Công ty Luật Hiền Phúc Hà Nội

  • Home
  • Công ty Luật Hiền Phúc Hà Nội

Công ty Luật Hiền Phúc Hà Nội Giám đốc - Trần Thị Hiền- ĐT/zalo 0962282418
Giữ trọn đạo đức nghề nghiệp

12/06/2026
THẬN TRỌNG NHƯNG KHÔNG VÔ VỌNG – CÁCH ỨNG XỬ CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN MỚINghề luật sư chưa bao giờ là một nghề dễ dàn...
11/06/2026

THẬN TRỌNG NHƯNG KHÔNG VÔ VỌNG – CÁCH ỨNG XỬ CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

Nghề luật sư chưa bao giờ là một nghề dễ dàng.

Mỗi lời tư vấn đưa ra, mỗi văn bản gửi đi, mỗi ý kiến phát biểu tại cơ quan tiến hành tố tụng đều gắn với trách nhiệm nghề nghiệp và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.

Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện, các quy định về xử lý vi phạm hành chính ngày càng chặt chẽ, thẩm quyền của nhiều cơ quan, cá nhân được mở rộng hơn, người luật sư càng phải hành nghề cẩn trọng, chuẩn mực và tuân thủ pháp luật.

Nhưng cẩn trọng không có nghĩa là sợ hãi.

Thận trọng là để tránh sai sót, tránh những rủi ro không đáng có trong quá trình hành nghề. Còn nỗi sợ hãi lại khiến con người thu mình, né tránh trách nhiệm và đánh mất bản lĩnh của người làm nghề.

Luật sư chân chính không hành nghề bằng cảm tính hay sự hiếu thắng. Chúng tôi hành nghề bằng kiến thức pháp luật, bằng chứng cứ, bằng đạo đức nghề nghiệp và bằng trách nhiệm đối với khách hàng cũng như xã hội.

Khi làm đúng pháp luật, tôn trọng sự thật khách quan và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, luật sư có quyền tin tưởng rằng pháp luật cũng sẽ bảo vệ mình.

Người luật sư khôn ngoan không lựa chọn đối đầu. Thay vào đó là sự ứng xử văn minh, tôn trọng các cơ quan nhà nước, tôn trọng những người cùng tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc. Nhưng sự tôn trọng đó không đồng nghĩa với việc từ bỏ chính kiến nghề nghiệp. Khi cần thiết, luật sư vẫn phải kiên trì bảo vệ quan điểm của mình bằng lập luận sắc bén, bằng chứng cứ và bằng các quy định của pháp luật.

Có thể hành nghề luật sư hôm nay đòi hỏi sự cẩn trọng hơn ngày hôm qua. Nhưng điều đó không có nghĩa chúng ta mất niềm tin vào nghề, càng không phải là lý do để từ bỏ những giá trị tốt đẹp mà nghề luật sư đang theo đuổi.

Thận trọng để tránh sai sót.

Bản lĩnh để không chùn bước.

Hiểu luật để tự bảo vệ mình.

Và giữ một cái tâm trong sáng để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ công lý.

Đó không chỉ là cách ứng xử của luật sư trong giai đoạn hiện nay, mà còn là những giá trị cần được gìn giữ trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Luật sư Trần Thị Hiền
Giám đốc Công ty Luật TNHH Hiền Phúc Hà Nội
📞 0962.282.428
🌐

Năng lực Luật sư Công ty là rất tốt. Đáp ứng vượt trội những yêu cầu của khách hàng đặt ra, đó là lý do Công ty cổ phần Thiên Hà sẽ chọn Công Ty LUẬT HIỀN PHÚC đồng hành cùng sự phát triển. Chúc quý công ty phát triển và bền v....

ĐIỀU KIỆN ĐỂ HỘ DÂN ĐƯỢC BỒI THƯỜNG ĐẤT BẰNG SUẤT TÁI ĐỊNH CƯ THEO NGHỊ ĐỊNH 88/2024/NĐ-CP1. Tái định cư là gìTái định c...
10/06/2026

