Luật sư GenZ

Luật sư GenZ Gen Z khởi đầu kinh doanh nên cần có một Luật sư hỗ trợ bước đầu.

🔴BÁN ĐẤT KIỆT PHAN VĂN ĐỊNH.Do dư không dùng, gia đình cần bán đất Kiệt Phan Văn Định.Giá: 3.###Liên hệ Thiện 0905691091...
16/07/2024

🔴BÁN ĐẤT KIỆT PHAN VĂN ĐỊNH.
Do dư không dùng, gia đình cần bán đất Kiệt Phan Văn Định.
Giá: 3.###
Liên hệ Thiện 0905691091 để ép giá thoải mái

🎈Trang Tư vấn pháp luật vẫn luôn tích cực hỗ trợ mọi người các vấn đề pháp lý. Cũng nhận giải quyết triệt để nhiều vấn đ...
15/07/2024

🎈Trang Tư vấn pháp luật vẫn luôn tích cực hỗ trợ mọi người các vấn đề pháp lý. Cũng nhận giải quyết triệt để nhiều vấn đề: ly hôn, thừa kế , tranh chấp đất đai,....
Với khối lượng khách hàng nhắn tin liên tục, admin xin lỗi vì phản hồi chậm trễ do thiếu nhân sự.
Mọi người vui lòng nhắn zalo Thiện 0905691091 để hỗ trợ kịp thời.
Trân trọng cảm ơn.
🍀

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án về phần hình phạt vì áp dụng tình tiết giảm nhẹ về tích cực hợp tác theo điểm t, kho...
22/04/2024

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án về phần hình phạt vì áp dụng tình tiết giảm nhẹ về tích cực hợp tác theo điểm t, khoản 1 Điều 51 không đúng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tội danh: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, Võ Văn Chí H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời khai của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: khoảng thời gian từ 01 giờ 25 phút đến 01 giờ 30 phút ngày 29/10/2021, tại 03 phòng thuộc tầng 2 của quán K&K, Võ Văn Chí H có hành vi tổ chức cho 21 người sử dụng trái phép chất ma tuý. Với hành vi nêu trên, Tòa án nhân dân thành phố Huế đã kết án Võ Văn Chí H tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2]. Về quyết định hình phạt: Toà án cấp sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo Võ Văn Chí H từ đó quyết định hình phạt không tương xứng, cụ thể:

[2.1]. Về áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Toà án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo H hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không đúng pháp luật, bởi lẽ theo nội dung hướng dẫn tại khoản 8 Điều 2 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thì “Hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm” được hiểu là sau khi phạm tội, người phạm tội đã chủ động cung cấp những tin tức, tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa cho việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm liên quan đến tội phạm mà họ bị buộc tội (như: chỉ đúng nơi cất giấu vật chứng quan trọng giúp cơ quan chức năng thu hồi được vật chứng đó; khai báo và chỉ đúng nơi đồng phạm khác đang bỏ trốn; khai báo về tội phạm và người phạm tội mới liên quan đến tội phạm mà họ bị buộc tội…). Ngoài ra, theo hướng dẫn tại mục 3 phần I Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của Toà án nhân dân tối cao thì tình tiết “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” được hiểu là trường hợp người phạm tội có những hành vi, lời khai thể hiện sự hợp tác tích cực với cơ quan có trách nhiệm trong việc nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án, giúp các cơ quan này phát hiện thêm tội phạm mới hoặc đồng phạm mới. Trong vụ án này, bị cáo Võ Văn Chí H cùng với 21 bị cáo khác phạm tội bị bắt quả tang; quá trình giải quyết vụ án, H chỉ khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của H phù hợp với lời khai của các đồng phạm khác tại các “Biên bản bắt người phạm tội quả tang” về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Bị cáo không có lời khai hay cung cấp tài liệu, chứng cứ nào có nội dung thể hiện sự tích cực hợp tác với cơ quan chức năng trong việc nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án, giúp các cơ quan này phát hiện thêm tội phạm mới hoặc đồng phạm mới, cũng như phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm.

