03/04/2023
TRANH CHẤP LẤN CHIẾM ĐẤT ĐAI TẠI GIA LÂM
Với giá trị ngày càng tăng thì tranh chấp về đất đai ở Gia Lâm diễn ra ngày càng phổ biến. Trong đó, những tranh chấp về lấn chiếm đất đai là không ngoại lệ. Việc lấn chiếm đất đai có thể do nhiều nguyên nhân, ví dụ như từ việc cấp đất chồng lấn từ cơ quan quản lý đất đai, hoặc những trường hợp các gia đình sử dụng đất giáp ranh tự xác định ranh giới đất theo tập quán, qua quá trình sử dụng qua nhiều thế hệ lại phát hiện không trùng khớp với ranh giới được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận. Ngoài ra, cũng không thể loại trừ người lấn chiếm đất trái phép có mục đích chiếm dụng đối với phần đất lấn chiếm đó.
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ LẤN CHIẾM ĐẤT ĐAI
Lần lượt tại các khoản 1 và khoản 2 Điều 3 của Nghị định 91/2019 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai có quy định:
“1. Lấn đất là việc người sử dụng đất chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất sử dụng mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép hoặc không được người sử dụng hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho phép.
2. Chiếm đất là việc sử dụng đất thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Tự ý sử dụng đất mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép;
b) Tự ý sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác mà không được tổ chức, cá nhân đó cho phép;
c) Sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê đất đã hết thời hạn sử dụng mà không được Nhà nước gia hạn sử dụng (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng đất nông nghiệp);
d) Sử dụng đất trên thực địa mà chưa hoàn thành các thủ tục giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật.”
Trên thực tế, các tranh chấp lấn chiếm đất đai thường xảy ra theo khoản 1 và điểm b khoản 2 quy định chúng tôi vừa trích dẫn trên, tức những tranh chấp xảy ra do việc tự ý dịch chuyển mốc giới hoặc ranh giới đất của mình sang phần đất thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của người khác hoặc tự ý vượt ranh giới sang để sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của người khác mà chưa được người đó đồng ý.
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LẤN CHIẾM ĐẤT ĐAI TẠI GIA LÂM CÓ BẮT BUỘC HÒA GIẢI KHÔNG?
Những trường hợp tranh chấp về công nhận/bác bỏ, tranh chấp quyền sử dụng đất, ranh giới, ngõ đi... là những trường hợp buộc phải tiến hành hòa giải trước khi khởi kiện ra Tòa án.
Việc hòa giải tranh chấp đất đai được ghi nhận tại Điều 202 Luật Đất đai và các quy định liên quan tại Bộ luật Dân sự như sau:
Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác.
Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban Nhân dân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban Nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.
Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban Nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác. Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban Nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Trong khi đó, tại Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP hướng dẫn một số quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án có quy định:
Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban Nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Tranh chấp lấn chiếm đất đai cũng được coi là tranh chấp về ranh giới đất và Tòa án sẽ dựa vào các chứng cứ để phán quyết ai là người có quyền sử dụng đất với phần đất đang tranh chấp. Do vậy, tranh chấp lấn chiếm đất đai bắt buộc phải được hòa giải tại UBND cấp xã.
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LẤN CHIẾM ĐẤT ĐAI Ở ĐÂU GIA LÂM
Về vấn đề thẩm quyền giải quyết tranh chấp lấn chiếm đất đai, theo quy định tại Điều 203 Luật Đất đai 2013, tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban Nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án Nhân dân giải quyết;
Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai gồm:
- Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban Nhân dân cấp có thẩm quyền;
- Khởi kiện tại Tòa án Nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Tóm lại, những tranh chấp về đất đai mà đã có Giấy chứng nhận hoặc các loại giấy tờ theo Điều 100 Luật đất đai thì chỉ có Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Ngược lại, những tranh chấp đất đai không có những giấy tờ kể trên thì các bên có thể lựa chọn giải quyết tranh chấp tại UBND cấp có thẩm quyền hoặc tại Tòa án.