ĐIỀU KIỆN ĐỂ HỘ DÂN ĐƯỢC BỒI THƯỜNG ĐẤT BẰNG SUẤT TÁI ĐỊNH CƯ THEO NGHỊ ĐỊNH 88/2024/NĐ-CP
1. Tái định cư là gì
Tái định cư được hiểu là việc Nhà nước thực hiện bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở tại khu tái định cư (hoặc địa điểm khác phù hợp) cho người có đất bị thu hồi, hoặc hỗ trợ bằng giao đất ở, nhà ở tái định cư cho người không đủ điều kiện bồi thường về đất ở nhưng không còn chỗ ở nào khác.
Như vậy, suất tái định cư không chỉ dành riêng cho những người đủ điều kiện bồi thường, mà còn mở rộng sang cả trường hợp hỗ trợ nhân đạo khi người dân thực sự không có chỗ ở sau khi bị thu hồi đất.
2. Điều kiện chung để được bồi thường về đất
Những trường hợp sau được bồi thường về đất
Theo Điều 11 Nghị định 88/2024/NĐ-CP, những hộ dân có GCNQSDĐ và đang sinh sống với nhà ở trên đất khi bị thu hồi đất thì được bồi thường theo một trong các hình thức sau: tiền mặt, đất ở, đất có mục đích sử dụng khác, hoặc suất tái định cư. Trong trường hợp bị thu hồi hết đất ở (hoặc phần còn lại nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của UBND tỉnh) mà không còn đất ở hay nhà ở nào khác trên địa bàn xã/phường/thị trấn, khoản 2 Điều 11 quy định những người này được bồi thường bắt buộc bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư nếu có nhu cầu.
Hộ dân sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nhưng đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận (Khoản 1, Điều 5 Nghị định 88);
Hộ dân sử dụng đất có vi phạm pháp luật về đất đai trước ngày 01/7/2014 nhưng đã sử dụng ổn định và thuộc trường hợp được xem xét cấp Giấy chứng nhận (Khoản 2, Điều 5 Nghị định 88);
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai tại thời điểm được giao hoặc sử dụng đất do mua, nhận thanh lý, hóa giá, phân phối nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất không đúng quy định của pháp luật nhưng đã sử dụng đất ổn định trước ngày ngày 01 tháng 7 năm 2014. (Khoản 3, Điều 5 Nghị định 88);
Hộ dân đang sử dụng đất có giấy tờ nhưng loại đất trên giấy tờ khác với phân loại tại Điều 9 Luật Đất đai hoặc khác hiện trạng sử dụng – được bồi thường theo loại đất sau khi xác định lại (Khoản 4, Điều 5 Nghị định 88);
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đang sử dụng đất nông nghiệp ổn định trước ngày 01/7/2004 nhưng không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận (Khoản 5, Điều 5 Nghị định 88).
3. Điều kiện cụ thể để được bồi thường theo suất tái định cư
Điều kiện bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư được quy định tại Điều 11 Nghị định 88/2024/NĐ-CP, áp dụng cho hộ gia đình, cá nhân là người Việt Nam, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sử dụng đất ở. Cụ thể:
Trường hợp 1: Bắt buộc bồi thường bằng tái định cư (Điểm a, Khoản 2, Điều 11):
Người có đất bị thu hồi được quyền yêu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư khi đồng thời thỏa mãn hai điều kiện:
(i) Bị thu hồi hết đất ở, hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu do UBND cấp tỉnh quy định;
(ii) Hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trên địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi.
Trường hợp 2: Lựa chọn theo thỏa thuận (Điểm b, Khoản 2, Điều 11):
Trường hợp không thuộc nhóm trên, người có đất thu hồi vẫn có thể nhận bồi thường bằng suất tái định cư nếu có nhu cầu và địa phương có quỹ đất, quỹ nhà phù hợp, thể hiện qua phương án bồi thường được phê duyệt.
Cần lưu ý đối với trường hợp có GCNQSDĐ nhưng không ở trên đất, Nghị định 88 không quy định cụ thể về trường hợp này. Theo Nghị định, việc bồi thường suất tái định cư chỉ dành cho người “đang sử dụng đất ở, đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất”. Hệ quả thực tế là người chỉ có sổ đỏ đất ở nhưng chưa có nhà trên đất, dù vẫn được bồi thường về đất, sẽ không được bồi thường bắt buộc bằng suất tái định cư mà chỉ được bồi thường bằng tiền mặt hoặc đất khác mục đích.
4. Một số lưu ý khác
Địa bàn được xét “không còn nhà ở, đất ở khác” giới hạn ở cấp xã/phường/thị trấn nơi có đất bị thu hồi, không mở rộng ra toàn huyện hay toàn tỉnh.
Nếu tiền bồi thường nhỏ hơn tiền sử dụng đất hoặc tiền mua nhà tái định cư, người có đất thu hồi phải nộp phần chênh lệch (Điểm b, Khoản 2, Điều 4 Nghị định 88).
Giá đất tính tiền sử dụng đất khi bồi thường bằng đất khác loại cho hộ gia đình, cá nhân được xác định theo bảng giá đất tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường (Khoản 1, Điều 4 Nghị định 88).
📞 Luật sư Trần Thị Hiền;
Công ty Luật TNHH Hiền Phúc Hà Nội;
Hotline: 0962 282 418;
Địa chỉ giao dịch: P428-VP3, Bán đảo Linh Đàm, Hoàng Liệt, Hà Nội;
Email: [email protected]
https://hienphuclaw.com/dieu-kien-de-ho-dan-duoc-boi.../ Ẩn bớt