[2.2]. Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo Võ Văn Chí H là rất nghiêm trọng, vì động cơ vụ lợi bị cáo đã cải tạo 03 phòng thuộc tầng 2 tại quán K&K làm nơi tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma tuý, ngoài phương thức mời chào trực tiếp bị cáo còn sử dụng mạng xã hội để giới thiệu cho những người có nhu cầu đến quán sử dụng trái phép chất ma tuý. Về nhân thân, trong thời gian chờ xét xử về hành vi “Cố ý gây thương tích”, bị cáo tiếp tục phạm tội trong vụ án này, chuỗi hành vi của bị cáo thể hiện ý thức coi thường pháp luật, không thể hiện bị cáo ăn năn, hối cải. Việc bị cáo thành khẩn khai báo trong vụ án phạm tội quả tang nếu xem xét giảm nhẹ cũng chỉ có mức độ. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án đủ nghiêm khắc mới đảm bảo được tính răn đe, cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung. Toà án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “ăn năn hối cải” quy định tại điểm s và tình tiết “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự không đúng, từ đó nhận định bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định

[Nguồn: Quyết định GĐT số 06/2023/HS-GĐT ngày 07/4/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG]

🌟TỔNG HỢP VĂN BẢN HƯỚNG DẪN NGHIỆP VỤ VÀ GIẢI ĐÁP VƯỚNG MẮC TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ, TỐ TỤNG DÂN SỰ DO TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI...
12/04/2024

🌟TỔNG HỢP VĂN BẢN HƯỚNG DẪN NGHIỆP VỤ VÀ GIẢI ĐÁP VƯỚNG MẮC TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ, TỐ TỤNG DÂN SỰ DO TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO BAN HÀNH.
Tôi yêu luật

🫢VKSND TỐI CAO GIẢI ĐÁP MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌCCác tranh chấp liên quan đến hợp đồng đặt cọc xảy ra khá phổ bi...
11/04/2024

🫢VKSND TỐI CAO GIẢI ĐÁP MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC

Các tranh chấp liên quan đến hợp đồng đặt cọc xảy ra khá phổ biến hiện nay, việc xác định hợp đồng đặt cọc có hiệu lực hay vô hiệu, các vấn đề trả cọc, phạt cọc...còn nhiều vướng mắc và chưa được áp dụng thống nhất trong thực tiễn xét xử.

Tại Văn bản số 1083/VKSTC-V9 VKSND Tối cao ban hành ngày 26/03/2024 đã giải đáp một số vướng mắc liên quan đến hợp đồng đặt cọc.

Cùng tham khảo những giải đáp dưới đây👇👇👇

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu nhưng không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu ...
09/04/2024

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu nhưng không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nên Tòa án không giải quyết

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Năm 2016, bà Võ Thị Tr (là con bà Nguyễn Thị M; cháu ngoại cụ Nguyễn C1 và cụ Nguyễn Thị L) khởi kiện yêu cầu Tòa án huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BI 210308 (do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 21/3/2013 đứng tên ông Nguyễn Minh C đối với thửa đất số 140, tờ bản đồ số 96, tọa lạc tại số 10, đường N, tổ 26, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng); công nhận quyền sử dụng đất cùng tài sản gắn liền với đất tại thửa đất trên là tài sản chung của các đồng thừa kế và chia thừa kế đối với nhà, đất nêu trên. Tại thời điểm vụ án này đang được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm thì ngày 10/9/2018, ông Nguyễn Minh C, bà Huỳnh Thị H đã chuyển nhượng nhà, đất trên cho ông Nguyễn A và bà Nguyễn Thị Lệ Th. Như vậy, tài sản mà các bên thực hiện giao dịch chuyển nhượng là đối tượng tranh chấp trong vụ án mà Tòa án đang giải quyết. Do đó, giao dịch này là trái pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 188 Luật đất đai và Điều 123 Bộ luật dân sự.

[2] Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2018/DS-ST ngày 26/4/2018 của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng và Bản án dân sự phúc thẩm số 69/2019/DS-PT ngày 19/6/2019 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đều xác định di chúc của bà Nguyễn Thị Ch là không hợp pháp nên chia di sản của vợ chồng cụ Nguyễn C1, cụ Nguyễn Thị L cho các đồng thừa kế theo quy dịnh của pháp luật. Như vậy, Di chúc của bà Nguyễn Thị Ch lập năm 2004 bị vô hiệu, nhưng nhà, đất trên đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C. Trên cơ sở đó, ông C, bà H chuyển nhượng cho ông A, bà Th và ông A, bà Th đã được chỉnh lý biến động sang tên. Tuy nhiên, ở giao dịch thứ nhất (di chúc để lại tài sản cho ông C) bị vô hiệu, nhưng giao dịch thứ hai (giao dịch chuyển nhượng) cũng không hợp pháp (do vi phạm điều cấm của pháp luật). Vì vậy, ông A, bà Th không được xem là người thứ ba ngay tình theo quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật dân sự. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông C, bà H với ông A, bà Th lập ngày 10/9/2018 vô hiệu là có căn cứ.

