dụng theo địa bàn có mức lương tối thiểu cao nhất.
+ Người sử dụng lao động hoạt động trên địa bàn có sự thay đổi tên hoặc chia thì tạm thời áp dụng mức lương tối thiểu quy định đối với địa bàn trước khi thay đổi tên hoặc chia cho đến khi Chính phủ có quy định mới.
+ Người sử dụng lao động hoạt động trên địa bàn được thành lập mới từ một địa bàn hoặc nhiều địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì áp dụng mức lương tối thiểu theo địa bàn có mức lương tối thiểu cao nhất cho đến khi Chính phủ có quy định mới.

Bên cạnh đó, việc áp dụng mức lương tối thiểu được quy định như sau:
- Mức lương tối thiểu tháng là mức lương thấp nhất làm cơ sở để thỏa thuận và trả lương đối với người lao động áp dụng hình thức trả lương theo tháng, bảo đảm mức lương theo công việc hoặc chức danh của người lao động làm việc đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận không được thấp hơn mức lương tối thiểu tháng.
- Mức lương tối thiểu giờ là mức lương thấp nhất làm cơ sở để thỏa thuận và trả lương đối với người lao động áp dụng hình thức trả lương theo giờ, bảo đảm mức lương theo công việc hoặc chức danh của người lao động làm việc trong một giờ và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận không được thấp hơn mức lương tối thiểu giờ.
- Đối với người lao động áp dụng hình thức trả lương theo tuần hoặc theo ngày hoặc theo sản phẩm hoặc lương khoán thì mức lương của các hình thức trả lương này nếu quy đổi theo tháng hoặc theo giờ không được thấp hơn mức lương tối thiểu tháng hoặc mức lương tối thiểu giờ. Mức lương quy đổi theo tháng hoặc theo giờ trên cơ sở thời giờ làm việc bình thường do người sử dụng lao động lựa chọn theo quy định của pháp luật lao động như sau:
+ Mức lương quy đổi theo tháng bằng mức lương theo tuần nhân với 52 tuần chia cho 12 tháng; hoặc mức lương theo ngày nhân với số ngày làm việc bình thường trong tháng; hoặc mức lương theo sản phẩm, lương khoán thực hiện trong thời giờ làm việc bình thường trong tháng.
+ Mức lương quy đổi theo giờ bằng mức lương theo tuần, theo ngày chia cho số giờ làm việc bình thường trong tuần, trong ngày; hoặc mức lương theo sản phẩm, lương khoán chia cho số giờ làm việc trong thời giờ làm việc bình thường để sản xuất sản phẩm, thực hiện nhiệm vụ khoán.
Nguồn: Báo Pháp luật

PHÂN LOẠI NHÓM HỘ KINH DOANH VÀ CÁCH TÍNH, KÊ KHAI THUẾ CỦA TỪNG NHÓM NĂM 2026 (DỰ THẢO)Vừa qua, Quốc hội đã biểu quyết,...
11/01/2026

PHÂN LOẠI NHÓM HỘ KINH DOANH VÀ CÁCH TÍNH, KÊ KHAI THUẾ CỦA TỪNG NHÓM NĂM 2026 (DỰ THẢO)
Vừa qua, Quốc hội đã biểu quyết, thông qua Luật Quản lý thuế 2025, Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 và Luật sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi 2025. Quy định mới tăng ngưỡng chịu thuế TNCN, GTGT cho hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm. Điều chỉnh mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân của hộ, cá nhân kinh doanh từ 200 triệu đồng/năm lên 500 triệu đồng/năm và cho trừ mức này trước khi tính thuế theo tỉ lệ trên doanh thu. Mức doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng cũng được điều chỉnh tương ứng lên 500 triệu đồng/năm.