ĐIỀU KIỆN ĐỂ HỘ DÂN ĐƯỢC BỒI THƯỜNG ĐẤT BẰNG SUẤT TÁI ĐỊNH CƯ THEO NGHỊ ĐỊNH 88/2024/NĐ-CP Đã đăng trên 09/06/2026 bởi Admin 20 Views Điều kiện để hộ dân được bồi thường đất bằng suất tái định cư theo Nghị Định 88/2024...

PHÂN BIỆT TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VÀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN    Trong thực tiễn pháp lý, tội “L...
07/06/2026

PHÂN BIỆT TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VÀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Trong thực tiễn pháp lý, tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thường bị nhầm lẫn bởi cùng có hậu quả là chiếm đoạt tài sản của người khác. Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định hai tội này tách biệt tại Điều 174 và Điều 175, với những yếu tố cấu thành khác nhau mang tính bản chất.

1. Khái niệm và bản chất pháp lý

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) được đặc trưng bởi hành vi gian dối có chủ đích từ trước. Người phạm tội cố tình tạo ra thông tin sai sự thật hoặc che giấu thực tế nhằm làm cho người khác tin tưởng mà tự nguyện giao tài sản. Ý định chiếm đoạt hình thành và tồn tại ngay từ trước khi tiến hành hành vi lừa dối.

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS) lại có cơ chế hoàn toàn khác. Người phạm tội ban đầu nhận tài sản trên cơ sở hợp pháp, thông qua hợp đồng vay mượn, thuê, ủy thác, hoặc các giao dịch dân sự khác có hiệu lực. Ý định chiếm đoạt chỉ nảy sinh sau đó, thể hiện qua các hành vi như bỏ trốn, sử dụng tài sản trái phép hoặc cố tình không hoàn trả, tẩu tán tài sản…

2. Yếu tố then chốt phân biệt hai tội danh: thời điểm hình thành ý định chiếm đoạt:

Đây là tiêu chí mang tính quyết định nhất để phân biệt hai tội danh, được Tòa án Nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng nhất quán trong thực tiễn xét xử.

Dấu hiệu của tội lừa đảo là ý định chiếm đoạt tài sản xuất hiện trước, sau đó tội phạm có hành vi gian dối để thực hiện ý định. Nạn nhân không tự nguyện thực sự mà bị dẫn dắt bởi nhận thức sai lệch do bị tạo ra.

Với tội lạm dụng tín nhiệm, ngược lại, tài sản được chuyển giao một cách hợp pháp trước, sau đó người đang nắm giữ tài sản mới nảy sinh ý định chiếm đoạt. Việc giao tài sản ban đầu hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp và dựa trên cơ sở tin tưởng có thực.

3. Hành vi khách quan đặc trưng

Đối với tội lừa đảo, hành vi gian dối là yếu tố không thể thiếu và phải xuất hiện trước khi tài sản được chuyển giao. Các dạng phổ biến gồm: giả mạo giấy tờ, tự xưng địa vị không có thực, đưa ra thông tin sai về dự án, hàng hóa, dịch vụ.

Đối với tội lạm dụng tín nhiệm, Điều 175 BLHS liệt kê ba nhóm hành vi chiếm đoạt cụ thể sau khi nhận tài sản hợp pháp: (a) bỏ trốn để chiếm đoạt; (b) sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng hoàn trả; (c) dùng thủ đoạn gian dối hoặc chiếm đoạt.