Nội dung kháng nghị cho rằng, ông Ánh, bà Thu là người thứ ba ngay tình trong giao dịch chuyển nhượng nêu trên nên giao dịch này không bị vô hiệu. Nhận định này là không chính xác vì đã không đánh giá tính hợp pháp của giao dịch thứ hai.

[3] Trong vụ án này, nguyên đơn bà Võ Thị Tr không yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, bị đơn không có yêu cầu phản tố. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông A, bà Th mới nêu vấn đề giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Xét thấy, yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu không phải là “yêu cầu kép” như nhận định tại kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, vì nó không trùng khớp với phạm vi giải quyết từ yêu cầu của nguyên đơn. Đây là yêu cầu độc lập nhưng ông A, bà Th không thực hiện đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên vô hiệu, không giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là có căn cứ, phù hợp với Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cho rằng, Toà án cấp phúc thẩm biết bà Hoàng Thị Thu Th1 hiện đang thuê nhà của ông A, bà Th và đã giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Đặng Văn C2, bà Nguyễn Thị Hồng A1 giữ nhưng Toà án cấp phúc thẩm không huỷ án để giao hồ sơ về Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại để đưa bà Th1, ông C2, bà A1 vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, thì thấy:

Tại mục [3] đã phân tích, nguyên đơn bà Võ Thị Tr không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nên việc hiện nay ai đang quản lý nhà, đất nêu trên không cần đặt ra để xem xét trong vụ án này.

Ông Nguyễn Đặng Văn C2 và bà Nguyễn Thị Hồng A1 cho rằng, ông bà cho ông A, bà Th vay tiền và ông A, bà Th đã giao cho ông bà giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đối với nhà, đất tại nhà số 10 đường N, nhưng Toà án cấp phúc thẩm tuyên bố giao dịch chuyển nhượng giữa ông C, bà H với ông A, bà Th vô hiệu là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông bà. Xét thấy, việc thế chấp tài sản phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới phát sinh hiệu lực. Đồng thời, đây là một quan hệ pháp luật khác, do đó, ông C2, bà A1 có thể khởi kiện thành vụ án dân sự khác để được xem xét, giải quyết khi có yêu cầu. Vì vậy, việc đưa ông C2, bà A1 và bà Th1 vào tham gia tố tụng là không cần thiết nên nội dung kháng nghị này là không có cơ sở.

[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm xét thấy Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 14/QĐ-VKS-DS ngày 31/01/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng là không có căn cứ nên không chấp nhận.

[Nguồn: Quyết định GĐT số 14/2023/DS-GĐT ngày 20/3/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG]

Xem file đính kèm toàn văn Quyết định: https://fdvn.vn/nghien-cuu-luat-moi-ngay-yeu-cau-tuyen-hop-dong-vo-hieu-nhung-khong-yeu-cau-giai-

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Sửa án về Hợp đồng đặt cọc do xác định lỗi của các bên không đúngNHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN[1]. T...
17/03/2024

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Sửa án về Hợp đồng đặt cọc do xác định lỗi của các bên không đúng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Thửa đất số 864, tờ bản đồ số 6, diện tích 108m 2 tại thôn H2, xã Tân Liên, huyện H, tỉnh Quảng Trị do Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 832874 ngày 24/7/2013 đứng tên bà Dương Thị L2, ông Nguyễn Thanh S. Ngày 13/8/2020 được chỉnh lý sang tên ông Dương Phúc Ánh, bà Trần Thị Thúy L2. Ngày 30/8/2021 chỉnh lý sang tên ông Võ Ngọc V, bà Lê Thị H.

[2]. Ngày 16/8/2021, giữa ông V và bà T ký Hợp đồng đặt cọc (bút lục 04) với nội dung: ông V đồng ý bán cho bà T nhà và đất tại thửa đất số 864, tờ bản đồ số 6, diện tích 108m 2 tọa lạc thôn H2, xã Tân L3, huyện Hương Hóa, tỉnh Quảng Trị với giá 1.160.000.000 đồng, bà T đặt cọc trước số tiền 160.000.000 đồng, số tiền còn lại 1.000.000.000 đồng sau khi công chứng bà T sẽ trả hết. Thời gian đặt cọc là 10 ngày, kể từ ngày 16/8/2021 đến hết ngày 26/8/2021.