Do đó, Bộ Tài chính đang dự thảo lần 2 Nghị định quy định việc khai, tính thuế, khấu trừ thuế, nộp thuế, sử dụng hóa đơn điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh để sửa đổi phù hợp với các văn bản pháp luật đã được ban hành (Cụ thể: Luật Quản lý thuế 2025, Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 và Luật sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi 2025)
Theo đó, có thể chia hộ kinh doanh thành 4 nhóm dựa trên doanh thu năm để áp dụng phương pháp tính thuế phù hợp và cách tính thuế hộ kinh doanh 2026 chi tiết đối với 4 nhóm hộ kinh doanh được quy định chi tiết tại hình ảnh dưới đây:

📌 DỰ THẢO LUẬT THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ: HƯỚNG DẪN MỚI VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRÊN NỀN TẢNG SỐThương mại điện tử ngày càng p...
11/01/2026

📌 DỰ THẢO LUẬT THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ: HƯỚNG DẪN MỚI VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRÊN NỀN TẢNG SỐ

Thương mại điện tử ngày càng phát triển, kéo theo nhiều tranh chấp giữa người bán và khách hàng trong quá trình giao dịch. Bộ Công Thương đã công bố Dự thảo Luật Thương mại điện tử, trong đó bổ sung quy định liên quan đến xử lý khiếu nại và giải quyết tranh chấp. Theo Điều 52 của dự thảo, chủ sở hữu nền tảng TMĐT phải xây dựng hệ thống xử lý khiếu nại nội bộ dễ tiếp cận, thân thiện, cho phép người dùng gửi yêu cầu với thông tin đầy đủ và chính xác. Khi tiếp nhận khiếu nại, nền tảng phải xử lý kịp thời, không phân biệt đối xử, dựa trên chứng cứ và dữ liệu giao dịch điện tử; đồng thời thông báo ngay quyết định giải quyết cho người khiếu nại, bao gồm cả các khả năng giải quyết ngoài tòa án. Đáng chú ý, quyết định xử lý khiếu nại phải được đưa ra dưới sự giám sát của nhân sự có chuyên môn chứ không chỉ dựa trên hệ thống tự động.

Bên cạnh đó, dự thảo cũng xác định tranh chấp giữa tổ chức, cá nhân bán hàng và khách hàng sẽ được giải quyết dựa trên điều khoản của hợp đồng hiển thị tại thời điểm giao kết trên nền tảng TMĐT và theo quy định pháp luật. Việc giải quyết tranh chấp có thể thực hiện thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài hoặc tòa án theo quy trình tố tụng hiện hành.

Nếu đối chiếu với quy định hiện hành tại Điều 76 Nghị định 52/2013/NĐ-CP, có thể thấy các quy định cũ mới chỉ dừng lại ở việc yêu cầu thương nhân sở hữu website TMĐT tiếp nhận và xử lý khiếu nại; không được lợi dụng ưu thế trên môi trường điện tử để đơn phương xử lý tranh chấp; công bố quy trình tiếp nhận và cơ chế giải quyết tranh chấp; và cho phép thương nhân cung cấp dịch vụ TMĐT tham gia hòa giải. Trong khi đó, dự thảo mới mở rộng trách nhiệm của nền tảng TMĐT, yêu cầu cơ chế xử lý bài bản hơn, có nhân sự giám sát, không phụ thuộc hoàn toàn vào tự động hóa và bảo đảm tính minh bạch trong kết quả giải quyết.

Sự thay đổi này được đánh giá là phù hợp với bối cảnh giao dịch điện tử ngày càng nhiều, giá trị hợp đồng tăng, mô hình kinh doanh đa dạng, và kỳ vọng bảo vệ người tiêu dùng cao hơn. Việc thiết lập hệ thống khiếu nại rõ ràng và có kiểm soát sẽ góp phần giảm rủi ro pháp lý, tăng niềm tin của người dùng, đồng thời tiệm cận với thông lệ quốc tế trong thương mại điện tử.

Trong trường hợp dự thảo được thông qua, các nền tảng TMĐT và doanh nghiệp công nghệ cần rà soát quy trình hợp đồng, dữ liệu giao dịch và kênh xử lý khiếu nại để đảm bảo phù hợp với yêu cầu pháp luật mới, tránh tranh chấp phát sinh và nâng cao mức độ tuân thủ.