Tương tự như vậy, các tranh chấp lấn chiếm đất đai cũng áp dụng các quy đinh về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai chung.
Tuy nhiên, trên thực tế thì các bên có tranh chấp lấn chiếm đất đai tại Gia Lâm thường lựa chọn giải quyết tại Tòa án, bởi việc giải quyết tại UBND cấp có thẩm quyền thường không chặt chẽ, tính thi hành không cao, không giải quyết được dứt điểm sự việc.
NHỮNG LƯU Ý KHI KHỞI KIỆN TRANH CHẤP LẤN CHIẾM ĐẤT ĐAI TẠI GIA LÂM
Để việc khởi kiện giải quyết tranh chấp đất đai diễn ra nhanh chóng, đúng quy định, đạt được quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng đất, bạn cần lưu ý những nội dung sau:
1. Chuẩn bị Hồ sơ khởi kiện đầy đủ, chặt chẽ.
Cũng tương tự những tranh chấp thuộc lĩnh vực khác, việc chuẩn bị bộ hồ sơ khởi kiện tranh chấp lấn chiếm đất đai là điều bắt buộc. Hồ sơ phải đầy đủ về thành phần, trong Đơn khởi kiện phải nêu đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật. Điều này sẽ hạn chế khả năng Tòa án yêu cầu sửa đổi/bổ sung Đơn khởi kiện hoặc trả lại Đơn khởi kiện, làm mất thời gian và mất đi quyền lợi chính đáng của bạn.
2. Tham gia đầy đủ quá trình tố tụng.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Tòa án có thể sẽ nhiều lần triệu tập các bên lên để làm rõ các tình tiết, chứng cứ trong vụ án. Do đó, bạn cần tham gia đầy đủ các hoạt động đó. Mặt khác, nếu bạn là người khởi kiện mà vắng mặt, rất có thể sẽ trở thành căn cứ để cho rằng bạn từ bỏ yêu cầu khởi kiện của mình.
3. Tự thu thập tài liệu chứng cứ
Nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự thuộc về các đương sự. Do đó, để chứng minh là người có quyền sử dụng đất hợp pháp, bạn cần cung cấp cho Tòa án những chứng cứ thể hiện bên còn lại có hành vi lấn chiếm đất. Ví dụ như các bản đồ địa chính, hồ sơ đất đai, biên bản giải quyết,… Tùy từng trường hợp khác nhau sẽ cần sử dụng các loại chứng cứ khác nhau, miễn sao phải hợp lý và đúng mục đích chứng minh.
TƯ VẤN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LẤN CHIẾM ĐẤT ĐAI, ĐÒI LẠI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI GIA LÂM
Từ thời điểm chuẩn bị khởi kiện và quá trình giải quyết tại các cơ quan có thẩm quyền, nếu không am hiểu quy định pháp luật và không có kinh nghiệm thì rất khó để vụ việc tranh chấp lấn chiếm đất đai tại Gia Lâm được giải quyết trong thời hạn và đảm bảo được quyền lợi chính đáng của bạn. Đơn cử, trong khâu thụ lý vụ án, nếu việc sắp xếp, chuẩn bị hồ sơ không bài bản thì hoàn toàn có thể bị Tòa án trả lại Đơn khởi kiện. Hoặc trường hợp cần thu thập các tài liệu tại các cơ quan nhà nước để giao nộp cho Tòa án mà không nhận được sự hợp tác hoặc phản hồi, dẫn đến việc bạn không thể chứng minh được quyền lợi của mình.
Do đó, để đảm bảo an toàn về mặt pháp lý, giải quyết tranh chấp một cách nhanh hơn, hiệu quả hơn, hãy liên hệ tới chúng tôi để chúng tôi có thể đồng hành cùng bạn trong quá trình đòi lại quyền và lợi ích chính đáng của bản thân, gia đình.
Hotline/zalo: 0865504269
Email: [email protected]