[3]. Như vậy, các bên thỏa thuận thời hạn đặt cọc để chuyển nhượng thửa đất số 864, tờ bản đồ số 06 là 10 ngày (từ 16/8/2021 đến 26/8/2021). Tuy nhiên, đến ngày 30/8/2021 (quá 04 ngày so với thời hạn đặt cọc), vợ chồng ông V mới được đăng ký biến động chỉnh lý sang tên đối với thửa đất nêu trên vì tại thời điểm đặt cọc (16/8/2021) nhà, đất trên chưa đứng tên vợ chồng ông V. Quá trình giải quyết vụ án, bà T cho rằng các file ghi âm ngày 26/8/20221, ngày 01/9/2021 và ngày 30/9/2021 đều là các file ghi âm gọi điện cho ông V và người môi giới là ông Lê Triệu H1 để yêu cầu thực hiện hợp đồng. Điều này thể hiện, khi hết thời hạn hợp đồng, bản thân bà T vẫn chấp nhận và tiếp tục đề nghị thực hiện hợp đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm (bút lục 143), bà T cũng xác nhận khi hết thời hạn đặt cọc (26/8/2021), Bà không yêu cầu chấm dứt hợp đồng mà vẫn đồng ý gia hạn, nên ngày 06/9/2021, bà T vẫn đến Phòng công chứng số 02 để ký hợp đồng chuyển nhượng. Ngày 06/9/2021, các bên đều có mặt tại Phòng công chứng số 02 để ký hợp đồng chuyển nhượng nhưng bà T cho rằng ông V không cung cấp được giấy phép xây dựng nên bà T không đồng ý ký Hợp đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên, tại Biên bản xác minh ngày 19/11/2021, Ủy ban nhân dân xã Tân Liên xác định: “ngôi nhà 2 tầng được xây dựng vào năm 2013 … theo quy định của pháp luật, trường hợp này không thuộc đối tượng yêu cầu cấp giấy phép xây dựng” (bút lục 52). Như vậy, nguyên nhân dẫn đến hai bên không ký được hợp đồng chuyển nhượng là do lỗi của cả ông Vvà bà T, do đó căn cứ Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao buộc ông V trả lại tiền cọc cho bà T là phù hợp, đúng quy định của pháp luật nhưng: Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2022/DS-ST ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Trị lại buộc ông Vphải trả cho bà T số tiền đặt cọc 160.000.000 đồng và tiền phạt cọc 160.000.000 đồng là không đúng; Bản án dân sự phúc thẩm số 18/2023/DS-PT ngày 15/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T về việc buộc ông V phải trả lại cho bà T số tiền đặt cọc 160.000.000 đồng cũng không đúng.

[4]. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị số 53/QĐ-VKS-DS ngày 11/7/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, sửa toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 18/2023/DS-PT ngày 15/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

[5]. Về án phí: ông Võ Ngọc V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm

[Nguồn: Quyết định GĐT số 32/2023/DS-GĐT ngày 09/8/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG]

Xem file đính kèm toàn văn Quyết định tại: https://fdvn.vn/nghien-cuu-luat-moi-ngay-sua-an-ve-hop-dong-dat-coc-do-xac-dinh-loi-cua-cac-ben-khong-dung/
------------

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy quyết định công nhận thỏa thuận của đương sự vì Tòa án chấp nhận thỏa thuận chuyển nhượ...
17/03/2024

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy quyết định công nhận thỏa thuận của đương sự vì Tòa án chấp nhận thỏa thuận chuyển nhượng tài sản đang bị kê biên phong tỏa

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Ngày 07/6/2021, tại Văn phòng Công chứng Đ, vợ chồng ông Nguyễn Duy H1, bà Phan Thị T ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 58, tờ bản đồ số 7, địa chỉ xã Ô, huyện E, tỉnh Đắk Lắk cho vợ chồng ông Đỗ Thế L, bà Nguyễn Thị H. Khi thửa đất số 58 chưa được chỉnh lý, biến động chuyển quyền sử dụng sang tên bà H, ông L thì ngày 18/6/2021 trên cơ sở đơn đề nghị của bà Phùng Thị Ph, Tòa án nhân dân huyện E ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 08/2021/QĐ-BPKCTT phong tỏa quyền sử dụng 02 thửa đất thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông H1, bà T (trong đó có thửa đất số 58 nêu trên). Mục 8 Phần IV Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao về giải đáp vướng mắc hướng dẫn:“Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, theo quy định của pháp luật thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Vì vậy, trường hợp nguyên đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ là thửa đất thuộc quyền sử dụng của bị đơn, thì giải quyết như sau: … Nếu đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, hợp đồng đã được công chứng, nhưng chưa đăng ký vào sổ địa chính, thì thửa đất đó vẫn thuộc quyền sử dụng của bị đơn, nên Tòa án được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự”. Như vậy, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 58 ngày 07/6/2021 giữa vợ chồng ông H1, bà T với vợ chồng bà H, ông L được công chứng, nhưng vợ chồng bà H1, ông L chưa được đăng ký vào sổ địa chính nên thửa đất số 58 vẫn thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông H1, bà T; do đó, ngày 18/6/2021 Tòa án nhân dân huyện E ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, phong tỏa thửa đất số 58 theo yêu cầu của bà Ph là đúng quy định của pháp luật.