📌 NHẬP NHẰNG MUA CỔ PHẦN – NHẬN CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN VÀ CÁI KẾT “DỞ KHÓC DỞ CƯỜI”Trong hoạt động góp vốn của nhà đầu tư...
11/01/2026

📌 NHẬP NHẰNG MUA CỔ PHẦN – NHẬN CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN VÀ CÁI KẾT “DỞ KHÓC DỞ CƯỜI”
Trong hoạt động góp vốn của nhà đầu tư, việc phân biệt mua cổ phần do công ty phát hành và mua lại cổ phần từ cổ đông hiện hữu tưởng chừng đơn giản nhưng lại là nguyên nhân dẫn đến vô số tranh chấp phức tạp. Một vụ án gần đây đã phản ánh rất rõ thực trạng này.
📍 Bối cảnh vụ việc:
Nhà đầu tư nước ngoài ông F muốn sở hữu 49% cổ phần của Công ty T. Quá trình giao dịch, hai Bên đã ký kết các tài liệu sau:
- Thỏa thuận giữa ông F và Công ty T – thể hiện việc góp vốn để công ty phát hành cổ phần cho ông F.
- Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần giữa ông F và ông V (cổ đông công ty) – thể hiện việc ông V bán lại cổ phần của mình cho ông F.
Đáng chú ý, ông F đã chuyển tổng cộng hơn 21 tỷ đồng cho cả Công ty và ông V. Sau đó, Phòng Đăng ký kinh doanh xác nhận ông F là cổ đông sở hữu 49% cổ phần của Công ty T.
📍 Khi tranh chấp xảy ra
Vấn đề phát sinh là:
Thực chất ông F đã mua cổ phần từ ai?
Tiền chuyển cho ông V là nghĩa vụ theo hợp đồng nào?
Tiền chuyển cho Công ty là góp vốn hay thanh toán chuyển nhượng?
Những câu hỏi này không được làm rõ ngay từ đầu, khiến giao dịch rơi vào trạng thái “nửa góp vốn – nửa chuyển nhượng”.
📍 Quan điểm của Tòa án cấp phúc thẩm
Trong Bản án số 21/2025 ngày 19/12/2025 của TAND cấp cao tại Hà Nội, Tòa nhận định:
- Thỏa thuận góp vốn chỉ ràng buộc giữa ông F và Công ty T, chứ không phải giữa ông F và cá nhân ông V.
- Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông F và ông V chưa được chứng minh rõ, chỉ có bản photo.
- Dòng tiền hơn 21 tỷ đồng đi vào tài khoản Công ty và ông V nhưng mục đích sử dụng không được giải thích rõ.
Nếu thỏa thuận bị hủy, theo Điều 427 BLDS, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Tòa sơ thẩm chỉ buộc ông F trả lại 49% cổ phần nhưng không buộc ông V hoàn trả hơn 11 tỷ đồng đã nhận, dẫn đến không bảo đảm quyền lợi của bị đơn.
📍 Vấn đề pháp lý cốt lõi
Vụ việc cho thấy một bài học lớn:
Chỉ cần nhập nhằng giữa “góp vốn phát hành” và “chuyển nhượng cổ phần”, doanh nghiệp có thể đối mặt với tranh chấp kéo dài và thiệt hại tài chính lớn.
📍 Bài học cho doanh nghiệp & nhà đầu tư
Khi thực hiện giao dịch mua – bán cổ phần, cần bảo đảm:
✔ Làm rõ bản chất giao dịch: góp vốn phát hành hay chuyển nhượng?
✔ Xác định đúng chủ thể giao dịch: với công ty hay với cổ đông?
✔ Thống nhất dòng tiền và chứng từ
✔ Lưu trữ đầy đủ hồ sơ pháp lý
✔ Thực hiện đúng thủ tục đăng ký thay đổi cổ đông

Trong trường hợp cá nhân hoặc doanh nghiệp đang có ý định chuyển nhượng hoặc mua cổ phần, cần làm rõ các quyền và nghĩa vụ của các bên, làm rõ bản chất của giao dịch, để tránh thiệt hại và rủi ro pháp lý về sau.