Lưu ý rằng ở tội lạm dụng tín nhiệm, hành vi gian dối có thể xuất hiện nhưng chỉ ở giai đoạn sau, khi người phạm tội tìm cách che giấu hành vi chiếm đoạt, chứ không phải là phương thức để nhận tài sản ban đầu.

4. Về mức định lượng và hình phạt

Theo quy định hiện hành, ngưỡng giá trị tài sản để cấu thành tội phạm có sự khác biệt: tội lừa đảo khởi điểm từ 2 triệu đồng, trong khi tội lạm dụng tín nhiệm khởi điểm từ 4 triệu đồng.

Về khung hình phạt, tội lừa đảo có mức tối đa nghiêm khắc hơn đáng kể là tù chung thân (khoản 4 Điều 174). Điều này phản ánh tính nguy hiểm cao hơn của hành vi cố ý lừa dối ngay từ đầu. Trong khi đó, tội lạm dụng tín nhiệm có khung hình phạt cao nhất là 20 năm tù (khoản 4 Điều 175).

5. Ví dụ minh họa

Tình huống 1: A tiếp cận B với hợp đồng đầu tư bất động sản giả đề nghị B hùn vốn cho A và cam kết lãi suất cao. B khi thấy A đã có hợp đồng đầu tư BĐS giá trị lớn, đã đóng số tiền lớn, còn lại nhỏ nên đã tin tưởng A có khả năng tài chính lớn, an toàn nên B đã chuyển khoản cho A số tiền còn thiếu đóng theo tiến độ của A. Khi B chuyển khoản cho A, thì A lập tức chặn liên lạc và chiếm đoạt số tài sản trên và bỏ trốn. Sau đó B tố giác hành vi của A, tại cơ quan điều tra A khai nhận đã làm giả hợp đồng, A không ký kết hợp đồng nào, không đứng tên trên hợp đồng BĐS nào, những lô đất A đưa B đến xem đều của người khác. Như vậy, ngay từ đầu A không có dự án nào; mục đích duy nhất là lấy tiền. Đây là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Tình huống 2: C vay D 500 triệu đồng nhằm mục đích đầu tư kinh doanh, hai bên có ký hợp đồng vay tiền hợp pháp. Tuy nhiên sau đó C làm ăn thua lỗ, từ đó nảy sinh ý định không trả nợ và bỏ trốn, khiến cho D không thể đòi lại số tiền vay mà hai bên đã thỏa thuận ban đầu. Đây là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Việc xác định đúng tội danh không chỉ ảnh hưởng đến khung hình phạt mà còn quyết định đường lối truy tố và chiến lược bào chữa. Trong thực tiễn, ranh giới giữa hai tội danh đôi khi rất mờ, đòi hỏi cơ quan tố tụng phải thu thập đủ chứng cứ chứng minh thời điểm hình thành ý định phạm tội, căn cứ vào đó để phân loại khách quan theo pháp luật hiện hành.

Thông tin giao dịch:
Công ty Luật TNHH Hiền Phúc Hà Nội;
Luật sư Trần Thị Hiền- Giám đốc Công ty- SĐT: 0962 282 418;
Hotline: 0962 282 418;
Địa chỉ giao dịch: P428-VP3, Bán đảo Linh Đàm, Hoàng Liệt, Hà Nội;
Email: [email protected];

https://hienphuclaw.com/phan-biet-toi-lua-dao-chiem-doat-tai-san-va-toi-lam-dung-tin-nhiem-chiem-doat-tai-san/

06/06/2026

Một câu hỏi đứng hình của khán giả trên livetream hôn

CÓ NHỮNG BẢN ÁN KHÉP LẠI, NHƯNG NHỮNG TRĂN TRỞ THÌ VẪN CÒNLàm nghề luật sư nhiều năm, tôi nhận ra rằng có những phiên tò...
06/06/2026