[2] Ngày 21/10/2021, bà H, ông L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà T và các đồng thừa kế của ông H1 (do ông H1 đã chết) gồm bà Trần Thị Th, chị Nguyễn Thị Lý Quỳnh Tr, chị Nguyễn Thị Lý Thu Th2, anh Nguyễn Duy Lý Đức H2, thực hiện hoàn tất các thủ tục để bà H, ông L được Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chỉnh lý, biến động quyền sử dụng thửa đất số 58 đứng tên bà H, ông L. Trên cơ sở thỏa thuận của các đương sự tại Biên bản hòa giải thành ngày 13/9/2022 thì ngày 21/9/2022 Tòa án nhân dân huyện E ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 67/2022/QĐST-DS công nhận hiệu lực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 58 ngày 07/6/2021 giữa vợ chồng ông H1, bà T với vợ chồng bà H, ông L là không đúng vì vi phạm điểm b khoản 2 Điều 205 của Bộ luật Tố tụng dân sự (quyền sử dụng thửa đất số 58 đã bị phong tỏa, cấm chuyển dịch), ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của bà Phùng Thị Ph; lẽ ra phải đưa vụ án ra xét xử và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, ông L mới đúng. Vì các lẽ trên, Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 10/2023/KN-DS ngày 03/7/2023 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng là có cơ sở nên được Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận, do đó;

[Nguồn: Quyết định GĐT số 31/2023/DS-GĐT ngày 09/8/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG]

Xem file đính kèm toàn văn Quyết định tại: https://fdvn.vn/nghien-cuu-luat-moi-ngay-huy-quyet-dinh-cong-nhan-thoa-thuan-cua-duong-su-vi-toa-an-chap-nhan-thoa-thuan-chuyen-nhuong-tai-san-dang-bi-ke-bien-phong-toa/
------------

Thông báo rút kinh nghiệm Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn
12/03/2024

Thông báo rút kinh nghiệm Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án phúc thẩm vì Văn phòng đăng kí đất đai hủy bỏ điều chỉnh biến động trong GCNQSDĐ và ...
12/03/2024

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án phúc thẩm vì Văn phòng đăng kí đất đai hủy bỏ điều chỉnh biến động trong GCNQSDĐ và tài sản gắn liền với đất khi có dấu hiệu tẩu tán tài sản là đúng quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Trên cơ sở hồ sơ sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chị Nguyễn Thị Thanh N nộp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã KT, tỉnh Long An, ngày 16/7/2019, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã KT có ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 875304 do Ủy ban nhân dân thị xã KT cấp ngày 11/5/2015 cho ông Đỗ Hữu T1, cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Lê Thanh H và bà Nguyễn Thị Bích P ngày 01/6/2015 nội dung: “Tặng cho QSDĐ cho bà Nguyễn Thị Thanh N thửa đất số 2937, DT: 100m2 theo HĐTC số 3238 ngày 01/7/2019 do Văn phòng công chứng Bùi Thị Đ chứng nhận và cấp đổi GCN điều chỉnh thành số thửa III, TBĐ số 9. DT còn lại: 0m2 ”.

[2] Ngày 17/7/2019, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã KT nhận được Quyết định số 14/2019/QĐ-BPKCTT ngày 17/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời với nội dung: Phong tỏa tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 2937, diện tích 100m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 875304 do Ủy ban nhân dân thị xã KT cấp ngày 11/5/2015 cho ông Đỗ Hữu 1, cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Lê Thanh H và bà Nguyễn Thị Bích P ngày 01/6/2015. Do đó, cùng ngày 17/7/2019, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã KT đã ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 875304 nội dung: “Hủy nội dung điều chỉnh ngày 16/7/2019 của Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã KT do thửa đất số 2937 đã bị phong tỏa tài sản theo quyết định số 14/2019/QĐ-BPKCTT”; đồng thời chuyển lại hồ sơ cho Trung tâm hành chính công để hoàn trả cho chị N.