Các bên cần tư vấn pháp lý, vui lòng liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ đầy đủ và kịp thời.
Nguồn: Legal Forum
📞 Hotline: 0977.939.116 (Luật sư Đinh Vĩ) hoặc inbox trực tiếp qua Fanpage.

📌 GIỮ SỔ ĐỎ “LÀM TIN” — KHÔNG PHẢI THẾ CHẤP, NHƯNG VẪN CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ?Trong thực tế đời sống, khi cho vay tiền, nhiề...
11/01/2026

📌 GIỮ SỔ ĐỎ “LÀM TIN” — KHÔNG PHẢI THẾ CHẤP, NHƯNG VẪN CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ?

Trong thực tế đời sống, khi cho vay tiền, nhiều người không lập hợp đồng thế chấp tài sản đúng thủ tục mà chỉ yêu cầu người vay giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) hoặc giấy chứng nhận tài sản khác để “giữ làm tin”. Cách làm này phổ biến đến mức trở thành tập quán dân sự, nhưng lại khiến nhiều người nhầm tưởng rằng đó là “thế chấp”.

Một vụ việc được xét xử gần đây liên quan đến ông Trần Văn T1 và bà Lê Thị Thu V cho thấy một điểm thú vị về vấn đề này.

Ông T1 vay tiền bà V và giao Giấy CNQSDĐ cho bà V giữ. Tuy nhiên, giữa hai bên không có thủ tục thế chấp theo quy định pháp luật, ví dụ như: Không đăng ký giao dịch bảo đảm, không lập hợp đồng thế chấp, không công chứng/chứng thực theo quy định.

Vậy nên, Tòa án khẳng định rằng việc ông T1 giao sổ đỏ cho bà V giữ không tạo ra một “chủ nợ có bảo đảm” theo cơ chế thế chấp QSDĐ, do không đáp ứng điều kiện của giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai và Bộ luật Dân sự.

Tuy nhiên, Tòa cũng ghi nhận rằng hành vi giao giấy chứng nhận để giữ làm tin là thực tế xã hội tồn tại phổ biến, và không trái pháp luật. Khi sổ đỏ được giữ, người vay (người đứng tên tài sản) sẽ:
- Bị hạn chế quyền tiếp cận và sử dụng giấy tờ đó, khó thực hiện các giao dịch chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp với bên thứ ba, và phải trả nợ để nhận lại giấy tờ.

Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm tuyên rằng: ông T1 chỉ được nhận lại sổ đỏ khi đã trả xong nợ cho bà V là phù hợp pháp luật.
Điều này cho thấy một điểm quan trọng:
Giữ sổ làm tin không phải thế chấp, nhưng vẫn tạo ra ràng buộc thực tế và hạn chế quyền dân sự nhất định đối với người vay.

📍 BÀI HỌC PHÁP LÝ
Nếu muốn có bảo đảm đầy đủ và an toàn, người cho vay cần:
- Lập hợp đồng thế chấp đúng quy định
- Đăng ký giao dịch bảo đảm
- Công chứng/chứng thực theo luật

Còn người vay cần hiểu rằng:
- Giao sổ không làm mất quyền sở hữu, nhưng
- Hạn chế nghiêm trọng quyền định đoạt, và
- Việc đòi lại giấy tờ phụ thuộc vào nghĩa vụ trả nợ.

📌 KHUYẾN NGHỊ
Trong trường hợp cá nhân hoặc doanh nghiệp:
- Cho vay có bảo đảm, vay vốn, chuyển nhượng tài sản, hoặc có tranh chấp về sổ đỏ
- Hãy làm rõ bản chất giao dịch, quyền và nghĩa vụ của các bên, để tránh rủi ro và thiệt hại về sau.

Nếu cần tư vấn soạn thảo, rà soát hoặc giải quyết tranh chấp, vui lòng liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ đúng pháp luật và kịp thời.

Address

Số NO. 02, Liền Kề 29, Khu Cổng Đồng, Phường Dương Nội

Telephone

+84977939116

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật Dương An posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

  • Want your business to be the top-listed Law Practice?

Share