CÓ NHỮNG BẢN ÁN KHÉP LẠI, NHƯNG NHỮNG TRĂN TRỞ THÌ VẪN CÒN
Làm nghề luật sư nhiều năm, tôi nhận ra rằng có những phiên tòa kết thúc nhưng những suy nghĩ về vụ án thì vẫn còn ở lại rất lâu sau đó.
Người ngoài nhìn vào thường chỉ thấy kết quả cuối cùng là bị cáo bị phạt bao nhiêu năm tù, được giảm bao nhiêu tháng hay phải bồi thường bao nhiêu tiền. Nhưng với những người trực tiếp tham gia vụ án, đặc biệt là người luật sư, điều còn đọng lại nhiều khi không phải là con số, mà là những câu hỏi về sự công bằng, về trách nhiệm và về số phận của những con người trong vụ việc.
Trong vụ án này, điều khiến nhiều người quan tâm là Viện kiểm sát cấp phúc thẩm đã kháng nghị phần dân sự và đồng thời đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo từ 9 đến 12 tháng tù.
Tôi cho rằng đây là một chi tiết đáng suy ngẫm.
Viện kiểm sát không đứng về phía luật sư, cũng không đứng về phía bị cáo. Chức năng của họ là bảo đảm việc áp dụng pháp luật được khách quan, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật. Vì vậy, khi cơ quan thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên kháng nghị và tiếp tục đề nghị giảm án tại phiên tòa phúc thẩm, điều đó cho thấy họ nhận thấy vụ án còn những vấn đề cần được xem xét thấu đáo hơn, đặc biệt là trong việc đánh giá nguyên nhân dẫn đến tai nạn, trách nhiệm dân sự và việc lượng hình đối với bị cáo.
Điều khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn cả là hoàn cảnh của bị cáo.
Bị cáo năm nay đã gần 70 tuổi. Ông từng là chiến sĩ hỏa tuyến trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trình độ văn hóa chỉ lớp 2, không biết đọc, không biết viết. Sau chiến tranh, ông trở về quê hương, sống cuộc đời của một người nông dân bình dị như bao người khác. Vợ ông tâm sự với luật sư “cả đời ông chưa làm ra được số tiền lớn đến 20 triệu đồng, lần này ông bị hạn, tất cả anh em phải cùng góp sức lo cho ông”.
Ngày xảy ra vụ việc, ông điều khiển xe đạp sang đường. Qua lời khai của chính bị cáo, ông cho rằng chiếc xe tải còn ở khá xa nên chủ quan nghĩ rằng mình có thể sang đường an toàn. Đó là một nhận định sai lầm và chính bị cáo cũng đã thừa nhận sự chủ quan của mình.
Nhưng nếu nhìn toàn bộ hồ sơ vụ án, chúng ta cũng cần nhìn nhận một cách khách quan rằng lỗi không chỉ xuất phát từ người đi xe đạp.
Các tài liệu trong hồ sơ thể hiện người điều khiển xe tải đã điều khiển phương tiện vượt quá tốc độ cho phép, chở quá tải, cơi nới thành thùng xe, phương tiện không bảo đảm các tiêu chuẩn kỹ thuật về an toàn. Đáng chú ý hơn, khi phát hiện người đi xe đạp phía trước, thay vì giảm tốc độ và xử lý tình huống theo đúng quy tắc an toàn giao thông, tài xế đã không có biện pháp xử lý phù hợp.
Hậu quả là chiếc xe tải lao sang phần đường khác, va chạm với nhiều phương tiện và gây ra vụ tai nạn liên hoàn đặc biệt nghiêm trọng.
Qua hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, người đi xe đạp gần như đã đi gần hết phần đường ưu tiên của mình. Vì vậy, theo quan điểm của tôi, nguyên nhân dẫn đến tai nạn cần được đánh giá toàn diện, khách quan và đầy đủ hơn, thay vì chỉ nhìn nhận từ một phía.
Đó cũng là một trong những lý do khiến Viện kiểm sát cấp phúc thẩm vẫn giữ nguyên kháng nghị và đề nghị xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm còn xuất hiện thêm nhiều tình tiết mới. Bị cáo đã thay đổi nhận thức, thành khẩn hơn trong việc nhìn nhận hành vi của mình. Gia đình bị cáo tiếp tục tích cực khắc phục hậu quả. Nhiều tình tiết giảm nhẹ mới được bổ sung. Quan điểm của Viện kiểm sát cũng có sự thay đổi theo hướng khách quan và nhân văn hơn.
Tuy nhiên, sau khi xem xét toàn bộ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ chấp nhận giảm cho bị cáo 6 tháng tù và không chấp nhận phần kháng nghị về dân sự.
Là người làm nghề luật, tôi hiểu rằng việc đánh giá chứng cứ và quyết định mức hình phạt thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử. Mỗi cấp tòa án có cách nhìn nhận riêng về chứng cứ, về lỗi và về việc lượng hình.
Có những vụ án mà cấp sơ thẩm và phúc thẩm giữ nguyên quan điểm. Nhưng cũng có những vụ án sau này tiếp tục được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm khi xuất hiện những căn cứ mới hoặc khi có những vấn đề pháp lý cần được đánh giá lại.
Đó là điều bình thường trong hoạt động tư pháp.
Bởi xét xử không phải là công việc của những chiếc máy. Đằng sau mỗi bản án là con người. Đằng sau mỗi hồ sơ là một cuộc đời, một gia đình, một số phận.
Người luật sư khi tham gia tố tụng không mong muốn điều gì khác ngoài việc tất cả các tình tiết khách quan của vụ án được xem xét đầy đủ, đúng pháp luật và công bằng. Bởi đôi khi điều khiến chúng ta day dứt không phải là bản án nặng hay nhẹ, mà là câu hỏi liệu tất cả những yếu tố cần được cân nhắc đã thực sự được nhìn nhận hết hay chưa.
Có những phiên tòa đã kết thúc. Có những bản án đã được tuyên. Nhưng với người luật sư, những trăn trở về sự công bằng đôi khi vẫn còn ở lại rất lâu sau khi cánh cửa phòng xử án đã khép lại.
Bởi công lý không chỉ cần sự nghiêm minh. Công lý còn cần sự thấu hiểu đối với con người, sự khách quan trong đánh giá chứng cứ và tính nhân văn trong quá trình áp dụng pháp luật.
Luật sư Trần Thị Hiền – Công ty Luật TNHH Hiền Phúc Hà Nội;
Hotline: 0962 282 418;
Địa chỉ giao dịch: P428-VP3, Bán đảo Linh Đàm, Hoàng Liệt, Hà Nội;
Email: [email protected];
Website: hienphuclaw.com;

