09/03/2026
VÌ SAO CÓ QUAN CHỨC NHẬN TIỀN NHƯNG KHÔNG BỊ CÁO BUỘC TỘI NHẬN HỐI LỘ?
(Nội dung link trả lời Vnexpress dưới comment).
Thời gian gần đây nhiều quan chức bị khởi tố trong các đại án, vụ án về kinh tế, tham nhũng. Điểm đáng chú ý là cùng có hành vi “nhận tiền” nhưng tội danh lại khác nhau: người bị khởi tố về tội Nhận hối lộ, người bị khởi tố về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, thậm chí có người không bị khởi tố về cả hai tội danh này.
Về mặt pháp lý, để xác định một người có phạm vào một tội danh cụ thể hay không thì phải căn cứ vào cấu thành tội phạm của tội danh đó được quy định trong Bộ luật hình sự hiện hành.
1. KHI NÀO QUAN CHỨC NHẬN TIỀN SẼ BỊ CÁO BUỘC TỘI NHẬN HỐI LỘ?
Để thỏa mãn các dấu hiệu của tội Nhận hối lộ, bắt buộc phải có các dấu hiệu sau:
1.1. Về chủ thể: Chủ thể của tội Nhận hối lộ là chủ thể đặc biệt, phải là người có chức vụ, quyền hạn. Nếu người dân bình thường, không có chức vụ, quyền hạn thì không thể là chủ thể của tội danh này.
1.2. Về hành vi phạm tội: Người có chức vụ, quyền hạn phải có hành vi nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất (ví dụ: đi du lịch, nghỉ dưỡng) trị giá từ 2 triệu đồng trở lên hoặc lợi ích phi vật chất khác (ví dụ: quan hệ tình/dục…) để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.
Về bản chất trao đổi lợi ích: Điểm mấu chốt của tội Nhận hối lộ là yếu tố đổi chác quyền lực.
Không nhất thiết phải có thỏa thuận trước bằng lời nói hoặc văn bản, nhưng phải chứng minh được rằng:
Việc nhận tiền gắn với một hành vi công vụ cụ thể; có sự ràng buộc lợi ích giữa bên đưa và bên nhận; người nhận tiền thực hiện hoặc không thực hiện hành vi vì lợi ích của người đưa tiền.
Nếu không chứng minh được mối quan hệ trao đổi này thì chưa đủ căn cứ để xử lý về tội Nhận hối lộ.
2. KHI NÀO BỊ KHỞI TỐ VỀ TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ?
Đây cũng là tội danh đòi hỏi chủ thể đặc biệt, tức là người có chức vụ, quyền hạn. Theo đó, người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ, gây thiệt hại về tài sản từ 10 triệu đồng trở lên hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì sẽ phạm vào tội danh này.
Làm trái công vụ được hiểu là: Làm trái với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được Nhà nước giao. Đối với tội danh này cần lưu ý: Không bắt buộc phải có hành vi nhận tiền; Động cơ có thể là vụ lợi về tiền, tài sản; Hoặc động cơ cá nhân khác như: thành tích, nể nang, muốn được cấp trên ghi nhận…
Ví dụ: quyết định cưỡng chế giải phóng mặt bằng sai trình tự, thủ tục nhằm sớm hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao, gây thiệt hại thì vẫn có thể cấu thành tội danh này.
3. TỘI NHẬN HỐI LỘ VÀ TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO?
Hai tội danh này có nhiều điểm khác nhau:
3.1. Về hành vi khách quan: Tội Nhận hối lộ là hành vi “làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ”. Tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn là hành vi “làm trái công vụ”.
3.2. Về cấu thành tội phạm: Tội Nhận hối lộ chỉ cần chứng minh hành vi nhận tiền từ 2 triệu đồng trở lên là đã có thể cấu thành tội phạm. Tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn có cấu thành vật chất, đòi hỏi hành vi làm trái công vụ phải gây thiệt hại từ 10 triệu đồng trở lên hoặc gây thiệt hại khác.
3.3. Về mức hình phạt: Tội Nhận hối lộ có mức hình phạt cao nhất là tử/hình. Tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn có mức hình phạt cao nhất là 15 năm/tù.
4. TRƯỜNG HỢP NÀO NHẬN TIỀN NHƯNG KHÔNG BỊ XỬ LÝ THEO HAI TỘI DANH TRÊN?
Trường hợp nhận tiền nhưng không thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành của hai tội danh nêu trên thì không có căn cứ xử lý hình sự.
Ví dụ 1: Không chứng minh được yếu tố làm hoặc không làm một việc vì lợi ích của người đưa tiền; Không có hành vi làm trái công vụ; Hoặc có làm trái nhưng không gây thiệt hại theo quy định pháp luật.
Ví dụ 2: Đối với trường hợp biếu quà ngày lễ, tết hoặc “tiền cảm ơn”, nếu không có sự gợi ý, không có thỏa thuận đổi chác, không gắn với hành vi công vụ cụ thể và không làm trái quy định thì có thể không cấu thành tội Nhận hối lộ. Tuy nhiên, hành vi này vẫn có thể vi phạm quy định về kỷ luật, đạo đức công vụ và có thể bị xử lý hành chính hoặc kỷ luật Đảng.
5. QUAN ĐIỂM CỦA LUẬT SƯ
Việc cùng “nhận tiền” nhưng tội danh khác nhau không phải là sự bất nhất trong xử lý, mà phản ánh nguyên tắc rất cơ bản của pháp luật hình sự: tội danh phải được xác định dựa trên cấu thành tội phạm và chứng cứ, không dựa trên cảm tính dư luận.
Trong các đại án tham nhũng, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh từng yếu tố cấu thành tội phạm đối với từng cá nhân. Không phải cứ có yếu tố nhận tiền là đương nhiên cấu thành tội Nhận hối lộ. Nếu không chứng minh được yếu tố trao đổi lợi ích, không chứng minh được hành vi làm trái công vụ gây thiệt hại thì không thể áp dụng tội danh đó.
Ngược lại, nếu có đủ căn cứ về việc đổi chác quyền lực, thỏa thuận lợi ích hoặc làm trái công vụ gây hậu quả thì pháp luật quy định khung hình phạt rất nghiêm khắc, thậm chí cao nhất có thể đến tử/hình đối với tội Nhận hối lộ.
Việc phân hóa trách nhiệm hình sự trong từng vụ án thể hiện xu hướng xử lý theo hướng cá thể hóa trách nhiệm, bảo đảm nguyên tắc công bằng và pháp quyền. Mỗi hành vi, mỗi vai trò, mỗi mức độ lỗi đều phải được đánh giá riêng biệt, không thể đồng nhất chỉ vì cùng xuất hiện yếu tố tiền bạc.
Trong bối cảnh công cuộc phòng, chống tham nhũng đang được đẩy mạnh, điều quan trọng không chỉ là xử lý nghiêm minh mà còn là xử lý đúng tội danh, đúng bản chất hành vi. Đó cũng là yêu cầu cốt lõi của một Nhà nước pháp quyền: xử lý nghiêm nhưng phải chuẩn xác và có căn cứ pháp lý vững chắc.
Ls Lê Hồng Hiển.