[3] Ngày 08/9/2017 ông H, bà P có vay của ông Lê Văn Đ1, bà Nguyễn Thị P1 số tiền 327.000.000 đồng. Do không được trả nợ, ngày 31/10/2018, ông Đ1, bà P1 đã khởi kiện yêu cầu ông H, bà P thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản trên, ngày 17/7/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Long An ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 14/2019/QĐ-BPKCTT để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án và thi hành án. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 201/2019/DS[1]PT ngày 12/8/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Long An quyết định buộc ông H, bà P phải liên đới trả cho ông Đ1, bà P1 số tiền 387.000.000 đồng. Theo Công văn số 238/CV-CCTHA ngày 05/7/2022, Chi cục thi hành án dân sự thị xã KT, tỉnh Long An cho biết: ngày 24/3/2021, Chi cục thi hành án dân sự thị xã KT đã tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của ông H, bà P thì ông H, bà P không có tài sản nào khác ngoài quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 2937, Tờ bản đồ số 7, diện tích 100m2 tại cụm dân cư Làng nghề, Phường 3, thị xã KT. Do đó, ngày 01/7/2019 ông H, bà P tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất nêu trên cho con gái (chị N) là có dấu hiệu tẩu tán tài sản, không phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Theo quy định tại khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 thì việc tặng cho quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Theo quy định tại khoản 3 Điều 120 Luật Nhà ở năm 2014 thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi thực hiện cấp giấy chứng nhận cho bên nhận tặng cho nhà ở cùng với nhận chuyển quyền sử dụng đất ở hợp pháp có nhà ở đó thì đồng thời công nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất cho bên nhận quyền sở hữu nhà ở. Do đó, chị N cho rằng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông H, bà P với chị N đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hợp đồng tặng cho được công chứng ngày 01/7/2019 là không đúng.

[5] Theo quy định tại khoản 7 Điều 95 Luật Đất đai năm 2013; khoản 1, 2 Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định thi hành chi tiết một số điều của Luật Đất đai thì việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính; sau khi nhận hồ sơ, Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thực hiện thì gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế và thông báo thu nghĩa vụ tài chính; xác nhận nội dung biến động vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao giấy chứng nhận cho người sử dụng đất. Do đó, việc chỉnh lý biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 16/7/2019 chỉ là một bước trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính về đất đai; Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã KT chưa chuyển thông tin sang cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính và chưa chỉnh lý biến động trong sổ địa chính.

[6] Như vậy, có cơ sở xác định hồ sơ đăng ký sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà của chị N chưa được chỉnh lý biến động trong sổ địa chính, nên chị N chưa được xác lập quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã KT thực hiện hành vi hủy bỏ điều chỉnh biến động trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 17/7/2019 là thực hiện theo Quyết định số 14/2019/QĐ-BPKCTT ngày 17/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An là đúng theo quy định của pháp luật.

[7] Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N về việc tuyên bố hành vi hành chính “Hủy nội dung điều chỉnh ngày 16/7/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã KT do thửa đất số 2937 đã bị phong tỏa tài sản theo Quyết định số 14/2019/QĐ-BPKCTT của Tòa án nhân dân tỉnh Long An” ngày 17/7/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã KT trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 875304 của Ủy ban nhân dân thị xã KT là có căn cứ; Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N là không đúng pháp luật

[Nguồn: Quyết định GĐT 04/2023/HC-GĐT ngày 12/4/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO]

🌟🌟🌟TỔNG HỢP 70 ÁN LỆ ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ Ở VIỆT NAMCăn cứ Điều 1 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP quy định: "Án lệ là những lập...
12/03/2024

🌟🌟🌟TỔNG HỢP 70 ÁN LỆ ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ Ở VIỆT NAM
Căn cứ Điều 1 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP quy định: "Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử."
Việc áp dụng án lệ vừa có ý nghĩa giải quyết một vụ án cụ thể vừa thiết lập ra một tiền lệ để xử những vụ án tương tự sau này.
👉 Cùng điểm danh 70 án lệ đã được công bố ở Việt Nam ngay nhé!
Nguồn: Tôi Yêu Luật

Address

Da Nang
550000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật sư GenZ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Luật sư GenZ:

Share