Trộm cắp, cướp giật và cưỡng đoạt tài sản – Khác nhau thế nào?Cùng nhắm vào tài sản của người khác, nhưng ba tội danh nà...
04/06/2026

Trộm cắp, cướp giật và cưỡng đoạt tài sản – Khác nhau thế nào?
Cùng nhắm vào tài sản của người khác, nhưng ba tội danh này có bản chất hoàn toàn khác nhau. Hiểu rõ bản chất của từng tội danh để không bị nhầm lẫn.

1. Trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) : Kẻ phạm tội hành động bí mật, lén lút, chờ nạn nhân sơ hở mới ra tay. Móc túi trên xe buýt, đột nhập nhà ban đêm, lấy đồ khi chủ quay mặt đi… đều là trộm cắp. Giá trị tài sản từ 2 triệu đồng trở lên (hoặc nếu dưới 2 triệu đồng thì phải có điều kiện đi kèm) mới cấu thành tội phạm. Mức phạt tối đa: 20 năm tù.

2. Cướp giật tài sản (Điều 171 BLHS) : Kẻ phạm tội ra tay công khai và cực nhanh; giật dây chuyền, cướp điện thoại, giật túi xách rồi phóng xe bỏ chạy. Nạn nhân biết mình đang bị lấy tài sản nhưng không kịp phản ứng. Tài sản bị cướp giật bất kể giá trị bao nhiêu cũng cấu thành tội phạm. Mức phạt tối đa: tù chung thân.

3. Cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS) : kẻ phạm tội đe dọa, uy hiếp tinh thần để buộc nạn nhân tự tay giao tài sản. Có thể là đe dọa hành hung, tống tiền bằng bí mật đời tư, hoặc lợi dụng vị thế gây áp lực. Tội này thường kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, âm thầm và khó bị phát giác vì nạn nhân bị đe dọa không được kể với ai. Mức phạt tối đa: 20 năm tù.

TRỘM CẮP TÀI SẢN, CƯỚP GIẬT TÀI SẢN, CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN: ĐÂU LÀ SỰ KHÁC BIỆT? Đã đăng trên 04/06/2026 bởi Admin 2 Views Cùng nhắm vào tài sản của người khác, nhưng trộm cắp, cướp giật và cưỡng đoạt tài sản là ba tội danh hoà...

Address

P428-VP3, Bán đảo Linh Đàm, Hoàng Liệt

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công ty Luật Hiền Phúc Hà Nội posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

  • Want your business to be the top-listed Law Practice?

Share